Thử nhìn lại lịch sử tiến trình sụp đổ Đông Âu
Vũ Huy Quang
I. Sự hình thành và biến dạng các nước Cộng sản Staliniêng Đông Âu
Trong thập niên 1930, guồng máy quan liêu Nga đã hoàn tất sự tuyên truyền, rằng
họ chính là những người thực hiện Cách mạng tháng Mười, và họ là những người
chính thức thừa kế Lenin. Lenin trở thành dấu ấn (icon), thành từ ngữ “Mácxit-
Leninít”, và tên tuổi được trở thành biểu tượng gần như tôn giáo. Thành phần phe
Nga hoàng chống họ, Bạch vệ quốc gia, đã tẩu tán ra hết khỏi nước, sát nhập với
Quốc xã phát xít châu Âu. Cuối thập niên 30, những người quốc gia bài Cộng còn
sót lại tại Ukraine, hướng về Nazi của Đức tìm sự nâng đỡ.
Những người Mensơvíc đã chạy sang Âu châu, sau đó họ tìm cách tập hợp quanh
cánh Tả Âu châu của các đảng Dân chủ xã hội, trong Đệ nhị Quốc tế lúc trước. Trí
thức chính trị Nga như khám phá ra được, là Phát xít Quốc xã mới là giải pháp để
thay thế cho chủ nghĩa Cộng sản, nhất là sau chính biến Tây Ban Nha (1927). Sự
thất bại sau này của chiến dịch Barbarossa (tiến chiếm Nga của Hitler, 1941) chỉ
làm cho giới chính trị thấy cũng không yên ổn với Đức, đành tìm phương hướng
mới: Nga phải chuyển sang tinh thần quốc gia. Rồi Stalin phát động tinh thần yêu
nước trong chiến tranh Đại ái quốc chống Đức. Lúc thế giới chống Phát xít, đa
phần thế giới quay sang thiện cảm với Nga trong việc bảo vệ bờ cõi.
Trong chế độ Krushchev và Brezhnev sau này, các chính quyền Cộng sản vẫn duy
trì hào quang Hồng quân thắng Phát xít. Trong các sản phẩm văn chương, đài kỷ
niệm, nghệ thuật, điện ảnh… sự tán dương chiến thắng Đức còn vượt xa sự tán
dương về thành công của Cách mạng tháng Mười, vượt xa về chiến thắng của
Hồng quân trong nội chiến.
Cho đến thập niên 1950, Bạch vệ không còn là mối quan tâm cạnh tranh về lòng
yêu nước với Nhà nước Nga nữa, không hẳn là các lãnh tụ Bạch vệ cũ đã già, hay
chết bớt, mà Nga đã trưng xong tấm bảng yêu nước tự hào cho dân chúng. Nay có
thêm tấm bảng mới, là Nga trở thành Siêu cường thứ nhì trên thế giới.
Rồi đến thời kỳ tính “phản cách mạng” (tháng Mười) lại nổi cộm trong thập niên
60, với việc nhà khoa học Andrei Sarakhov, cha đẻ bom H. tại Nga – nguyên là cố
vấn cho Krushchev về chính sách vũ khí nguyên tử. Ông này công khai cho rằng,
địa vị.
Thế là, vừa treo bảng hiệu “Macxít-Leninnit”, thể chế của Quan liêu Brezhnev vừa
thi hành chính sách “Quốc gia siêu cường”. Nhưng mục đích tối hậu hơn hết, chỉ là
được thân cận với Washington… trong chính sách đối ngoại toàn cầu.
Trong 18 năm ổn định của Brezhnev, có 2 biến cố ảnh hưởng lớn đến đường lối Xô
viết: Chiến tranh Việt Nam và tăng vọt giá dầu trên thế giới. Cuộc chiến vô luân
làm suy nhược đế quốc Mỹ, làm phân hóa tinh thần xã hội Mỹ, cho Nga một dịp
ung dung thực hiện chương trình chạy đua vũ khí nguyên tử. Áp lực chống chiến
tranh Việt Nam khắp nơi làm Wasinhton nới thả với Nga, vì trông mong Nga tiếp
tay cho việc bán đứng quân đội Bắc Việt, thành ra thích hợp cho Brezhnev thi hành
chính sách Giảm Căng. Sau khi mất Sài Gòn 1975, Washington lờ ngay thái độ
Giảm Căng, quay ra tăng áp lực với Kremlin, lăm le tiến tới Chiến tranh Lạnh thứ
Nhì.
