Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, một hình thái ý thức xã hội, tồn tại
lâu đời trong lịch sử xã hội loài người. Nếu chỉ kể những tôn giáo lớn đang
tồn tại hiện nay, tôn giáo đã có lịch sử tồn tại hàng nghìn năm (Phật giáo 25
năm, Ki Tô giáo 2500 năm, Hồi giáo khoảng 1300 năm). Nếu kể cả những
hình thức tôn giáo sơ khai nguyên thuỷ thì có thể nói (mà không thể cường
điệu rằng) tôn giáo tồn tại gần xuyên suốt lịch sử xã hội loài ngưòi. Tôn giáo
là một bộ phận quan trọng trong đời sống con người, là một bộ phận trong
nền văn hoá của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Thời gian gần đây, tình hình tôn giáo trên thế giới có những diễn biến
phức tạp, đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được lý giải trên cơ sở khoa học.
Do đó, tôn giáo đang trở thành một trong những vấn đề thu hút được sự quan
tâm của nhiều nhà khoa học cũng như những nhà hoạt động thực tiễn.
Nước ta là nước có nhiều tôn giáo và trong lĩnh vực tôn giáo, bên
cạnh những yếu tố tích cực cũng có nhiều yếu tố tiêu cực; bên cạnh những
nội dung, nghi thức lành mạnh, cũng còn không ít những điều mê tín,
những hủ tục. Sự hiểu biết về tôn giáo và những hình thức tôn giáo cụ thể
chưa đầy đủ.
Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề về tôn giáo trên thế giới cũng
như ở Việt Nam là việc làm cần thiết, nhằm ứng xử cho đúng đắn với các
hình thức tôn giáo khác nhau ở cấp độ Nhà nước hay trong quần chúng nhân
dân. Các chính sách tôn giáo với những chủ trương, biện pháp của Đảng và
Nhà nước cần được xác định và bổ sung cho đầy đủ, nhằm hạn chế sự lợi
dụng tôn giáo vào những mục đích khác nhau: kinh tế, chính trị, xã hội…
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
1
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÔN GIÁO
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
2
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
+) Có giáo lý phản ánh một thế gii quan rõ rệt
+) Có người sáng lập, có đấng tối cao với một thiên thần
+) Có tổ chức
+) Có lễ thức phức tạp, định kỳ, kiêng cự.
I.2. Sự ra đời của các tôn giáo
Khi nào tôn giáo xuất hiện? Có phải rằng khi con người xuất hiện trên
Trái Đất thì đồng thời tôn giáo cũng ra đời hay không? Thực tế lịch sử đã cho
thấy đã có thời kỳ lịch sử hàng triệu năm con ngưòi tồn tại và phát triển chưa hề
có tôn giáo. Tôn giáo chỉ xuất hiện và tồn tại khi trình độ nhận thức và trình độ
xã hội của con người đến một mức độ nhất định. Trình độ của con người tương
ứng với trình độ sức sản xuất phát triển. Các nhà khoa học cho rằng trong suốt
thời kỳ Bầy người nguyên thuỷ con người chưa hề biết đến tôn giáo. Đến cuối
thời Bầy người đã có một hiện tượng đáng lưu ý đó là ở người Neamđertan đã
xuất hiện mộ táng chứng tỏ con người đã biết chôn đồng loại.
Trước hiện tượng mộ táng có nhiều kiến giải khác nhau. Có người cho rằng
đó là thể hiện một ý tưởng tâm linh nào đó về thế giới bên kia. Một số người khác
lai cho rằng đó chỉ xuất phát từ tình thương hoặc sợ hãi, sự thối rữa…
Nhưng các nhà khoa học đã thống nhất tới hậu kỳ đá cũ khi xuất hiện
người Hômesapien gắn với sự ra đời của Công xã thị tộc thì tôn giáo xuất hiện với
bằng chứng là trong nhiều mộ táng của người chết có chôn theo lương thực, trang
sức, đồ dùng, vũ khí….thể hiện sự bất tử về linh hồn, về thế giới bên kia.
