A. MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước và
nhân dân ta luôn luôn tập trung mọi nguồn lực xã hội để thực hiện mục tiêu xây
dựng những con người Việt Nam có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,
giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc đồng thời có
năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy được tiềm năng của dân
tộc, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân để làm chủ tri
thức khoa học và công nghiệp hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành
giỏi, có tác phong công nghiệp, có tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, kiên định với
chủ nghĩa xã hội và tư tưởng Hồ Chí Minh, có khả năng hội nhập. Quan điểm về
phát triển con người Việt Nam nói trên đã thể hiện rõ ở mục tiêu giáo dục là
“Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức
khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của
công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trong xã hội ta hiện nay, bên cạnh những truyền thống đạo đức tốt đẹp
của dân tộc và của nhân loại đang là nguồn sức mạnh tinh thần vô cùng to lớn
của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, cũng đang còn không ít những vấn đề
thuộc về lĩnh vực đạo đức mà cộng đồng, xã hội vẫn phải quan tâm. Đó là vấn
đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ có được lối sống lành mạnh, trung thực, nhân
ái, vị tha, thấm đượm tình người sâu sắc; loại bỏ lối sống thực dụng, ích kỉ, chạy
1
theo đồng tiền bất chính, sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm của người khác. Đứng
trước những biểu hiện suy thoái đạo đức, sự phát triển nhân cách không lành
mạnh của một số người trong xã hội ta, đòi hỏi “phải tăng cường công tác giáo
dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân”,
lành mạnh hóa đời sống tinh thần xã hội. Việc giải quyết các đòi hỏi đó là một
trong các nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta hiện
nay.
3. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học viên tại Trung tâm
Giáo dục thường xuyên số 1 thành phố Lào Cai.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học viên văn hoá bậc
THPT trong diện xếp loại hạnh kiểm của Trung tâm GDTX số 1.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Hoạt động GDĐĐ cho học viên văn hoá bậc THPT trong diện xếp loại
hạnh kiểm ở TTGDTX số 1 thành phố Lào Cai sẽ đạt được chất lượng và hiệu
3
quả cao hơn trong giai đoạn hiện nay nếu Giám đốc Trung tâm có những biện
pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức phù hợp với thực tế phát huy được tính
tích cực rèn luyện của học viên, phát huy được sự đóng góp của các lực lượng
giáo dục trong toàn xã hội.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng đạo đức học viên và thực trạng quản lý hoạt
động GDĐĐ
5.3. Đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong đề tài này tôi chỉ nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt
động giáo dục đạo đức cho học viên học chương trình GDTX bậc THPT trong
diện xếp loại hạnh kiểm.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
4
B. NỘI DUNG
1. Một số khái niệm
6
GDĐĐ cho học viên. Thông qua các môn học này, bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn,
hình thành thái độ cư xử và các hành vi đạo đức.
Tóm lại, thông qua hoạt động học tập, học viên có những tiếp thu giá trị
mà còn góp phần sáng tạo ra các giá trị mới. Từ việc tiếp thu tri thức các môn
học học viên có những quan niệm đúng về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình
thành một nhân sinh quan, một thế giới quan khoa học. Đó là cốt lõi của nhân
cách mà nhờ đó học viên biết cách ứng xử, cách quan hệ với mọi người. Từ đó
học viên có hành vi đạo đức đúng đắn.
2.2. GDĐĐ thông qua lao động
Thông qua con đường này, giáo dục cho học viên có nhận thức đúng đắn
về mối quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa lao động trí óc và lao động
chân tay; qua đó giáo dục lòng yêu lao động, sự trân trọng với các thành quả lao
động của cá nhân, của cộng đồng và xã hội.
Đây là một loại hoạt động có ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân
cách của các em. Hoạt động lao động của các em là lao động công ích ở nhà
trường, lao động sản xuất giúp đỡ gia đình. Khi tham gia lao động sẽ bồi dưỡng
được tình cảm tôn trọng lao động và người lao động, làm nảy nở những tình cảm
mới : Niềm vui và kết quả lao động, tự hào những cái mình đã làm được, hài
lòng với những thắng lợi sau những nỗ lực kiên trì. Các công việc lao động ở
nhà trường mà các em có khả năng tham gia như xây dựng Trung tâm xanh, sạch
đẹp, tình nguyện lao động làm sạch đường phố, các di tích lịch sử, giúp đỡ
những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Qua đó các em sẽ thu được những kinh
nghiệm đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Thói quen phục tùng những lợi ích của tập
7
thể. Đặc biệt lao động gắn liền với học tập là một trong những nguyên lý giáo
dục của chúng ta hiện nay.
