31
chúng ta thu được, chính là cái khau cút trên nóc mỗi ngôi nhà sàn truyền thống.
Như mọi người đều biết: Cũng là dân tộc Thái, nhưng chỉ ngành Thái đen mới có
khau cút, chứ ngành Thái trắng không có khau cút. Mặc dù cả hai ngành Thái đều di
cư vào nước ta (ngành Thái trắng do thủ lĩnh Nhọt Chăm Cằm dẫn đầu), tuy từ hai
điểm xuất phát khác nhau. Ngoài truyền thuyết về cái khau cút, người Thái còn có
truyền thuyết về ngôi nhà sàn (đúng hơn là về cái chái nhà sàn). Song cũng giố
ng như
cái khau cút, chỉ ngành Thái đen mới có truyền thuyết về ngôi nhà sàn, chứ ngành
Thái trắng thì không. Truyền thuyết của người Thái đen kể rằng thuở khai thiên lập
địa, tổ tiên của họ được thần rùa (tiếng Thái là Pua tấu), dạy cho cách làm nhà theo
dáng dấp con rùa đứng. Con người trông vào đấy mà tưởng tượng, chân rùa là
những cột nhà, mai rùa là mái nhà. Do vậy chái nhà người Thái đen khum khum hình
cái mai rùa, trong khi chái nhà người Thái trắng lại theo mặt phẳng nghiêng, có góc
hẳn hoi.
“Khau cút” là một biểu tượng trang trí trên nóc nhà sàn, dùng để chắ
n gió cho
mái tranh hai đầu hồi của nhà người Thái Đen Tây Bắc. Khau cút gồ
m hai thanh
gỗ bắt chéo nhau hình chữ X, đóng trên hai đầu đòn nóc - tiế
ng Thái là “tiêu
bôn”. Trên “Khau cút”, thiên nhiên từ thực tế cuộc sống bước vào đời sống nghệ
thuật của người Thái một cách sống động với búp cây guột, hoa sen, hình tr
ăng
khuyết “Khau cút” không chỉ làm đẹp cho ngôi nhà, mà còn ẩn chứa nhữ
ng ý
nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Không chỉ xuất hiện trên nóc hoặc ở đầu hồi ngôi nhà, mà khau cút còn có mặ
t
ở một số bộ phận khác trong nhà sàn Thái (khau hươn chẳng hạn), đặc biệ
i cút
căm hoặc cút chim mang hình chiếc lá tre. Loại cút này thường làm bằng gỗ
,
khắc nhiều hoa văn , họa tiết, có một thanh gươm bên dưới tượ
ng trưng cho
quyền lực. Loại cút mà dân gian gọi là “cút vua ban” có hình lá sen, chỉ
dành cho
những gia đình giàu sang quyền quý, chủ yếu là đám chức sắc phìa tạ
o. Ngoài
ra, trong thực tế còn một kiểu khau cút với 3 đầu cút vươn ra không gian, khiế
n
nhiều người nghĩ đến con số 3 tâm linh của đồng bào Thái. Dáng dấp của loạ
i
cút này cũng gợi sự liên tưởng thú vị đến dáng dấp của cây phắc cút (rau dớ
n),
với những cái vòi uốn cong điệu đàng. Đó là loại rau mọc hoang, ăn ngon, rấ
t
thích nghi với môi trường ẩm thấp ven sông bờ suối, phù hợp với địa hình c
ư trú
truyền thống của tộc người Thái.
