Điều Trị và Chẩn đoán bệnh tuyến giáp bằng Iốt (iodine) Đồng Vị Phóng Xạ - Pdf 18

Điều Trị và Chẩn đoán bệnh tuyến giáp bằng I-
ốt (iodine) Đồng Vị Phóng Xạ Tuyến giáp trạng nằm ở cổ, phía trước, dưới yết hầu. Nhiệm vụ chính
của tuyến giáp trạng là sản xuất nội tiết tố tuyến giáp: Triiodothyronine (T3)
và Tetraiodothyronine (T4) còn gọi là Thyroxine. Những nội tiết tố này ảnh
hưởng tơí nhiều chức năng trong cơ thể như làm cơ thể nảy nở và tăng
trưởng, dinh dưỡng, dậy thì (puberty), chức năng cơ quan, sinh sản, và nhiệt
độ cơ thể. Tuyến giáp trạng tổng hợp T3 và T4 lấy từ chất iot (Iodine) trong
máu. Tổng hợp và tiết (secretion) nội tiết tố tuyến giáp điều chỉnh bởi TSH
(thyroid stimulating hormone) do tuyến yên phía trước (anterior pituitary)
sản xuất. Điều tiết nội tiết tố tuyến yên phần lớn tùy thuộc mức T3 và T4.
Khi chất T3 và T4 tăng cao trong máu sẽ giảm sản xuất TSH từ tuyến yên,
do đó giảm nội tiết tố (T3 và T4) trong máu.

Bệnh Tuyến Giáp
Tuyến Giáp Hoạt Động Quá Mức hay Cường Giáp (Hyperthyroidism)
Nội tiết tố tuyến giáp tăng cao quá mức trong máu.
Triệu chứng thần kinh căng thẳng (nervousness), mệt mỏi, giảm cân,
và không chịu được nóng (heat intolerance).
Gây nên bởi:
-Bệnh Grave’s
-Bướu giáp
-Viêm giáp
Tuyến Giáp hoạt động thấp hay Nhược giáp (Hypothyroidism):
Mức nội tiết tố tuyến giáp hạ thấp trong máu.
Triệu chứng:
-Thiếu chất i-ốt trong thức ăn
-Viêm giáp kinh niên do bệnh miễn dịch (autoimmune origin) tự
động.

phân tách đồng vị phóng xạ Uranium 235
Có năng lượng gamma là 363 keV và
Năng lượng 0.606 MeV hạt beta
Thời gian bán hủy là 8 ngày
Cả 2 đồng vị phóng xạ I 123 và I 131 đều ở dạng muối sodium để
trong viên nang hay dạng nước (capsule or liquid).
I 131 vừa có năng lượng gamma cao, thời gian bán hủy dài, đồng thơì
còn sinh ra những hạt beta, cho nên gần I 131 có nguy cơ ảnh hưởng tơí sức
khoẻ đặc biệt ung thư tuyến giáp.
Chẩn đóan Bệnh tuyến giáp
Đo độ phóng xạ của i-ốt hấp thu vào tuyến giáp (thyroid uptake):
-đo chức năng tuyến giáp bằng cách xác định tỉ số phóng xạ i-ốt thu
nhận trong tuyến giáp
-Tỷ lệ phóng xạ I-ốt thu nhận giữ trong tuyến giáp trạng trực tiếp đo
biến dưỡng của tuyến giáp dể xác định tuyến giáp hiện trong tình trạng hoạt
động quá mức, hoạt động yếu hay viêm giáp.
-Giá trị độ phóng xạ thu nhận trong tuyến giáp có dùng để tính liều
lượng phóng xạ i-ốt cần dùng để điều trị bệnh giáp trạng hoạt động quá mức
hay ung thư giáp trạng.
Chụp hình tuyến giáp (thyroid imaging) hay nhấp nháy đồ (scanning)
tuyến giáp Dùng để ước lượng kích thước, hình dáng và vị trí tuyến giáp.
Có thể dùng I 131 hay I 123 để đo độ phóng xạ thu nhận trong tuyến
giáp hay chup hình giáp. Nhưng các bác sĩ phần lớn thích dùng I 123 hơn để
giảm nhiễm xạ.
Chú ý: Technetium 99m cũng có thể dùng để chụp hình tuyến giáp.

Phương Pháp Đo Độ Phóng Xạ thu nhận trong tuyến giáp
Cần coi lại tiểu sử thuốc men của bệnh nhân để tránh phản ứng tương
tác của thuốc bệnh nhân đang dùng và i-ốt phóng xạ.
Cần phải biết tiểu sử nếu trước đây bệnh nhân đã dùng những chất cản