2.3. GDĐĐ thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Đoàn và các hoạt động văn
nghệ, văn hoá, thể thao, các buổi ngoại khoá về các hoạt động xã hội, bảo vệ
những phẩm chất đạo đức theo chuẩn mực xã hội.
Từ những định hướng về lý luận trên, muốn nâng cao được chất lượng giáo
dục đạo đức cho học viên văn hoá bậc THPT trong diện xếp loại hạnh kiểm tại
TTGDTX thì Giám đốc Trung tâm phải có được các biện pháp quản lý cần thiết và
khả thi. Các biện pháp đó không những phải dựa trên các cơ sở lý luận trên, mà còn
phải dựa trên thực trạng đạo đức và thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học
viên tại Trung tâm
3. Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức tại TTGDTX số 1 thành phố Lào Cai
Học viên trong độ tuổi xếp loại hạnh kiểm ở TTGDTX số 1 chủ yếu là các
em học sinh thi trượt vào các trường THPT. Hầu hết những đối tượng này vừa
yếu về kiến thức văn hoá vừa yếu về việc trau dồi đạo đức, hình thành nhân
cách. Nguyên nhân: có nhiều em có hoàn cảnh éo le như: bố mẹ bỏ nhau, gia
9
đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, một bộ phận không nhỏ do gia đình chiều
chuộng từ bé nên hư hỏng, bố mẹ bất lực không giáo dục được con cái,
Qua thực tế thấy rằng việc rèn luyện đạo đức của học viên ở Trung tâm
phần lớn các em chưa có sự tự giác, chưa ý thức đúng đắn trong các hành vi
hàng ngày của mình về mặt phạm trù đạo đức ví dụ như khi còn hay nói tục,
chửi bậy, trong lớp chưa chú ý nghe giảng còn nói chuyện riêng, không có ý
thức tìm hiểu kiến thức, xây dựng bài, chưa nghe lời thầy cô khuyên bảo. Hoặc
chưa có ý thức bảo vệ của công, vệ sinh môi trường. Sống chưa lành mạnh,
không có tinh thần tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, không đoàn kết, kĩ năng ứng xử
khi giao tiếp còn rất yếu, Những hành vi này cũng được nhắc nhở, thường
xuyên từ các buổi sinh hoạt cuối tuần hoặc là giáo viên khi bắt gặp trực tiếp hay
thông qua các hoạt động ngoại khoá tuy nhiên chưa đi vào chiều sâu, thành hệ
thống liên tục.
Việc giáo dục đạo đức ở Trung tâm thường chỉ mới chú trọng tới nề nếp
kỷ cương với nội quy, những bài học giáo huấn của Ban giám đốc và của
GVCN, của Đoàn thanh niên xong chưa chú ý nhiều đến hành vi ứng xử thực tế,
kỹ năng sống, không tạo được dấu ấn để hình thành nhân cách cho học viên.
những hạn chế sau:
Thứ nhất: Do nhận thức của một số giáo viên, cán bộ chưa coi trọng công
tác Đoàn, chưa đặt công tác Đoàn đúng vị trí.
Thứ hai: Sự kết hợp giữa công tác Đoàn với các đoàn thể: Công đoàn,
giáo viên chủ nhiệm, … chưa chặt chẽ.
Thứ ba: Việc triển khai công tác Đoàn mới chỉ coi là bề nổi, chưa chú trọng
đi vào chiều sâu, công tác GDĐĐ, giáo dục học viên cá biệt hiệu quả ít.