Song dù Khau cút mang hình dáng và có những ý nghĩa như thế
nào, thì hình
tượng Khau cút đó góp phần không nhỏ làm phong phú thêm nền văn hoá củ
a
dân tộc Thái và mỗi người Thái Đen Tây Bắc. Mỗi khi bắt gặp hình tượ
ng Khau
cút trên nóc ngôi nhà sàn thân thương lại thêm ấm lòng, gắn bó hơn vớ
i gia
đình, bản mường, đất nước với những giá trị tinh tuý, nguyên bản, cổ sơ như “lờ
i
vẫn giữ được kiến trúc gỗ hoàn chỉnh, kiến trúc được tạo tác hoàn h
ảo, với một số
tiêu bản nghệ thuật điêu khắc gỗ cổ dân gian độc đáo hòa đồng với không gian
đẹp, thoáng, vươn tỏa tràn đầy sinh lực giữa không gian rộng lớn của núi rừng
Năng Yên. Với thủ pháp nghệ thuật tạo hình các nghệ nhân xưa đã để lại các tác
phẩm điêu khắc, trang trí với đề tài Nho giáo hết sức phong phú. Toàn bộ các
mảng nghệ thuật để lại ấn tượng độc đáo có kiến trúc gỗ cổ mới phô hết tài năng
của cha ông từ thế kỷ trước. Đây là những giá trị tinh thần văn hóa truyền thống
quý báu của dân tộc.
Đền Năng Yên có mặt bằng khá rộng khi đi qua cổng đền phía bên tay phải là
Đền Giếng thờ Mẫu Mẹ người đã có công sinh ra Tam Vị Đại Vương, đi thẳng v
ào
là Đền chính thờ Tam Vị Đại Vương và bên cạnh là đền thờ các quan đã bảo vệ
các vị. Phía bên trên là Đền Thượng đang được xây dựng, nơi đây ba vi đã hóa
về trời. Bên cạnh đền thờ về phía tay trái là khu đất rộng được dùng để tổ chức
các trò chơi dân gian trong dịp lễ hội.
Cứ vào dịp mùng 7 tháng giêng hàng năm, dân làng Năng Yên lại mở hội cầu tế
để tưởng nhớ công đức của Tam Vị Đại Vương và cầu xin Tam Công ban cho
mưa thuận gió hòa, cho muôn nhà được hạnh phúc.
Lễ hội đền được tổ chức trang nghiêm và được phục dựng theo đúng nghi thức
của lễ hội, lễ rước kiệu được tiến hành từ nhà ông từ để sắc phong đến Đền
chính, lễ rước mẫu gồm các thiếu nữ trẻ trung xinh đẹp được tuyển chọn trong
làng. Tiếp đó là lễ túc yết và lễ tế thần do các cụ cao tuổi trong làng đ
ảm nhiệm, lễ
hội còn phục dựng lại phần lễ rước nước, lễ tẩy trần.
Lễ hội Đền Năng Yên là một trong những lễ hội lớn trên quê hương đất Tổ, lễ hội
đã cung cấp thêm tư liệu quý bổ sung cho nghiên cứu về thời đại Hùng Vương
của dân tộc
Theo thông lệ, lễ hội diễn ra trong khoảng thời gian ba ngày đêm. Ngày đầu ti
ên,
tổ chức nghi thức lễ trần thiết bài vị, rồi tiến hành nghênh thần (nghinh thủy lục),
lễ an thần; ngày thứ hai tổ chức nghi thức đại lễ tế thần; phần hội gồm hát múa
bả trạo, hội xây chầu hát bội, hô bài chòi và các trò chơi dân gian của ngư dân
miền biển diễn ra vào ngày thứ ba, có sự đan xen trong thời gian hành lễ ở
ngày đầu tiên và ngày thứ hai.
Nét đặc sắc trong lễ hội cầu ngư ở Bình Ðịnh là hát múa bả trạo, vừa là nghi
thức tế lễ vừa là hoạt động nghệ thuật. Bả trạo có nghĩa là chèo rồi, có nơi gọi l
à
hát bá trạo, ý nói là trăm chèo. Bả trạo là hoạt cảnh múa hát, thể hiện sinh hoạt,
lao động của ngư dân như chèo thuyền, kéo lưới hoặc đặc tả cảnh đưa linh,
rước hồn đức Ông. Kịch bản bả trạo của mỗi làng hầu như không có sự thay đổi
cơ bản từ kịch bản hát múa bả trạo của cụ Tú Diêu, người làng Nhân Ân, xã
Phước Thuận, huyện Tuy Phước. Nơi đây đã lưu gi
ữ nghệ thuật hát múa bả trạo
có từ thế kỷ 17, mang bóng dáng của một thể loại hát bội cổ điển ở Bình Ðịnh.