II. Bản chất - cơ cấu, nguồn gốc, tính chất và các bước phát triển của tôn
giáo.
II.1. Bản chất - cơ cấu
- Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội, là "thế
giới quan lộn ngược" trong giải quyết mối quan hệ giữa con người và siêu
nhiên, cái hiện thực với cái hư ảo, cái trần tục với cái thiêng liêng, cái trần
lập với con người và trước những sức mạnh xã hội người ta không tìm ra lối
thoát, trong thực tế phải tìm lối thoát bằng ảo tưởng, bằng tôn giáo, đặc biệt
trong các xã hội có giai cấp đối kháng. Ngoài sự bất lực của con người trước
những hiện tượng xã hội diễn ra tự phát đa dạng, còn có sự áp bức bóc lột giai
cấp mà trong đó quần chúng nhân dân lao động là người phải gánh chịu
những bất công. Những người bị bóc lột không những bị bóc lột về kinh tế, lệ
thuộc về chính trị mà còn bị nô dịch về tinh thần, tình trạng sống thiếu thốn,
lao động cưỡng bức, o ép về tinh thần buộc họ phải tìm lối thoát nhưng không
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
4
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
thể tìm được lối thoát trong cuộc sống trần gian nên đành phải hy vọng vào
một cuộc sống nơi thiên đường, thế giới bên kia.
II.2.3. Nguồn gốc tâm lý
Lòng biết ơn những người khám phá, tấn công vào cường quyền cũng
đẻ ra tôn giáo. Từ lòng biết ơn, ngưỡng mộ đó, họ tôn sùng những người có
tính cách siêu phàm, xuất chúng có công đức to lớn.
II.3. Tính chất
- Tính chất lịch sử.
- Tính chất quần chúng: biểu hiện ở số lượng các tín đồ tôn giáo chiếm
tỉ lệ cao trong dân số thế giới và tôn giáo đáp ứng nhu cầu tinh thần của một
bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân lao động.
- Tính chất chính trị.
II.4. Các bước phát triển của tôn giáo (các hình thức tôn giáo trong lịch sử)
II.4.1. Các hình thức tôn giáo sơ khai trong thời kì xã hội nguyên thuỷ
Đây là dạng tôn giáo thứ nhất gắn với xã hội thị tộc, bộ lạc. Bao gồm:
• Bái phật giáo (thờ vật)
• Tôtem giáo (thờ vật tổ)
• Ma thuật giáo (phù thuỷ)
• Vật linh giáo
những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
- Tôn giáo là “thuốc phiện" của nhân dân - chức năng đền bù hư ảo. Tôn
giáo cho rằng con người khổ đau là một tất yếu và con người muốn tho¸t khổ thì
không có phương thuốc nào mà chỉ bằng cách là thực hiện những hiện những lời
dạy của tôn giáo. Trong lúc con người muốn giải thoát mình khỏi nỗi khổ trần
thế thì tôn giáo vẽ ra cho mình một tương lai sáng sủa nơi thiên đường, vẽ ra một
hy vọng trong thất vọng. Mỗi khi con người gặp sự bất hạnh, trắc trở, khổ đau
trong trần thế tôn giáo lại khuyên họ có thần thánh phù hộ.
- Tính chất tiêu cực của tôn giáo được thể hiện đặc biệt rõ nét khi có sự
sóng đôi của chính trị và tôn giáo. Khi tôn giáo bị lợi dụng trở thành công cụ
của giai cấp thống trị.
- Mỗi một tôn giáo có một hệ thống giáo lý, lễ nghi riêng và tôn giáo
nào cũng có niềm tự hào riêng. Các tín đồ của tôn giáo đều coi tôn giáo của
mình là ưu việt, chính thống, độc tôn. Chính tính cứng rắn, bảo thủ của các
tôn giáo và niềm tự kiêu của các tín đồ tôn giáo là nguồn gốc cho các xung
đột sắc tộc kéo theo xung đột chính trị.
