BÀI 6. CÁC QUỐC GIA ẤN VÀ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG ẤN ĐỘ - Pdf 18

CHƯƠNG IV. ẤN ĐỘ THỜI PHONG KIẾN
BÀI 6. CÁC QUỐC GIA ẤN VÀ VĂN HOÁ
TRUYỀN THỐNG ẤN ĐỘ
Lãnh thổ Ấn Độ như hình "tam giác ngược", hai bên giáp biển, cạnh phía bắc nối
với châu Á, nhưng lại ngăn cách bởi dãy núi cao nhất thế giới – dãy Hi-ma-lay-a,
nên còn được gọi là tiểu lục địa Nam Á. Diện tích Ấn Độ khá rộng lớn, hơn 3 triệu
km
2
, gấp khoảng 10 lần Việt Nam và gần 15 lần nước Anh. Hai bờ biển lại có hai
dãy núi Đông Gát và Tây Gát, ngăn cách bởi cao nguyên Đê-can. Do toàn núi cao,
rừng rậm, rừng nguyên sinh nên lãnh thổ Ấn Độ bị ngăn cách nhau đáng kể giữa
Đông và Tây, Bắc và Nam. Chỉ có miền Bắc là bằng phẳng, bởi lưu vực của hai con
sông lớn. Xưa kia phải kể cả con sông ở Tây Bắc Ấn Độ, gọi là sông Ấn (Indus).
Nhờ nó mà có tên gọi Ấn Độ và lãnh thổ Ấn Độ (Hindustan), nơi khởi nguồn của
nền văn hoá Ấn Độ. Còn ở Đông Bắc bán đảo là lưu vực sông Hằng (Ganga) rộng
lớn và màu mỡ, là quê hương, nơi sinh trưởng nền văn hoá truyền thống của văn
minh Ấn Độ.
1. Thời kì các quốc gia đầu tiên
Khoảng 1500 năm trước Công nguyên, vùng sông Hằng ở Đông Bắc có điều kiện
thuận lợi, mưa thuận gió hoà nên đã tiến bộ vượt lên, có vai trò nổi trội trên cả miền
Bắc Ấn Độ.
Từ các bộ lạc trồng lúa và chăn nuôi trên bờ sông Hằng, bắt đầu hình thành một số
nhà nước đầu tiên, đứng đầu là các tiểu vương, thường xuyên phát triển kinh tế, xây
dựng đất nước lớn mạnh và tranh giành ảnh hưởng với nhau.
Đến khoảng 500 năm trước Công nguyên, nước Ma-ga-đa lớn mạnh hơn cả, được
nhiều nước khác tôn phục.
Người Hi Lạp đã từng đến thăm kinh đô của Ma-ga-đa là Pa-ta-li-pu-tra, kể lại: có phố dài
2km, trên bến dưới thuyền, dọc hữu ngạn sông Hằng. Vua mở đầu nước này, Bim-bi-sa-ra,
được coi là cùng thời và là bạn của Phật tổ.
Trải qua hơn 10 đời vua, đến thế kỉ III TCN, xuất hiện ông vua kiệt xuất nhất của
nước này và nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Ấn Độ - vua A-sô-ca.