Thứ tư: Chất lượng hoạt động của các chi đoàn là khâu yếu nhất, nguyên
nhân do Trung tâm không có cán bộ đoàn chuyên trách mà chỉ phân công giáo
viên kiêm nhiệm. Chất lượng cán bộ chi đoàn chưa mạnh là do các em chưa
“mặn mà” lo công tác đoàn thể. Do kinh phí còn hạn hẹp cho nên cơ sở vật chất,
các trang thiết bị cho Đoàn hoạt động chưa đáp ứng.
Việc phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc cùng giáo dục con
em nhiều khi chưa được thực hiện thường xuyên nên hiệu quả còn thấp thông tin
trao đổi hai chiều giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh chưa được cập nhật một
cách kịp thời, thường xuyên.
Kế hoạch quản lý hoạt động GDĐĐ chưa được xây dựng tốt, vẫn còn
chung chung chưa cụ thể, chưa phối hợp được các khâu trong kế hoạch.
Chưa có sự theo dõi sát sao để giúp học viên phấn đấu rèn luyện, đồng
thời tham mưu cho lãnh đạo kiểm tra đánh giá công tác này được tốt.
Chưa có biện pháp tốt tổ chức cho học viên rèn luyện đạo đức .
12
Chưa làm cho mọi thành viên trong Trung tâm có nhận thức tốt về ý nghĩa
và sự cần thiết của công tác GDĐĐ cho học viên.
Việc xây dựng môi trường giáo dục còn hạn chế. Xây dựng môi trường
giáo dục tốt bao gồm việc xây dựng mối quan hệ giữa học viên và thầy cô giáo,
cán bộ công nhân viên của Trung tâm. Xây dựng môi trường “ xanh, sạch, đẹp”
phòng học sạch sẽ, thoáng mát.
Từ những kết quả trên đây có thể nói công tác giáo dục đạo đức cho học
viên trong những năm qua được tiến hành ở các biện pháp mang nặng tính lý
Thứ nhất: Không ít các bậc phụ huynh vẫn xem việc dạy dỗ con em mình
là của Trung tâm, một bộ phận không nhỏ với nhiều lý do không giáo dục được
con, em hoặc sự quan tâm dạy dỗ con cái còn rất ít, nhiều gia đình đã yêu
thương, dạy dỗ con không đúng cách. Một số gia đình khác lại quá khắt khe,
nghiệt ngã, không công bằng với con cái. Đó là cách giáo dục không phù hợp
nên hiệu quả đều thấp.
Thứ hai: Trong giáo dục đạo đức thiếu sự thống nhất một số thầy cô
trong quá trình giảng dạy chỉ biết dạy chữ đơn thuần mà không chú trọng giáo
dục đạo đức, lối sống cho học viên. Khi dạy chỉ biết nhồi nhét kiến thức sách
14
vở, mà tách rời với cuộc sống thực tiễn, tách rời giữa trí dục với đức dục. Hơn
nữa trong cơ chế thị trường một số quan điểm lệch lạc nữa là chỉ dạy theo kiến
thức đơn giản, chạy theo bằng cấp mà xem nhẹ đạo đức, coi thường truyền
thống đạo lý, văn hoá dân tộc, coi trọng đời sống vật chất tiền bạc hơn giá trị
tinh thần, giá trị nhân văn.
- Thứ ba: Sự hạn chế về quan niệm giáo dục, đặc biệt ở giáo dục đạo đức
thường thấy ở các lực lượng giáo dục ngoài xã hội, ở các cơ quan quản lý giáo
dục ngay cả cấp chính quyền đó là chủ nghĩa hình thức, bệnh quan liêu và hành
chính mệnh lệnh. Sự quan tâm tới nhà trường chỉ theo “mùa vụ”. Nó chỉ rộ lên
vào những ngày: khai giảng, 20/11, trong thi cử, bế giảng năm học, Việc khắc
phục những tồn tại trên là khởi đầu thực hiện biện pháp nâng cao nhận thức về
giáo dục đạo đức.
Nội dung của biện pháp nâng cao nhận thức giáo dục đạo đức cho các
lực lượng làm giáo dục về:
+ Chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, quy định của Bộ GD-ĐT về
công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, công tác quản lý
+ Ảnh hưởng nhân cách của người CBQL, GV, đối với học viên.
+ Trách nhiệm của từng GVCN, giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, Ban giám
đốc trong việc giáo dục đạo đức cho học viên.
