MỞ ĐẦU
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng xung quanh chúng ta đề có nguyên nhân
nguồn gốc ra đời của nó. Bàn về nguồn gốc loài người, sự hình thành các chủng
tộc trên tgiới, có nhiều quan điểm trình bày về vấn đề này, như quan điểm của
CNDT, TG cho rằng sự xuất hiện của con người và các chủng tộc trên tgiới là
do một đấng tối cao siêu nhiên nào đó tạo nên. Quan điểm duy vật thời cổ đại
(Aritxtốt, Đêmôcrit) cho rằng con người được sinh ra từ loài vượn nước, vượn
đen; Vậy, đối với các nhà CNDV Mácxít, quan niệm như thế nào về vđề này?
Phần 1: NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI VÀ SỰ HÌNH THÀNH CTỘC
I. KHÁI NIỆM CHỦNG TỘC
Toàn thể nhân loại ngày nay bắt nguồn từ một loài duy nhất gọi là
Hômôsapiêng (người khôn ngoan). Dưới là các chủng tộc.
Trước đây, chủng tộc được coi là một tập hợp cá thể có những đặc điểm
hình thái tương đồng. Do vậy, người ta áp dụng phân loại chủng tộc theo nguyên
tắc loại hình, tức là căn cứ vào đặc điểm hình thái.
Sau này, từ những năm 50 của TK XX trở đi, nhờ những tri thức khoa học
mới, trên cơ sở kết quả nghiên cứu liên nghành, các nhà khoa học tiến hành
phân loại chủng tộc theo nguyên tắc loại hình gắn liền với khu vực địa lý. Đặc
điểm địa - sinh thái đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành chủng
tộc.(các nhà nhân học Xô-viết)
Từ đó người ta áp dụng phân loại chủng tộc theo đơn vị quần thể sinh
học. Đó là một tập hợp những cá thể cùng loài, sồng trong cùng một vùng địa lý,
có chung một quá trình phát sinh, phát triển; có chung những đặc điểm hình thái
-sinh lý và những đặc tính sinh thái nhất định.
Chủng tộc là một quần thể hay một tập hợp quần thể người được phân
biệt bởi những đặc điểm di truyền về hình thái - sinh lý, mà nguồn gốc và quá
trình hình thành liên quan đến một vùng địa vực nhất định.
- Là một khối cộng đồng người.
- Giống nhau về đặc điểm di truyền, về hìh thái sinh lý.
- Ở một ịa vực nhất định.
vật), trải qua quá trình tiến hoá lâu dài và liên tục dưới tác động của 2 quy luật:
Qluật tự nhiên (tiến hoá) và Qluật xhội(lao động và hoạt động xã hội).
Ăghen: lao động sáng tạo ra con người và là cơ sở tồn tại của loài người.
2. Quá trình hình thành con người
Ngày nay, khoa học đã chỉ ra quá trình tiến hoá liên tục của loài người trải
qua bốn giai đoạn trong tgian hàng triệu năm.
- Vượn người: Hômôbilis (người có khả năng).
- Ngườ tối cổ (người vượn): Pitêcantơrốp, có niên đại cách đây khoảng 40
đến 70 vạn năm.
- Người cổ: Nêanđéctan, có niên đại cáh đây khoảng 15 đến 10 vạn năm.
- Người hiện đại (người khôn ngoan): Hômôsapiêng, có niên đại cách
ngày nay khoảng 4 đến 5 vạn n (thuộc hậu kỳ đá cũ theo phân kỳ khảo cổ học).
3. Sự hình thành chủng tộc
Xquanh sự hìh thành các chủng tộc có nhiều ý kiến khác nhau, tập trung
vào 3 qđiểm cơ bản sau đây:
Một là, thuyết một trung tâm.
Đây là một quan điểm được các nhà khoa học LX đua ra và được đông
đảo giới khoa học thừa nhận.
Các chủng tộc là kết quả tiến hoá liên tục của một dòng người duy nhất,
tuần tự từ Hômôhabilis Pitêcantơrốp Nêanđéctan Hômôsapiêng. Từ
người Hômôsapiêng mà phân hoá thành các CT ngày nay.
Sự hình thành người khôn ngoan Hômôsapiêng chỉ xuất hiện trong một
khu vực nhất định của địa cầu, nơi có khí hậu ấm áp, thuận lợi cho cuộc sống
thủa hoang sơ. Sau đó, con người mới bánh trướng, thiên di đi các nơi khác của
các châu lục. Khu vực đầu tiên là nơi giáp ranh của 3 châu lục Á - Phi - Âu gồm
Tiểu Á, Nam Á và Đông Bắc Phi.
Hai là, thuyết đa trung tâm
Do các học giả phương Tây đề xướng như: Vây-đen-rích, Anđô, tôma
Hômôsapiêng.