(thần Bảo hộ), và Inđra (thần Sấm sét). Đó là những lực lượng siêu nhiên mà con người
sợ hãi. Người ta xây dựng nhiều ngôi đền bằng đá rất đồ sộ, hình chóp núi, là nơi ngự
trị của thần thánh và cũng tạc bằng đá, hoặc đúc bằng đồng rất nhiều pho tượng thần
thánh để thờ, với những phong cách nghệ thuật rất độc đáo.
Người Ấn Độ sớm có chữ viết, như chữ cổ vùng sông Ấn từ 3000 năm TCN, chữ
cổ vùng sông Hằng có thể có từ 1000 năm TCN. Ban đầu là kiểu chữ đơn sơ Brahmi,
được dùng để khắc trên cột A-sô-ca, rồi được nâng lên sáng tạo thành hệ chữ Phạn
(Sanskrit) được hoàn thiện từ thời A-sô-ca cả chữ viết và ngữ pháp. Ngôn ngữ Phạn
dùng phổ biến dưới thời Gúp-ta trong việc viết văn bia. Ngôn ngữ và văn tự phát triển
là điều kiện để chuyển tải, truyền bá văn học, văn hoá Ấn Độ.
Thời Gúp-ta đã có những công trình kiến trúc, điêu khắc, những tác phẩm văn học
tuyệt vời, làm nền cho văn hoá truyền thống Ấn Độ, có giá trị vĩnh cửu, xuyên suốt thời
gian lịch sử của loài người.
Người Ấn Độ đã mang văn hoá, đặc biệt là văn học truyền thống của mình, truyền
bá ra bên ngoài. Đông Nam Á là nơi chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất của văn hoá Ấn Độ.
BÀI 7. SỰ PHÁT TRIỂN LỊCH SỬ VÀ NỀN
VĂN HOÁ ĐA DẠNG CỦA ẤN ĐỘ
Ấn Độ thời Gúp-ta bắt đầu phát triển trên lưu vực sông Hằng ở phía bắc, làm cơ
sở hình thành nền văn hoá truyền thống Ấn Độ – văn hoá Hinđu. Nền văn hoá đó
tiếp tục phát triển ở thời Hậu Gúp-ta và Hác-sa (thế kỉ V – VII), được mở rộng
trên toàn lãnh thổ Ấn Độ, và tiếp tục duy trì ở các thời kì sau cùng với những nền
văn hoá khác.
1. Sự phát triển của lịch sử và văn hoá truyền thống trên toàn lãnh thổ Ấn Độ
Đến thế kỉ VII, Ấn Độ lại bị rơi vào tình trạng chia rẽ, phân tán. Nguyên nhân của
nó một phần là do chính quyền trung ương suy yếu; mặt khác do trải qua 6 – 7 thế kỉ,
trên đất nước rộng lớn và ngăn cách nhau, mỗi vùng lãnh thổ lại có những điều kiện và
sắc thái riêng của mình, nên đất nước chia thành hai miền, Bắc và Nam; mỗi miền lại
tách thành ba nước riêng, thành sáu nước, trong đó, nước Pa-la ở vùng Đông Bắc và
nước Pa-la-va ở miền Nam có vai trò nổi trội hơn.
Trong trường hợp này, sự phân liệt không nói lên tình trạng khủng hoảng, suy

đô Đê-li cũng đã trở thành "một trong những thành phố lớn nhất thế giới" ở thế kỉ XIV,
như một người đương thời nhận xét sau khi đi rất nhiều nơi.
Điều quan trọng ở đây là sự phát hiện nhau giữa hai nền văn minh đặc sắc là Ấn
Độ Hinđu giáo và A-rập Hồi giáo. Sự giao lưu văn hoá Đông – Tây cũng được thúc đẩy
hơn.
Điều không kém quan trọng nữa là thời Vương triều Hồi giáo Đê-li cũng là thời
mà các thương nhân Ấn Độ mang đạo Hồi đến một số nơi, một số nước ở Đông Nam
Á, nơi mà một vài cộng đồng nhỏ Hồi giáo A-rập mang đến từ trước đã được gia tăng
sâu đậm hơn với thương nhân Ấn Độ theo đạo Hồi.
3. Vương triều Mô-gôn
Thế kỉ XV, Vương triều Hồi giáo Đê-li bắt đầu suy yếu, thì cũng là lúc mà một bộ
phận dân Trung Á khác do thủ lĩnh – vua Ti-mua Leng chỉ huy, cũng theo đạo Hồi
nhưng lại tự nhận là dòng dõi Mông Cổ, bắt đầu tấn công Ấn Độ từ năm 1398. Tuy thế,
phải đến cháu nội của ông là Ba-bua mới thực hiện được việc đánh chiếm Đê-li, lập ra
một vương triều mới, gọi là Vương triều Mô-gôn (gốc Mông Cổ).
Vương triều Mô-gôn (1526 – 1707) là thời kì cuối cùng của chế độ phong kiến Ấn
Độ. Tuy là thời kì cuối cùng, nhưng không phải chỉ có khủng hoảng, suy thoái và tan
rã. Thật vậy, các vị vua thời kì đầu đã ra sức củng cố vương triều theo hướng "Ấn Độ
hoá" và xây dựng đất nước. Đến thời trị vì của vị vua thứ tư là A-cơ-ba, Ấn Độ đạt
được bước phát triển mới.
Trong nửa thế kỉ trị vì, A-cơ-ba (1556 – 1605) đã thi hành một số chính sách tích
cực:
- Xây dựng một chính quyền mạnh mẽ, dựa trên sự liên kết tầng lớp quý tộc,
không phân biệt nguồn gốc, số quan lại gốc Mông Cổ (thực ra là gốc Trung Á
Hồi giáo), gốc Ấn Độ Hồi giáo và cả gốc Ấn Độ Ấn giáo có tỉ lệ gần như bằng
nhau;
- Xây dựng khối hoà hợp dân tộc trên cơ sở hạn chế sự phân biệt sắc tộc, tôn
giáo và cũng có biện pháp hạn chế sự bóc lột quá đáng của chủ đất, quý tộc;
- Tiến hành đo đạc lại ruộng đất để định ra mức thuế đúng và hợp lí, thống
nhất các hệ thống cân đong và đo lường;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status