Tổ chức thực hiện:
Ở trung tâm việc giáo dục đạo đức cho học viên thông qua 2 con đường
chính, đó là thông qua việc dạy học các môn học và thông qua các hoạt động
ngoài giờ lên lớp. Vì vậy tích cực đổi mới phương pháp GDĐĐ cho học viên tức
là chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học các môn học và đổi mới
các hình thức nội dung hoạt động ngoài giờ lên lớp. Đổi mới phương pháp dạy
học không phải là thay cái cũ bằng cái mới, mà thực chất là sử dụng một cách có
lựa chọn các phương pháp giảng dạy có giá trị tích cực trong việc hình thành tri
thức, rèn luyện kỹ năng thái độ cho học viên, cương quyết loại bỏ phương pháp
dạy học một chiều, áp đặt, thụ động làm mất khả năng sáng tạo của học viên
Tập trung chỉ đạo tốt việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học và
phương pháp giáo dục ngoài giờ lên lớp thông qua việc thực hiện 4 chức năng
quản lý của Giám đốc nhằm lựa chọn được những phương pháp giáo dục đạo
đức tốt nhất, phát huy được tính tích cực, tạo điều kiện cho các em rèn luyện
thói quen, hành vi đạo đức của mình.
Trong quá trình thực hiện quản lý, Giám đốc phải xây dựng kế hoạch, tổ
chức chỉ đạo, kiểm tra chặt chẽ theo các định hướng sau:
- Hướng hoạt động của thầy vào việc đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của
học viên trong điều kiện xã hội đã đổi mới và phát triển.
17
- Đổi mới phương pháp GDĐĐ đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa
mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học. Đảm bảo tính mục tiêu, tính tổ
chức, tính kế hoạch.
- Thay đổi vị trí, chức năng vai trò, nhiệm vụ của người thầy và trò trong
hoạt động dạy học, hướng vào việc phát triển và phát huy tính tích cực chủ động
sáng tạo của học viên góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
- Tăng cường rèn luyện kỹ năng, hành vi, thái độ và cách ứng xử của học
viên.
- Đa dạng hoá các loại hình tổ chức dạy học và các hoạt động ngoài giờ
lên lớp.
- Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá giáo dục toàn diện cả kiến thức - kỹ
định hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng: Như là chào cờ đầu tuần, sinh hoạt cuối
tuần, truy bài đầu giờ, trực tuần.
+ Xây dựng kế hoạch chủ điểm tập trung vào các ngày lễ lớn chẳng hạn
kế hoạch hoạt động theo chủ điểm 20/11, 26/3, cân đối thời gian, điều kiện tham
gia của học viên sao cho đạt được kết quả giáo dục cao nhất.
- Thành lập ban tổ chức quản lý hoạt động GDĐĐ:
19
+ Ban chỉ đạo gồm: Giám đốc - Trưởng ban
+ Bí thư Đoàn TN - Phó ban
+ Một số giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm - Uỷ viên, phụ
trách các mảng hoạt động, phân công trách nhiệm cụ thể từng thành viên nhằm
giúp đỡ Giám đốc xây dựng được kế hoạch, tổ chức được các hoạt động có qui
mô lớn, giúp giáo viên chủ nhiệm tiến hành hoạt động có hiệu quả và giúp Giám
đốc đánh giá kết quả cụ thể.
- Chỉ đạo hoạt động ngoài giờ lên lớp:
+ Tổ chức lực lượng theo dõi, giám sát các hoạt động xen kẽ trong
chương trình học tập trên lớp. Thành lập đội tự quản của Đoàn, phân công lớp
trực tuần, theo dõi thông qua sự báo cáo của đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp,
của phó giám đốc , của bảo vệ Trung tâm.
+ Chỉ đạo các hoạt động theo chủ điểm
Thông qua các phong trào thi đua kế tiếp nhau, nhưng có trọng điểm. Ví
dụ: Kỳ I: Trọng điểm 20/11; kỳ II : 26/3. Lựa chọn các hình thức hoạt động mới
tạo sân chơi trí tuệ hấp dẫn và bổ ích.