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
6
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
- Bất kì một giáo lý, nội dung tôn giáo nào dù là tôn giáo sơ khai hay
phát triển, tôn giáo với tư cách là một hệ thống đều bao hàm trong nó nhiều
yếu tố bảo thủ, những sức ì không theo kịp thời đại, nhiều điều mê tín, nhiều
yếu tố ý thức hệ đối lập với chủ nghĩa khoa học, ít nhiều mang tính hoang
tưởng cho nên nó kìm hãm sự phát triển của khoa học, chống đối khoa học ở
một số thời kì lịch sử.
III.2. Tác động tích cực:
- Sự ra đời của mỗi tôn giáo là sự phản ứng, chống đối lại cái trật tự xã
hội đương thời, nó thể hiện khát vọng được giải phóng của quần chúng bị áp
bức. Bởi vì trong các cuộc đấu tranh của quần chúng, tôn giáo cũng là công
cụ, là phương tiện.
của mỗi tôn giáo ở từng khu vực, ở từng quốc gia trong các thời kỳ lịch sử
khác nhau cũng không như nhau.
Việc đánh giá thực trạng tôn giáo trên thế giới hiện nay đang còn nhiều ý
kiến khác nhau, nhưng tựu trung lại có mấy cách đánh giá sau đây:
- Tôn giáo đang khủng hoảng và suy tàn
- Tôn giáo ở Tây Âu suy tàn nhưng tôn giáo ở các nước, các châu lục
còn lại đang có xu hướng phát riển.
- Tín ngưỡng, tôn giáo đang phục hồi và phát triển mạnh mẽ ở nhiều
quốc gia, châu lục.
IV.1.2. Nguyên nhân:
- Những mâu thuẫn về kinh tế, chính trị, xã hội ngày càng gay gắt
- Khủng hoảng niềm tin về mô hình xã hội tương lai.
- Những hậu quả tiêu cực của sự phát triển kinh tế - xã hội và công nghệ mới.
IV.2. Các xu hướng biến động của tôn giáo.
IV.2.1. Toàn cầu hoá tôn giáo
Hiện nay hầu hết các tôn giáo đều mong muốn trong thiên niên kỷ mới
sẽ là thời đại của tôn giáo mình (trừ tôn giáo dân tộc)
Vấn đề toàn cầu hoá tôn giáo chủ yếu phụ thuộc vào chính sách cường
quốc muốn gắn nhân quyền với tự do tôn giáo cho từng dân tộc, từng tộc
người. Muốn thông qua đó, can thiệp nội bộ các nước, bắt các nước đi theo
con đường chúng vạch sẵn.Ngay trong tổ chức của một tôn giáo đã không hợp
nhất được với nhau, phân rẽ thành nhiều phái kể cả chính trị và tôn giáo: Bảo
thủ cực đoan, Ôn hoà cải cách, Tiến bộ
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
8
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
IV.2.2. Đa dạng hoá tôn giáo
* Nguyên nhân: Dân trí toàn cầu nâng cao, không gian xã hội của từng cá
nhân không bị bó hẹp trong một quốc gia, khu vực mà đã mở rộng toàn cầu.
Do đó con người không chỉ tiếp xúc với một hoặc một số tôn giáo truyền
9
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
- Có thể dựng lên từ một nhu cầu trần tục và gắn vào đó một
hương thơm tôn giáo tạo thành một phong trào.
* Đặc điểm của hình thức tôn giáo mới:
- Mang tính toàn cầu, giáo phái lớn có chi nhánh ở nhiều nước, chỉ đạo
sát sao, tín đồ cuồng tín, nội dung giáo lý nửa tục, nửa thiêng. Nhiều giáo phái
tham gia tích cực vào kinh tế, văn hoá.
- Lan toả rất nhanh, thu hút tín đồ của các tôn giáo có sẵn, phá vỡ tổ
chức của các tôn giáo, gây mất ổn định cho nhiều nước, thậm chí lũng đoạn
chính phủ bằng cách thành lập các chính Đảng, chính trị, quân đội.
IV.2.3. Thế tục hoá tôn giáo:
Là một xu thế nổi trội trong giai đoạn hiện nay, biểu hiện đa dạng
phong phú, đó là:
- Nhập thể của các tôn giáo bằng cách tham gia vào các hoạt động trần
tục, phi tôn giáo như: tham gia hoạt động xã hội, giáo dục, y tế,….