Trong toàn bộ vở tuồng hát múa bả trạo có dùng các làn điệu nam xuân, nam ai,
nói lối, ngâm xướng, hô bài chòi Một điểm dễ nhận thấy sự khác biệt với hát
bội Bình Ðịnh là hát múa bả trạo đòi hỏi toàn bộ các nghệ nhân phải hát cho rập
trong tiếng gõ sanh của tổng Sanh. Ðộng tác hát bội truyền thống đã được cách
điệu hóa, mang tính nghệ thuật cao; còn động tác trong hát múa bả trạo mang
nặng tính thực hành, gắn với thực tế cuộc sống. Ðiểm khác biệt khá rõ nét giữa
hát múa bả trạo và hát bội như là động tác chèo thuyền, ở hát bội chỉ là cách
điệu, còn hát múa bả trạo là chèo thật.
Hát múa bả trạo có câu: Dưới sông sắp đặt đua ghe - Trên bờ sửa soạn miếu
chùa trạo ca. Tiếng hát vang rền trên sóng nước, dứt tiế
ng là hô chèo lên chèo
thật nhịp nhàng, dồn dập. Bên cạnh, trong phần khởi ca, bả trạo còn có những
ngôi Hoàng đế lập ra Nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên ở Việt Nam. Vì
vậy, hàng năm tỉnh Ninh Bình đều tổ chức lễ hội với quy mô lớn thu hút đông
đảo nhân dân các địa phương trong tỉnh và du khách trong nước, quốc tế tới
tham quan.
38 Lễ hội sẽ diễn ra vào ngày 6-10/3 Âm lịch. Nét mới năm nay là có thêm lễ mở
cửa đền để dâng hương báo công và cầu xin các vị thần linh cho mở hội.
Ngày 8/4, Lễ hội Cố đô Hoa lư sẽ chính thức khai mạc. Vào lúc 5 giờ 30 sáng sẽ
diễn ra lễ rước nước từ sông Hoàng Long vào đền.
Bên lề lễ hội có nhiều hoạt động như biểu diễn văn nghệ; đại lễ cầu siêu; lễ hoa
đăng; thả 1.043 quả bóng bay; thi thư pháp; thi mâm ngũ quả tiễn vua và nhiều
hoạt động thể thao.
Bên cạnh đó, Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam tổ chức chương trình hội ngộ "Kỷ
lục gia Việt Nam lần thứ 22". 90 nghệ nhân dự Liên hoan diều Đông Nam Bộ
Liên hoan diều miền Đông Nam Bộ chính thức khai mạc ngày 6/4, tại khu du lịch
Biển Đông, thành phố Vũng Tàu.
truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" và tinh thần đoàn kết, giàu tình nhân ái.
Nghi thức rước kiệu của làng gắn liền với các hoạt động diễn ra tại Đền Hùng,
là một hình thức sinh hoạt văn hoá không thể thiếu trong lễ hội Đền Hùng xưa và
nay.
Đến lễ hội Đền Hùng là đến với những làn điệu dân ca xoan mang đậm nét văn
hoá vùng đất Tổ là Kim Đức nơi còn bảo lưu nhiều làn điệu xoan cổ. Hát xoan
bắt nguồn từ các truyền thuyết liên quan tới thời đại Hùng Vương, phản ánh mối
quan hệ giữa thành hoàng làng với một hình thức dân ca phong tục - lễ nghi
(hát thờ), được phát triển cùng việc tế thần, cầu chúc cho cuộc sống thịnh
vượng.