- Kiểm tra đánh giá:
+ Xây dựng tiêu chí đánh giá phù hợp
+ Tiến hành kiểm tra đánh giá thường xuyên, nắm bắt các thông tin một
cách kịp thời, lắng nghe ý kiến đóng góp của tập thể.
+ Tổng kết đánh giá thi đua khen thưởng. Đổi mới hình thức đánh giá thi
đua , khen thưởng qua đó rút ra bài học kinh nghiệm về cái được, hạn chế tìm
nguyên nhân và đưa ra các biện pháp khắc phục.
+ Nghiên cứu khả năng lồng ghép nội dung giáo dục những giá trị đạo
đức truyền thống vào các môn học.
+ Tạo môi trường thuận lợi giúp cho việc tuyên truyền giáo dục các giá trị
đạo đức truyền thống.
Điều kiện thực hiện
Việc tổ chức, triển khai thực hiện có kế hoạch chặc chẽ, phù hợp. Bộ máy
quản lý hoạt động GDĐĐ của Trung tâm phải được vận hành thường xuyên, liên
tục thành nếp.
Tất cả các bộ phận có liên quan tích cực thường xuyên trao đổi, kết hợp tổ
chức thực hiện các hoạt động có hiệu quả
Ban giám đốc tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các kế hoạch,
tăng cường kinh phí cho các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Biện pháp 4: Tuyên truyền, phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài
Trung tâm, tạo môi trường thuận lợi trong hoạt động GDĐĐ cho học viên.
Mục tiêu
22
Tạo sự thống nhất cao giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài Trung
tâm về giáo dục đạo đức cho học viên, từ đó phát huy sức mạnh tổng hợp, khai
thác tiềm năng to lớn của các lực lượng xã hội trong quản lý giáo dục đạo đức
cho học viên trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Qua thực tiễn chúng ta thấy vấn đề khó khăn nhất của quản lý giáo dục đạo
đức cho học viên là phối hợp giữa gia đình, Trung tâm và xã hội. Sự tác động của
các lực lượng giáo dục ngoài Trung tâm chưa hiệu quả đặc biệt là sự giáo dục của
gia đình. Chính vì vậy đây là giải pháp rất hữu hiệu, góp phần to lớn trong quá
trình giáo dục và việc phát triển nhân cách cho học viên.
Nội dung và tổ chức thực hiện.
Xây dựng kế hoạch, chỉ đạo phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong
và ngoài Trung tâm để quản lý GDĐĐ cho học viên gồm có:
- Tăng cường sự phối hợp đồng bộ các thành viên trong Trung tâm, tạo sự
thống nhất từ mục tiêu đến nội dung phương pháp thực hiện, phân công cụ thể
thông phòng chống HIV, sinh sản vị thành niên, Phối hợp thực hiện tốt các
cam kết đó và cùng nhau ngăn chặn những hành vi xấu của các em.
24
Phối hợp với cộng đồng để thống nhất mục tiêu phương pháp giáo dục
nhằm tạo dư luận ở địa phương, khuyến khích việc làm tốt ngăn chặn hành vi
chưa tốt, giúp đỡ học viên có hoàn cảnh khó khăn, đẩy mạnh tuyên truyền giáo
dục truyền thống địa phương, giáo dục văn hoá lịch sử dân tộc thông qua các lễ
hội truyền thống, các phong tục tập quán. Ngược lại Trung tâm có trách nhiệm
giáo dục các em góp phần bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo vệ trị an, trật tự xã
hội. Để thực hiện mục đích trên trung tâm chủ động mời các tổ chức trên tham
mưu, cố vấn, tham gia các hoạt động ngoại khoá. Ví dụ: mời hội cựu chiến binh
nói chuyện truyền thống quân đội nhân Việt Nam vào dịp 22/12.
Điều kiện thực hiện
Sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài Trung tâm
nhằm giúp Trung tâm quản lý giáo dục học viên tốt hơn. Sự phối hợp chặt chẽ
này chính là Trung tâm đã làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục. Chia sẻ trách
nhiệm giáo dục tới toàn xã hội và ngược lại cả xã hội tập trung cho xã hội hoá
giáo dục. Như vậy là Trung tâm đã phát huy được sức mạnh tổng hợp nhằm đạt
được mục tiêu giáo dục đề ra.
25