- Vai trò tôn giáo giảm sút ở các nước công nghiệp phát triển, nhất là
cư dân thành thị và thanh niên.
- Con người dường như ra khỏi những tôn giáo nhất định nhưng trở lại
với một tâm thức bàng bạc. Qua những lời cầu khấn, những cuộc hành hương
mà không hẳn theo giáo lý, giáo luật đã quy định sẵn hoặc có khi lại gửi niềm
tin vào nội dung, hành vi vào các tôn giáo khác.
- Không nhưng dẫn đến việc thể chế chế tục hoá của các nhà nước, làm
mềm dẻo các thể chế thoả hiệp, thay quốc giáo bằng việc để cho các tôn giáo
khác cùng hoạt động với việc đăng ký với nhà nước. Đồng thời hướng các
hoạt động tôn giáo gắn với hoạt động thế tục.
IV.2.4. Dân tộc hoá tôn giáo
- Nguyên nhân: Có một số cường quốc có thế lực kinh tế, quân sự,….
Có âm mưu toàn cầu hoá, muốn áp đặt nền văn hoá của mình trong đó có tôn
giáo đối với các dân tộc, các quốc gia trên thế giới. Đứng trước xu thế toàn
tán về chính trị, kinh tế – xã hội của bán đảo A Rập đến thế kỷ VI đã nảy sinh
nhu cầu cấp bách phải được mở mang, thống nhất để tạo điều kiện phát triển.
Trước tình hình đó, Mohamed (570 - 632) - một thanh niên thông minh, là
thương nhân ở Mecca - đã nhạy bén phát hiện ra nhu cầu này và khởi xướng
một đức tin mới với tham vọng thống nhất tất cả các bộ lạc, thị tộc trên đất A
Rập thành một khối với một tôn giáo duy nhất và một vị thần tối cao duy
nhất.
Theo truyền thuyết, khi Mohamed vừa ra khỏi bụng mẹ đã đứng bật dậy
và kêu to: “Ta đây là Mohamed ”, và ngay từ nhỏ Mohamed đã ham mê
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
11
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
nghiên cứu tôn giáo. Tương truyền khi 40 tuổi (năm 610) Mohamed đã từng
một mình vào trong hang nhỏ ở núi Hira, ngoại thành Mecca, tu luyện, trầm
ngâm suy tưởng
Trong một đêm, Thánh Ala – chân chủ đã cử
thiên sứ Gabriel đến truyền đạt Thần dụ và lần
đầu tiên “Khải thị ” cho ông chân lý của Kinh
Coran, khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh”.
Từ đó về sau, ông tự xưng là tiếp thụ “sứ
mệnh” của chân chủ trao cho, bắt đầu truyền
bá đạo Islam. Đầu tiên, ông bí mật truyền
giáo, một số bạn bè thân thiết trở thành những
tín đồ sớm nhất, về sau dần dần chuyển sang
công khai, đối tượng truyền đạo mở rộng tới
quần chúng Mecca nói chung.
Mohamed - người sáng lập Đạo Hồi
Trong thời kỳ đầu truyền giáo, Mohamed đã khuyên bảo mọi người từ
bỏ việc sùng bái đa thần và sùng bái thờ tượng thần, đồng thời cũng từ bỏ
thuyết tam vị nhất thể của Đạo Cơ Đốc, yêu cầu mọi người thờ Thánh Ala độc
Bức hoạ về cảnh Mi’raj – sự lên trời của Mohamed
I.2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO HỒI
I.2.1. Vấn đề kế vị Mohamed
Sau khi Mohamed chết, cộng đồng Hồi giáo có nguy cơ tan rã. Các vị thân
cận của Giáo chủ Mohamed hiểu rõ nguy cơ này nên quyết tâm bảo vệ cộng
đồng Hồi giáo, tức là thay thế Mohamed để lãnh đạo tôn giáo và chính trị.