Giá dầu tăng, tiếp cho chế độ Brezchnev việc nới thả phí tổn thi đua vũ khí, duy trì
mức điều hành giá tiêu thụ, nhập cảng nông phẩm và đầu tư kỹ nghệ nặng… cho
đến cuối thập niên 70. Dù vậy, không thể yên ổn mãi. Chính quyền Brezchnev phải
lựa chọn giữa chi tiêu sản xuất vũ khí ngày đòi hỏi tăng gia một bên, bên kia là
thực phẩm và đồ trang bị kỹ nghệ nặng. Vừa muốn tăng kinh phí quốc phòng, vừa
muốn duy trì phẩm lượng tiêu dùng trong nước, nên phải cắt giảm đầu tư sản xuất
kỹ nghệ… tạo ra sự ứ đọng nhân công. Nga Xô đứng trước tình trạng tiến thoái
lưỡng nan: Phải lựa chọn giữa chi phí quốc phòng, hay đáp ứng kinh tế tiêu dùng.
Điều này thành hiển nhiên với các thế hệ lãnh đạo kế tiếp, là Gorbachev, Yeltsin và
Gavril Popov, thế hệ giới lãnh đạo trưởng thành từ lý thuyết “chung sống hòa
bình”. Với họ, chiến dịch Barbasossa và đe dọa bom nguyên tử của Mỹ trong
Chiến tranh Lạnh không còn nữa. Họ xem Tây Đức và Hoa Kỳ như mẫu mực của
sự thịnh vượng.
Dư luận trí thức trong nước coi việc đảm bảo ổn định công nhân trong việc sản
xuất, là phải ổn định giá hàng trên thị trường. Muốn tăng phẩm chất thì kinh tế
cạnh tranh là
chuyện tất yếu (tiền công khác nhau, giá phân phối khác nhau, quỹ thất nghiệp và
sẵn sàng đổ máu.
Nếu Nam Tư có giàn hành chính Quan liêu có tính tự quyết được với Nga, thì giới
Quan liêu Đông Đức không được như vậy. Quan liêu ở đó lại mang tính phi quốc
gia là khác. Đất nước này chỉ là tuyến quân sự để đối đầu với Đế quốc Tây
phương. Điện Kremlin kìm kẹp Đảng CS Cộng hòa Dân chủ Đức chặt chẽ về chính
trị – hơn bất cứ đảng cộng sản Đông Âu nào. Thêm áp lực liên tục từ Tây Bá Linh,
Đông Đức thành bất ly cục kịch, không hề có dịp để trở thành một nước “Cộng
sản-Quốc gia-Tiến bộ” như các nước Đông Âu khác. Dưới thời Ulbricht và
Honnecker, Đông Đức thành cứng nhắc trong việc duy trì nguyên trạng, status
quo, của Chiến tranh Lạnh – còn hơn cả trùm sò ở điện Kremlin nữa.
Các chế độ cộng sản kiểu Stalin (Staliniêng, vừa cộng sản vừa yêu nước – tức là,
xây dựng “xã hội chủ nghĩa trong một xứ”) tại Đông Âu được dựng dậy… từ đống
đổ nát của Đệ Tam Reich (Hitler) một thời… đã thuận ý dân, lại được sự ủng hộ
của giai cấp vô sản… suốt từ Ba Lan, Hung cho tới Tiệp. Nhưng chính quyền các
xứ này thiếu tính quốc gia chính thống để cai trị – điều mà chỉ giới cầm quyền Nga
lại có – xuất phát từ công lao đánh thắng Nazi Đức. Cho nên trong xã hội, vị trí và
uy tín chính trị các đảng dân chủ nhân dân có tính bấp bênh, trong lúc sự bất mãn
chống đối ngấm ngầm trong giới lao động đối với sự cai trị cộng sản kiểu Stalin
ngày càng tăng, cộng với sự hồi phục tinh thần ái quốc tăng trưởng, tùy cách tùy
kiểu ở từng địa phương.
Tình yêu nước quay về quốc gia chủ nghĩa thể hiện rõ nét, lại ở một nước tương
đối ổn định nhất, Bulgaria. Trong lịch sử lập quốc, thì kẻ thù chính của họ, là Thổ.