Như vậy, đến nay vấn đề tgian hình thành và nguồn gốc các CT vẫn là
vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
B. NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH CÁC CHỦNG TỘC
Một là, do sự thích nghi với môi trường sống và đkiện tự nhiên.
- Trong thời kỳ hình thành CT, đây là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất
tạo thành các đặc trưng CT như: màu da, mí mắt, tóc (cấu tạo bên ngoài).
Vì Đkiện ngoại cảnh khác nhau các CT khác nhau về hình thài bên
ngoài. Từ một loài Hômôsapiêng duy nhất tiến hoá nên từ người cổ Nêanđectan,
laòi người ptriển ra khắp địa cầu. Từ đó, các quần thể ngưới sống ở các khu vực
địa lý khác nhau chịu sự tác động to lớn của ngoại cảnh để hình thành nên các
đặc điểm CT.
VD: Bấy giờ sức sx thấp, thiết chế xh chưa hoàn chỉnh nên con người
chưa đủ sức chống lại thiên nhiên nghiệt ngã. Để tồn tại con người đã tìm cách
thích nghi với tnhiên. Chẳng hạn, ánh sáng là yếu tố qtrọng tạo ra tố chất
Mêlanin. Chính nó qđịnh màu sắc của da, tóc sắc tố Mêlanin có knăng hấp thụ
tia tử ngoại của mặt trời để bvệ các cquan dưới da. Do đó, con người sống ở
vùng xích đạo ánh nắng chói chang thì lượng Mêlanin trong cơ thêr rất nhiều và
ở dạng hạt.
Tóc người CPhi thường xoăn tít làm thành chiếc mũ tnhiên để bvệ bộ não.
Cư dân vùng sa mạc mắt thường có mí lót để nhằm bvệ mắt trước các trận
gió cát ở sa mạc.
- Tuy nhiên, khi LLSX ptriển, ktế-xh ptriển thì đkiện tnhiên mất dần vai
trò và không còn là nguyên nhân chính tạo thành chủng tộc nữa.
Hai là, do sự di cư tự do hay phiêu dạt.
Từ địa bàn sinh tụ ban đầu, các nhóm người dần dần di rời đi các vùng
trên đât mới khắp các châu lục.
Hiện nay, trước xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá ?
Như vậy, sự hỗn chủng pha trộn dòng máu đã chỉ ra về sự thông nhất về
mặt nhân chủng của loài người trong tương lai. Đến một lúc nào đó con người
có thể đạt được sự thuần nhất về nhân chủng.
Phần 2: SỰ PHÂN LOẠI, PHÂN BỐ CÁC CHỦNG TỘC TRÊN
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
I. PHƯƠNG PHÁP PHÂN LOẠI CÁC CT TRÊN THẾ GIỚI
Phân loại CT lầ một vấn đè khó khăn, phức tạp. Để đảm bảo tính khách
quan và khoa học, sự phân loại phải phản ánh được mqhvề nguồn gốc của các Ct
trên cơ sở nghiên cứu hình thái học và khu vực địa lý cư trú.
* Phương pháp thứ nhất, căn cứ vào đặc điểm hình dáng bề ngoài cơ thể.
Đây là phương pháp cơ bản, quan trọng nhất. Phương pháp này chỉ rõ
phải dựa vào những đặc điểm bề ngoài của cơ thể để phân biệt CT. Đây là
những đặc điểm di truyền tương đối ổn định nhưng phức tạp. Mỗi đặc điểm đó
được quy định bởi nhiều gien nên mức độ biến dị chỉ giới hạn trong phạm vi
quần thể, sau mới đến loài. Nững đđiểm này chyếu hình thành trong gđoạn đầu
của CT do sự thích nghi của cơ thể với đkiện tự nhiên. Hình thái này có 12 tiêu
chí phân loại:
- Căn cứ vào màu sắc của da, mắt, tóc:
Nhân loại có nhiều màu da,mắt, tóc khác nhau. Người ta chia ra làm 3 loại
cỏ bản là: Màu tối, màu trung gian và màu sáng.
+ Da có 3 màu: da màu, nâu sẫm - hơi nâu, vàng- da trắng.
+ Mắt có các màu: đen, nâu, xám, hạt dẻ, vàng, xanh thẫm hay xanh lá
cây, xnh da trời.
+ Tóc có màu đen, nâu sẫm, tóc hung, vàng bạch kim.
Sở dĩ có sự khác nhau là vì do sắc tố Mêlanin quy định. Mêlanin ở dạng
đẳng và CT da màu hạ đẳng. Mỗi CT có nguồn gốc và thân phận khác nhau.
Mang màu sắc phân biệt CT và có tính chất miệt thị của giới tư sản,
thực dân đế quốc. Nó phục vụ cho chủ nghĩa phân biệt CT, cho sự bóc lột và nô
dịch các tộc người da màu.