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
13
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
Người đầu tiên kế vị Mohamed là Abu Bahr, một cha vợ của Mohamed,
chức vụ lãnh đạo đó được gọi là Calife. Abu Bahr tại vị được 2 năm (632 -
634) đã duy trì được nền thống nhất của cộng đồng Hồi giáo.
Kế đó là Omar, một cha vợ khác của Mohamed, ông cầm quyền được 10
năm (634 - 644), Omar dốc toàn lực vào các cuộc bành trướng Hồi giáo bằng
đoàn Thánh quân chinh phục các nước: Xiri, Ba Tư, Ai Cập,…làm chủ vùng
Địa Trung Hải. Sau đó, Omar bị một tên nô lệ ám sát chết.
Lên thay Omar là Othman, một người con rể của Mohamed, nhưng Othman
bất tài làm nội bộ Hồi giáo chia rẽ trầm trọng, các phe nhóm được lập ra để
chống đối nhau. Năm 656, Othman bị một đám đông vây và giết chết.
Ali lên thay, Ali cũng là một con rể của Mohamed. Tình trạng phân tán
trong nội bộ vẫn tiếp tục. Đến năm 661, Ali bị ám sát chết. Người lên thay là
Muawiya – sáng lập ra triều đại Omayyade.
I.2.2. Triều đại Omayyade (661 - 750)
Trung tâm của thế giới Hồi giáo lúc bấy giờ di chuyển đến Damas, thủ đô
của Xiri. Các Calife của triều đại này chế tạo được nhiều khí giới lợi hại nên đã
tấn công vào đế quốc Bigiăngtin, chinh phục Bắc Phi, tấn công nước Pháp và
Tây Ban Nha. Phía Châu Á, quân Hồi giáo xâm lăng Ấn Độ, đe doạ Trung
Quốc, tiến về lưu vực sông Ấn Hằng ở phía Nam. Đến năm 750, một cuộc nổi
loạn xảy ra ở Damas lật đổ triều đại Omeyyade, thay thế bằng triều đại Abbas.
Châu Âu văn minh hùng mạnh chia cắt đế quốc Hồi giáo thành manh mún, để
sau cùng chịu sự ảnh hưởng về kinh tế và chính trị giữa hai khối thế lực hùng
mạnh nhất trên thế giới là: Tư bản và Cộng sản.
Các nước Hồi giáo dần dần tranh đấu giành lại độc lập. Nhưng từ đó, ý
thức quốc gia trở nên mạnh mẽ, làm cho các nước Hồi giáo đánh chiếm lẫn
nhau, tạo nên những Chi phái Hồi giáo thù nghịch nhau.
Một điều quan trọng là giáo lý Hồi giáo không còn thích hợp nữa, nhất là
giáo lý này đưa con người đến cảnh chết chóc luôn luôn, trái với bản tính
thiên lương của con người, nên làm cho con người dần dần chán ghét. Vì thế
Đạo Hồi phải đứng trước một sự lựa chọn: hoặc phải thích nghi hoặc phải bị
biến đổi. Song không như đạo Kito và đạo Phật, Đạo Hồi vẫn giữ được bản
sắc tôn giáo đặc trưng, cố gắng tồn tại trong một thế giới đã có nhiều chuyển
biến với những thế hệ tín đồ phát triển hơn trước về khả năng nhận thức.
I.3. GIÁO LÝ ĐẠO HỒI
Phần chính của giáo lý Hồi Giáo xuất phát từ giáo lý của Do Thái Giáo
và của Thiên Chúa Giáo, nhưng Hồi giáo có quan niệm độc thần cứng rắn hơn
và khắt khe hơn, nhưng lại đơn giản hơn hai tôn giáo kia.
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
15
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
Đối với tín đồ Hồi giáo, chỉ có một Đức Chúa Ala và Mohamed là sứ
giả do Chúa sai xuống. Tín đồ Hồi giáo là phải phục tùng Chúa một cách
hoàn toàn và tuyệt đối, không thắc mắc, không bàn cãi.