Mà theo truyền thống, thì Nga lại là nước đàn anh có công bảo vệ Bulgaria trước
đe dọa của Đế quốc Thổ. (Đảng Cộng sản Bulgaria không bao giờ hạ tượng Đại đế
Alexander II được dựng tại trung tâm Sofia, thủ đô Bulgaria). Các chính trị gia
Bulgaria, cho đến nay, không bao giờ bỏ qua dịp xác nhận là tinh thần dân chủ xã
hội phải được khởi từ lòng ái quốc, là từ tinh thần chống Thổ, phò Nga… mà
thành. Về mặt kinh tế, kế hoạch tập trung sản xuất kỹ nghệ, cộng với chính sách
tiêu thụ tự lực cánh sinh… làm mức sống xã hội xứ này thêm kham khổ, chỉ làm
tăng sự bất mãn trong dân đối với chế độ mà người ta gọi là Cộng sản (Staliniêng).
tống sang nhà tù bên Nga. Cho đến đầu những năm 60, chế độ Kadar mới áp dụng
chính sách Kinh tế điều hành để tăng sự tiêu dùng trong xã hội, cùng lúc nới thả
cho giới trí thức, nêu khẩu hiệu, “Không phản đối, là về phe Chính phủ”.
Giới bình dân ở Tiệp đã từng ủng hộ chủ nghĩa Cộng sản hơn cả Ba Lan và Hung.
Trong quá trình lịch sử, Tiệp là một trong số ít quốc gia đã có đại biểu tham dự từ
Đệ nhị Quốc tế Cộng sản. Đối với tư bản, người Tiệp coi mình chính là nạn nhân
bị đế quốc bán đứng cho Nazi từ 1938. Vì chế độ có rễ sâu về chính sách cộng sản,
sự giải hoặc Stalin tại Tiệp cũng trễ hơn mươi năm. Nhưng cũng như Ba Lan và
Hung, đại biểu cho khuynh hướng “Quốc gia-Tiến bộ-Cộng sản”, là Alexander
Dubcek lên thay khuynh hướng thủ cựu Staliniêng là Novotny. Lao động Tiệp
muốn được nới thả hơn để có kinh tế thị trường cải cách… Và ngày càng có
khuynh hướng tiến tới cuộc cách mạng chính trị của vô sản. Để chặn ngay cái
khuynh hướng giống như ở Hung, Brezhnev dùng ngay Hiệp ước (tương trợ)
Warsaw, đưa binh lính Nga tràn vào Tiệp, rồi lật Dubcek. Trong khối Đông Âu,
Tiệp bị đàn áp thô bạo nhất, và trở thành căm ghét Staliniêng hơn hết.
Cũng đúng thôi, trong thập niên 70, chế độ Brezhnev ở Nga, Gierek ở Ba Lan,
Kadar ở Hung, Husak ở Tiệp… đều muốn trấn an giới lao động bằng cách cải thiện
nếp sinh hoạt. Nhưng giá dầu tăng kéo theo sự suy thoái kinh tế Liên Bang Xô viết,
lôi theo sự mất thăng bằng cán cân trao đổi kinh tế giữa Nga với Đông Âu. Để
tránh bị giảm sản phẩm tiêu dùng trong nước, Nga phải xoay qua làm con nợ của
Quỹ Tiền tệ Quốc tế.
Đối phó với nội tình chính trị, Brezhnev đã thành công trong việc trấn áp sự chống
đối của thiểu số trí thức ra mặt thân Tây phương, mà không làm xáo trộn xã hội.
Nhưng thành công này không xảy ra cho các nước Đông Âu, nơi tinh thần quốc gia
âm ỉ đã lâu. Thêm vào đó, Ba Lan và Hung đã lún sâu vào nợ nần Ngân hàng Tây
phương, mà điều kiện ép buộc của tư bản Tây phương là chiêu bài “Nhân quyền”,
là sự ngăn trở chính quyền đàn áp “Nhóm Trí thức muốn ly khai”.
Trước những cuộc xuống đường của công nhân để phản đối giá nhu yếu phẩm tăng
vọt, chế độ Gierek phải lờ việc đàn áp trí thức lẫn công nhân. Điều đó đã mở
đường cho Giáo hội Ca-tô thế lực – liên hiệp với giới trí thức Dân chủ xã hội
viên cộng sản, làm “cách mạng Nhung”… đã đưa đến sự tăng cường hoạt động
công an, đưa đến chuyện trí thức cánh Tả chuyển sang Hữu, ngả theo tinh thần
“Dân chủ xã hội” và buốc-gioa. Đó là nguyên ủy của sự ra đời của nhóm Diễn đàn
công luận và Hiến chương 77.
Nhóm này ngày càng ngả sang Hữu. Giai cấp lao động không có sinh hoạt nào. Ba
chính quyền, Ba Lan, Hung và Tiệp ngày càng thiên Hữu, tìm sự bảo trợ của tư
bản, còn chính quyền Bulgaria, Romania tìm cách luồn lách sống còn dưới chính
sách cải cách nới thả của Nga. Tư hữu hóa tăng, thị trường cạnh tranh tăng… lại
đưa đến lao động thất nghiệp thêm. Tại Hung, dưới áp lực Ngân hàng, đã tạo thành
áp lực để chính thể quan liêu xâu xé nội tình chính trị, đưa đến việc từ chức bắt
buộc của Janos Kadar, người cầm quyền lâu nhất Đông Âu.