* Phương pháp thứ ba, phân loại CT dựa trên nguyên tắc loại hình và địa lý
PP này do các nhà bác học Xô-viết đề xướng cuối những năm 50 của tk
XX. Đây là pp phân loại được các nhà nhân chủng học thừa nhận.
Năm 1957, nhà bác học LXô (cũ) Trêbốcxarốp trong công trình. Các
nguyên tắc cơ bản của sự phân loại CT. đã phân chia nhân loại thành 3 đại
chủng, dưới đại chủng là tiểu chủng, loại hình nhân chủng. Ba đại chủng là:
- Đại chủng xích đạo (Úc, Phi): Ôtstralôit - Nêgrôit.
- Đại chủng Âu (châu Âu, Trung Đông, Nam Á): Ơrôpôit.
- Đai chủng Á (Đông Bắc Á, ĐNA, thổ dân châu Mỹ): Môngôlôit.
Dưới 3 đại chủng là 7 tiểu chủng gồm 28 loại hình nhân chủng.
* Phương pháp thứ tư, xây dựng sự phân loại CT theo quan điểm quần thể
sinh học dựa trên tổng hợp những đặc điểm hình thái - sinh lý.
PP này do nhà nhân học nổi tiếng V. P. Alếchxaép khởi xướng từ thuyết
hai trung tâm. PP này được giới khoa học thừa nhận và sử dụng rộng rãi. Theo
đó, toàn thể nhân loại được chia ra làm 4 đại chủng (CT địa lý).
II. CÁC ĐẠI CHỦNG VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA CHÚNG TRÊN THẾ GIỚI
* Đại chủng Môngôlôit (đại chủng Á)
Đại chủng á có màu da từ vàng, sáng đến tối sẫm hay đồng hun (người da
đỏ). Lông trên mình ít ptriển; tóc đen thẳng, hơi cứng; mặt to bẹt (trừ người da
đỏ); mũi trung bình, sống mũi vừa phải; mắt có mí lót, mí trên rõ; đầu tròn hoặc
ngắn; răng cửa hình xẻng; chiều cao trung bình.
Đây là đại chủng có số người đông nhất, chiếm hơn 50% dsố tgiới
Khu vực ĐNA (bao gồm cả Bắc Đông Dương) từ lâu vốn được coi là một
trong những cái nôi của loài người. Các phát hiện khảo cổ cho thấy, ở vào hậu
kỳ đá cũ và đồ đá giữa, cách đây 1- 5 vạn năm, ĐNA đã là địa bàn cư trú của đại
chủng Ôtstralôit.
Tuy nhiên, vào thời kỳ này ở Bắc Đông Dương và nam TQ đã phát hiện
tiểu chủng của nam Môngôlôit (di chỉ Liễu Giang ở TQ, hangh Tam Pông ở
Lào).
Sang sơ kỳ đồ đá mới, cách đây 6-8 ngàn năm, qua các di chỉ ở Đồng
Phước, Làng Cườm, Hàm Rồng, Cà Mau (VN), Tam Hang (Lào), cho thấy ở
ĐNA đã cư trú nhiều loại hình nhân chủng khác nhau như: Ôtstralôit,
Mêlanêdiêng, Vêđôit (đại chủng úc), Anhđônêdiêng (đại chủng á). Loại hình
Anhđônêdiêng là kết quả hỗn chủng lâu dài giữa 2 đại chủng Ôtstralôit và
Môngôlôit kéo dài suốt thời kỳ đồ đá giữa và rõ nét ở thời kỳ đồ đá mới.
Cuối thời kỳ đồ đá mới chuyển sang thời đại đồng thau, loại hình
Anhđônêdiêng vừa tự động tiến hoá, vừa tiếp xúc hỗn chủng với người
Môngôlôit tạo thành loại hình nhân chủng Nam á.
Quá trình hình thành loại hình Anhđônêdiêng và Nam á thực chất là quá
trình Môngôlôit hoá ngày càng sâu đậm dân cư bản địa ĐNA. Thậm chí ngày
nay, quá trình này còn đang tiếp tục diễn ra.
Xét trên tổng thể, khi vực ĐNA, trong đó có VN là 1 khu vực thống nhất
trong đa dạng cả về nhân chủng, ngôn ngữ và văn hoá. Chính điều đó tạo thành
1 bức tranh ASEAN phong phú về màu sắc va giàu bản sắc khu vực.
B. SỰ PHÂN BỐ CHỦNG TỘC Ở VN NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT
Các tộc người VN đều thuộc 2 loại hình chủng tộc Anhđônêdiêng và Nam
Á của tiểu chủng nam Môngôlôit. Trong đó, loại hình Nam Á chiếm số lượng
lớn hơn. Các tộc người lớn như: Việt, Mường, Tày, Thái, Hmông, Dao, Khơme,
Chăm, đều thuộc loại hình Nam Á.
Ở nước ta loại hình chủng tộc Nam Á tập trung chủ yếu ở phía Bắc, càng
về phía Nam thì yếu tố Nam á càng nhạc dần. Sự phân bố các chủng tộc ở VN