Quan niệm độc Thần cứng rắn kể
trên đã đưa tín đồ Hồi giáo đến chỗ
lẫn lộn giữa đạo và đời. Theo họ, tất
cả mọi vật ở trên trời hay trên mặt
đất đều là của Chúa và do Chúa tạo
nên. Bàn tay Chúa hiện hữu khắp
mọi nơi và Thánh hiện hoá tất cả. Tất
Tín đồ Đạo Hồi phải sống chay tịnh trong tháng Ramadan (tháng 9 Hồi
lịch). Chay tịnh nghĩa là phải nhịn ăn, nhịn uống, không quan hệ nam nữ,
không hút thuốc… từ khi Mặt Trời mọc tới khi Mặt Trời lặn. Còn ban đêm
ngoài việc cầu nguyện thì được ăn uống, sinh hoạt thoải mái. Riêng trong đời
sống hàng ngày, tín đồ Hồi giáo không uống rượu và ăn thịt lợn, bò, chó.
I.3.4. Bố thí
Tín đồ Đạo Hồi phải thực hành bố thí vì quan niệm giàu có là tội ác nên
phải chia bớt cho người khác để giảm tội ở kiếp sau. Bổn phận bố thí về sau
trở thành một thứ thuế thân gọi là Kakat.
I.3.5. Hành hương đến Mecca một lần trong đời:
Mecca ở nước Ả Rập Xêút là Thánh địa của Hồi giáo. Mỗi tín đồ Hồi
giáo, không phân biệt nam hay nữ, phải có ít nhất một lần trong đời, đi hành
hương tới Thánh địa Mecca, trừ trường hợp bệnh hoạn, nghèo khó, hay đường
sá nguy hiểm. Các nô lệ, các phụ nữ không chồng đưa đi thì được miễn.
Thánh địa Mecca - Ả Rập Xêút
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
17
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
Trước khi đi hành hương, tín đồ phải giữ mình cho thanh tịnh, phải cạo
râu, cắt móng tay, mặc Ihram, đi dép, không được sát sinh, săn bắn, chặt nhổ
cây cỏ. Ai đã hành hương đến Mecca trở về đều được cộng đồng kính trọng,
trở thành người cao quý. Vì thế được hành hương đến Mecca là mơ ước của
mọi tín đồ Đạo Hồi.
Giáo lý Đạo Hồi cho phép đàn ông được lấy 4 vợ. Người phụ nữ bị coi
thường như một loại hàng hoá. Ngoài ra, tôn giáo này còn có một số luật lệ hà
khắc mà cho đến nay, nhiều nước Hồi giáo vẫn sử dụng để điều hành nhà
nước và xã hội. Ví dụ kẻ ăn cắp bị chặt tay, kẻ giết người phải đền mạng, phụ
nữ ngoại tình hoặc có con ngoài giá thú bị ném đá đến chết.
Toàn bộ kinh sách Đạo Hồi tập trung trong kinh Coran. Kinh Coran
được coi là “cuốn sách vĩ đại nhất, thông thái nhất”, là cuốn sách “vạn năng”
Đạo Hồi có 5 đức tin cơ bản, do đó hệ thống lễ nghi, ngày lễ cũng đều
xoay quanh 5 đức tin này. Ngày lễ quan trọng nhất của Đạo Hồi là lễ Hiến tế
(Kurban-bairam); thứ hai là 3 ngày cuối cùng tháng Ramadan trong đó đêm
ngày thứ 27 là quan trọng nhất vì đó là ngày được Đạo Hồi cho rằng nguyên
bản kinh Coran được thiên thần mang từ ngai vàng của Ala xuống tầng trời
thứ 7 gần mặt đất nhất, từ tầng trời này nội dung kinh Coran được truyền đạt
cho Mohamed trong 22 năm liền. Ngoài ra còn có các ngày lễ kỉ niệm sinh
nhật Mohamed, lễ mãn chay, lễ về trời…Nổi bật là ngày lễ Sesay Vasoa kỉ
niệm Husein (cháu nội Mohamed đã chết khi tranh giành quyền bính). Trong
ngày lễ này có những tín đồ tự hành xác bằng kiếm, đao nhọn trên cơ thể để
trần trước sự cổ vũ cuồng nhiệt của đám đông. Họ cho rằng sự đau đớn càng
tăng thì càng chứng tỏ được lòng nhiệt thành của mình.