Mùa xuân 1989, Ủy ban Công lý lịch sử thành lập, mục đích rửa tiếng cho Imre
Nagy, theo cách Hội nghị bàn tròn như Ba Lan, một tổ chức dưới sự lãnh đạo của
chính quyền
Staliniêng cốt thỏa hiệp với khuynh hướng “Dân chủ xã hội” của khuynh hướng
Tư sản buốc-gioa.
Không giống như Ba Lan và Hung, vì không hề có áp lực bên ngoài để làm những
“cú giật kinh tế” cho hồi sinh bệnh nhân, thì Tiệp, với chế độ Havel, có chiều
hướng giải quyết cực kỳ cảnh giác hầu tránh đưa đến sự bất mãn của thợ thuyền,
tránh đưa đến rạn nứt trong khối Diễn đàn công Luận.
Tại Romania và Bulgaria, chính quyền Staliniêng có khuynh hướng thân Tây
phương, chuyển qua Dân chủ xã hội, lại được ủng hộ của Tây phương, cho nên lực
lượng bảo thủ coi họ như đã theo lập trường phản động, sẽ có chiều hướng đưa đến
nội chiến (vụ thợ mỏ chống sinh viên khuynh hữu tại Bucarest), làm tắt khuynh
hướng thiên hữu của chế độ.
Trong khi Ba Lan, Hung, Tiệp giai cấp công nhân có xu hướng chống chính quyền
chuyển hướng kinh tế, ở Romania và Bulgaria công nhân có xu hướng cưỡng lại
chuyển đổi để bảo vệ lập trường “Tả” của chế độ. Tại Nga, năm 1985, Gorbachev
với chính sách cởi mở kinh tế (perestroika) và cởi mở chính trị (glasnost) đã được
ủng hộ của giới trí thức, nhưng sự xóa bỏ kinh tế trung ương tập quyền đã đưa đến
giải phóng Đức… mà lực lượng Ái quốc thượng đẳng chủng tộc Nazi xướng xuất,
đòi dẹp tượng đài. Những người phản đối tập họp lớn lao, lại là bởi sự xướng xuất
của nhóm Grupen, tổ chức chính trị mang khuynh hướng Trotsky-Liebknech-
Luxemburg, nhóm chính trị Đức SpAD (Spartakist-Arbeiterpartei-Deutschland)
trong nhóm TLD (Trotzkistische Liga Deustchland) mà thành cơn bão chính trị thế
giới.
Cuối tháng Hai, Gorbachev loan báo Liên bang Nga đã chấp thuận sự giải thể đảng
DDR, và sáp nhập đảng này – Cộng hòa dân chủ Đức (German Democratic
Republic – DDR) vào chính đảng bên tư bản. Sự loan báo này chấn động như bom
nổ trong giới công nhân lẫn trí thức – những người vẫn ước ao sự tồn tại của tinh
thần xã hội chủ nghĩa.
Sau khi hợp nhất hai miền, giới Buốc-gioa Đức tìm cách giải thể các hãng xưởng
sản xuất Đông Đức mà trước đó đã từng được xếp hàng mười về hiệu năng sản
xuất trên thế giới. Sản xuất kỹ nghệ tụt giảm mất 75% từ 1989 trở đi. 5 triệu công
nhân mất việc trên tổng số 9.5 triệu. Các nạn nhân đầu tiên của sự thất nghiệp là
phụ nữ. Sự đóng cửa các xưởng kỹ nghệ không vì sự tính toán lợi nhuận lời lỗ của
tư bản. Đó là sự cố tình làm phân vụn, làm hủy tinh thần truyền thống của vô sản
trong xã hội tại Đông Đức.
Đó là sự trả thù của tư bản Đức đã thua trận trước Hồng quân trong Đệ nhị Thế
chiến.
VHQ
(2010)
Cước chú:
(1) Nam Slav: Serb, Croat, Slovenes, Bosnia, Bulgaria (Liệt kê thêm
các nước Tây Slav: Ba Lan, Tiệp, Slovak, Lett, Lithuanian, Moldavian, Ruthenian.
Đông Slav: Nga, Ukraine, Byelorussian).
(2) Gồm 35 nước Âu châu ký kết tại Helsingki, 1975, có cả Mỹ và
Nga, hứa nhận việc cùng chung hợp tác, cùng chung phát triển.
(3) “…now we must create a society with a variety of different forms
of ownership, including private property; and this will be a society of economic