Nhược giáp và cao hơn 35%: Cường giáp (cần phối hợp với các xét nghiệm
khác)
Những nguyên nhân ảnh hưởng:
tăng thu nhận i-ốt trong tuyến giáp:
Tăng thu nhận i-ốt vào tuyến giáp do thiếu chất i-ốt, phụ nữ có thai,
uống thuốc lithium, tăng cao nội tiết tố sau khi đàn áp nội tiết tố tuyến giáp.
Giảm thu nhận i-ốt vào tuyến giáp: trong trường hợp suy thận, hay suy
tim mãn tính trầm trọng, uống nhiều chất i-ốt cũng như dùng những chất cản
quang chứa i-ốt hay thuốc men có i-ốt.
Chụp Hình Tuyến Giáp
Chụp hình tuyến giáp thường được làm song song với xét nghiệm đo
tỷ lệ thu nhận phóng xạ i-ốt vào tuyến giáp.
Có thể dùng một trong 3 đồng vị phóng xạ: I 123, I 131, hay
Technetium 99m.
Chỉ định chụp hình tuyến giáp:
- Để xác định kích thước, chức năng và vị trí tuyến giáp.
- Để định bệnh bướu cục trong tuyến giáp.
- Để phân biệt viêm giáp cấp tính với chảy máu trong tuyến giáp
trạng.
Phương thức:
Liều lượng bình thường:
Uống một viên thuốc I 123 (300-400 µCi)
Uống một viên thuốc I 131 (30-50 µCi)
Tiêm tĩnh mạch Tc 99m (5-10 mCi)
Chụp hình bằng máy quét (scanner) với ống chuẩn trực (pin-hole
collimator).
Giải thích kết quả:
Chức năng cao: vùng thu nhận thuốc phóng xạ cao
Không có chức năng hay vùng lạnh là những vùng không có phóng xạ
(cold region): nguy cơ ung thư ác tính cao.

Bệnh nhân tri cường giáp không cần nhập viện vì liều phóng xạ vào
khoảng 5 tới 29 mCi.
Trước khi cho bệnh nhân uống chất phóng xạ i-ốt, bệnh nhân, y tá phụ
trách và phòng cô lập phải được chuẩn bị để giảm sự ô nhiễm phóng xạ I
131 tới mức tối thiểu hầu tránh nhiễm xạ không cần thiết cho những người
chung quanh.
Sửa soạn cho bệnh nhân
Cần thông báo cho bệnh nhân biết y tá sẽ phải làm những gì cho bệnh
nhân và sự hợp tác của bệnh nhân là cần thiết.
Những điều lệ cần thiết cho thân nhân biết được dán trước cửa.
Trẻ em và phụ nữ có thai không được vào thăm bệnh nhân.
Bệnh nhân nằm trong phòng cô lập cho tơí khi nào độ phóng xạ được
coi là an toàn.
Phần lớn đồng vị phóng xạ i-ốt sẽ được bài tiết qua đường tiểu. Mỗi
lần đi tiểu xong thì bệnh nhân cần dội nước 3-4 lần để cho chất phóng xạ trôi
đi và loãng độ phóng xạ.
Bệnh nhân phải nhịn đói trước khi uống đồng vị phóng xạ i-ốt.
Sửa soạn phòng cô lập
Nguồn nhiễm phóng xạ từ i-ốt trong không khí và độ phóng xạ trong
nước tiểu, mồ hôi hay nước miếng. Cần dùng mảnh plastic đặt trên sàn,
trong phòng, sàn và mặt bàn để dễ tẩy phóng xạ. Nên dùng nệm plastic.
Sau khi cho bệnh nhân uống i-ốt phóng xạ, phải để bảng “Coi Chừng
Chất Phóng Xạ” trước cửa phòng cô lập.
Chỉ thị cho nhân viên bệnh viện
Tất cả mọi người coí sóc bệnh nhân cần đeo phim (badges) để đo độ
nhiễm xạ.
Nhân viên bệnh viện có thai không được coi sóc bệnh nhân.
Khi vào phòng bệnh nhân thì mỗi nhân viên đều phải xỏ giầy giấy phủ
chiếc giầy và đeo găng tay trước khi vào phòng bệnh nhân (tất nhiên trước
khi ra khỏi phòng bệnh nhân phải tháo giầy giấy và găng tay để vào cái bao

lượng ở 3 mét cách xa bệnh nhân là 150 mR/một giờ. 24 giờ sau suất lượng
cách 3 mét là 50mR/một giờ. Vậy còn bao nhiêu mCi I 131 còn lại trong cơ
thể bệnh nhân? Bệnh nhân có thể ra khỏi phòng cô lập?

Bệnh nhân còn phải nằm trong phòng cô lập.
Hướng dẫn bệnh nhân ngoại chẩn sau khi uống đồng vị phóng xạ hay
bệnh nhân rời bệnh viện
Sau khi điều trị bằng đồng vị phóng xạ iot bệnh nhân có thể về nhà,
nhưng tránh không được gần gũi vơí người xung quanh trong năm ba ngày
và không tiếp xúc gần trẻ em hay đàn bà có thai trong 7 ngày.
Dùng nhà vệ sinh riêng và phải xối nước nhiều lần sau khi dùng xong.
Tắm rửa mỗi ngày và phải rửa tay nhiều lần.
Uống nhiều nước.
Dùng dụng cụ để ăn (dùng một lần rồi bỏ) hay dùng riêng rẽ, không
chung đụng vơí những người khác.
Ngủ riêng, không chung đụng với chồng vợ. Có thể bắt tay bạn bè.
Giặt khăn trải giường, khăn mặt, hay quần áo ở nhà, ngày một lần,
riêng rẽ.
Không cho con bú.
Tránh có thai một năm sau khi điều trị. Phải bảo đảm không có thai
trước khi dùng đồng vị phóng xạ.
Những lời khuyên đặc biệt về điều trị đồng vị phóng xạ
Những dụng cụ dò tìm phóng xạ ở phi trường hay những công sở rất
nhạy cảm với mức phóng xạ trong người bệnh nhân cho đến 3 tháng sau khi
điều trị với I 131.
Nếu bệnh nhân cần phải du lịch ngay sau khi điều trị đồng vị phóng
xạ i-ốt thì nên mang theo giấy chứng nhận của bác sĩ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status