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
19
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
Hành hương về Thánh địa Mecca
Mùa hành hương của tín đồ Hồi giáo bắt đầu vào tháng 12 hàng năm theo
lịch Hồi giáo. Đầu tiên Mecca được coi là đất thánh duy nhất nhưng sau đó
Medina và Jêrusalem cũng được coi là thánh địa. Nhưng Mecca vẫn là trung tâm
hành hương chủ yếu vì ở đây Mohamed với tư cách là người sáng lập tôn giáo
mới, là người đầu tiên tới viếng đền Kasba và hôn lên viên đá đen trong đền, mở
đầu cho tục hành hương. Từ hàng chục thế kỷ nay, dòng người hành hương đến
Mecca không bao giờ ngừng nghỉ với hi vọng được ở gần Thượng Đế, được Ala
che chở trong “ngày phán xử cuối cùng” sau khi đã hôn lên phiến đá đen.
I.4. CÁC CHI PHÁI CỦA HỒI GIÁO
Đặc tính đầu tiên và căn bản của Hồi giáo là sự liên hệ mật thiết đến độ
lẫn lộn giữa tôn giáo và chính trị, tức là giữa đạo và đời. Lý do là vì Thánh kinh
Coran chứa đựng lý thuyết tổ chức xã hội bao gồm cả tôn giáo và chính trị của
Cộng đồng Hồi giáo. Chính vì thế mà ngay sau khi Mohamed chết, sự chia rẽ
Ở Việt Nam, Đạo Hồi du nhập vào nước ta khoảng thế kỷ XII – XIII do
thương nhân người Malaixia thông qua con đường buôn bán và được cộng
đồng người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận đón nhận. Lịch sử hình thành
Đạo Hồi ở nước ta không gắn liền với chiến tranh mà bằng con đường hoà
bình, giao lưu kinh tế – văn hoá. Từ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, một bộ
phận người Chăm xuống vùng Châu Đốc – An Giang hình thành nên vùng
Hồi giáo lớn thứ hai của Việt Nam.
Đạo Hồi ở nước ta thực chất là tôn giáo của người Chăm, hiện nay có
trên 63 nghìn tín đồ. Đó là một cộng đồng tương đối thuần nhất, nhưng cũng
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
21
90% 95% 100%
80% 85%
Iran
Pakixtan
Ả Rập Xêút
Irắc
Angiêri
Xiri
Thổ Nhĩ Kỳ
Baren
Tuôcmênixtan
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
không hoàn toàn giống nhau. Ở vùng Ninh Thuận, Bình Thuận, người Chăm
Hồi giáo gọi là Chăm Bà Ni, họ theo Hồi giáo không chính thống, vì có sự
pha trộn tín ngưỡng Bàlamôn. Còn ở vùng An Giang, Thành phố Hồ Chí
minh, Đồng Nai và Tây Ninh, người Chăm theo Hồi giáo gọi là Chăm Islam,
họ theo Hồi giáo chính thống, có đi hành hương ở Mecca.
Hiện nay, với diễn biến phức tạp của Đạo Hồi trên thế giới, vì thế cần
đề phòng những ảnh hưởng xấu của nó đến Đạo Hồi ở nước ta. Ngoài ra, từ
đấu tranh nhưng đều thất bại. Vì vậy, họ trông chờ vào sự giúp đỡ của các lực
lượng siêu nhiên, trông vào sự cứu vớt của Đức Chúa. Vì vậy, “Kitô giáo là
tôn giáo của những người nô lệ, của những người tự do, của những người
nghèo khổ và những dân tộc không có quyền, bị nô dịch hay bị Roma hoá”.
Do người Do Thái là một dân tộc phương Đông nên mang những đặc
điểm tâm lý, văn hoá phương Đông nên đạo Kitô cũng mang màu sắc phương
Đông. Nhưng do sự thống trị của ngoại lai và sự tiếp xúc với các nền văn hoá
ngoại lai nên dần dần đạo Kitô có sự hoà trộn giữa phương đông và phương
tây, giữa tinh thần Hy Lạp, La Mã và tinh thần Do Thái nên nó là tôn giáo của
cả phương đông và phương tây. Có thể nói, đạo Kitô đời trong hoàn cảnh “thế
giới lúc đó, chính trị là của người La Mã, văn hoá là của Hy Lạp, xã hội là của
dị giáo, tôn giáo là của phương đông đã Hy Lạp hoá”.
Theo truyền thuyết Kitô giáo thì người sáng lập ra là Giêsu Cơrit,
con của Đức bà Đồng Trinh được Chúa Trời đầu thai vào người. Năm 30
tuổi ông bắt đầu đi truyền giáo sau khi đã tự nhận mình là Đấng Cứu Thế.
Những bài truyền đạo đó đáp ứng được nguyện vọng được giải phóng của
nhân dân lao động và người nô lệ nên nó được đông đảo quần chúng nhân
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
23
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Vấn đề tôn giáo trên thế giới và Việt Nam
dân tham gia. Ông bị chính quyền Roma kết tội và hành hình, đóng đinh
trên thánh giá chữ thập tại Jêrusalem.
Buổi đầu, Kitô giáo được đông đảo quần chúng tham gia nên lực
lượng thống trị truy nã, tàn sát tín đồ Kitô giáo rất dã man. Nhưng càng bị
sát hại, tín đồ càng tăng. Sau hai thế kỉ, thế lực Kitô giáo bành trướng khắp
Đế Quốc Roma. Nửa sau thế kỉ III, Đế Quốc Roma có hơn 1800 thánh
đường. Khi không thể thắng được thế lực của Kitô giáo thì giai cấp cầm
quyền bắt đầu quay sang thoả hiệp và dùng Kitô giáo làm vũ khí chính trị
cho mình.
Năm 325, C«ngxtantinốp trở thành trung tâm Kitô giáo lớn thứ hai ở
vào công việc tổ chức nhân sự và thẩm định giáo nghĩa của giáo hội. Do đó
giáo hội phụ thuộc vào chính quyền, chấm dứt cuộc chiến tranh giành quyền
lực giữa giáo hội và chính quyền nhưng đây lại là mầm mống của sự phân ly
trong giáo hội. Giáo hội phương đông được sự nâng đỡ của Hoàng Đế không
thừa nhận Giáo hoàng La Mã là thủ lĩnh tối cao. Sự mâu thuẫn lên đến đỉnh
cao dẫn đến cuộc “đại phân liệt của giáo hội” vào năm 1054. Đó là cuộc
tranh giành về giáo nghĩa và lễ nghi mà kì thực như một nhà sử học đã chỉ ra:
“ đằng sau sự phân biệt về vấn đề giáo nghĩa và lễ nghi còn ẩn tàng những
quan hệ trần tục sâu sắc, mối quan hệ quả là rất gay gắt”. Sự phân ly lần đầu
làm cho Kitô giáo chia thành hai nhánh lớn: Công giáo (hay Thiên Chúa
Giáo) ở phương tây và Chính Thống giáo ở phương đông.
Cuộc phân ly tôn giáo diễn ra lần thứ hai khi sang thế kỷ XV, do sự
phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hoá- tiền tệ ở Tây Âu, giai cấp tư sản
đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến và giáo hội được mở đầu bằng phong
trào văn hoá phục hưng và tiếp theo là phong trào cải cách tôn giáo diễn ra
rầm rộ ở nhiều nước Châu Âu. Mục tiêu của cuộc cải cách là nhằm thay đổi,
cải tổ giáo hội thiên chúa, xoá bỏ những tín điều hoang đường và những giáo
luật khắt khe. Kết quả của phong trào cải cách tôn giáo là sự phân ly lần thứ 2
của Kitô giáo. Xuất hiện một tôn giáo mới tách ra từ đạo thiên chúa là tân
giáo hay còn gọi là đạo tin lành. Ngay từ khi mới ra đời, đạo Tin lành lan
SV: Hà Quang Thích - Khoa Địa lí - Trường ĐHSP Hà Nội
25