LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài :
Hiện nay, toàn cầu hóa nền kinh tế không còn là vấn đề xa lạ mà đã và đang trở
thành một xu hướng phát triển tất yếu khách quan đối với nền kinh tế của một quốc
gia. Theo đó thì tự do hoá lãi suất là một trong những nội dung quan trọng của tự do
hoá tài chính, điều này cũng đồng nghĩa với việc lãi suất trên thị trường sẽ do cung –
cầu vốn quyết định. Đây là cơ hội để Ngân hàng huy động các nguồn lực tài chính
trong xã hội nhưng cũng là thách thức không nhỏ cho hoạt động của các Ngân hàng vì
cạnh tranh lãi suất sẽ diễn ra ảnh hưởng đến phần chênh lệch đâu ra – đầu dự tính.
Nguy cơ đối mặt với các loại rủi ro vì thế sẽ càng gia tăng, trong đó cần phải tính đến
là rủi ro lãi suất. Thêm vào đó là diễn biến phức tạp của lãi suất trên thị trường tiền tệ
trong những năm gần đây càng làm nguy cơ đối mặt với loại rủi ro này đối với hoạt
động ngân hàng càng lớn hơn.
Trong bối cảnh đó, đòi hỏi hệ thống ngân hàng nói chung và Ngân hàng TMCP
Bắc Á nói riêng phải đổi mới, nâng cao hoạt động quản trị mà đắc biệt là quản trị rủi
ro lãi suất. Chính vì vậy em xin chọn đề tài “ Quản trị rủi ro lãi suất tại của Ngân
hàng TMCP Bắc Á- Thực trang và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu với mong
muốn là vận dụng những kiến thức đã học tập để xem xét, giải quyết một vấn đề thực
tiễn và đóng góp một phần nhỏ bé để nâng cao hiệu quả quản trị rui ro lãi suất của
Ngân hàng TMCP Bắc Á.
2. Mục đích nghiên cứu :
Khóa luận nghiên cứu về những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro lãi suất.
Ngoài ra khóa luận còn xem xét, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro lãi suất của
NHTM Bắc Á, từ đó đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
quản trị rủi ro lãi suất của Ngân hàng TMCP Bắc Á.
Khoá luận tốt nghiệp
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận chủ yếu tập trung vào tình hình quản trị
rủi ro lãi suất của Ngân hàng TMCP Bắc Á.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là tập trung nghiên cứu về bản chất của rủi
ro lãi suất, những nội dung chính của hoạt động quản trị rủi ro lãi suất. Từ đó cho ta
người gửi tiền.Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác nhau phụ thuộc vào :kỳ hạn gửi,
quy mô tiền gửi, đối tượng khách hàng…Lãi suất tiền vay được áp dụng để tính số lãi
tiền vay mà khách hàng phải trả cho ngân hàng. Lãi suất phải được trả bởi vì tiền tệ có
giá trị về mặt thời gian, đồng thời nhằm bù đắp chi phí cơ hội của người cho vay.
Nếu biểu diễn bằng công thức toán học thì ta có:
i =
Trong đó i : lãi suất
T : số tiền gốc ban đầu
T’: số tiền phải trả trong thời gian nhất định
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
Do lãi suất được hình thành tại mức cân bằng giữa cung và cầu quỹ cho vay
nên các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất cũng chính là các nhân tố làm dịch chuyển vị trí
của đường cung cầu quỹ cho vay trên thị trường.
Lãi suất(i)
3
Khoá luận tốt nghiệp
D S
i
o
Q
o
Quỹ cho vay
Đồ thị 1.1 : Cân bằng cung cầu quỹ cho vay trên thị trường
1.1.2.1 Các nhân tố làm dịch chuyển đường cầu quỹ cho vay:
a , Lợi tức dự tính của các cơ hội đầu tư :
Trong giai đoạn tăng trưởng của nền kinh tế ,rất nhiều cơ hội đầu tư được kì vọng
là có khả năng sinh lời cao ,làm tăng nhu cầu vay vốn để tài trợ các dự án.Lượng cầu
quỹ cho vay tăng lên ở mọi mức lãi suất, đường cầu sẽ dịch chuyển sang phải và mức
lãi suất sẽ tăng lên.
tăng tính hấp dẫn của công cụ nợ đó, làm cho cầu của công cụ nợ đó tăng ở mọi mức
lãi suất .Lượng cung quỹ cho vay vì thế tăng lên ,làm cho cung tín dụng dịch chuyển
sang phải.
1.1.3 Lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng :
Trong hoạt động kinh doanh của NHTM có rất nhiều loại lãi suất khác nhau
song chúng ta thường đề cập đến lãi suất theo hai nghiệp vụ chủ yếu :các loại lãi suất
mà ngân hàng phải thanh toán cho các nghiệp vụ huy động vốn là lãi suất đầu vào ,và
tương tự ta có lãi suất đầu ra cho các hoạt động cho vay và các tài sản tài chính mà
ngân hàng nắm giữ.
1.1.3.1 Lãi suất đầu vào:
Lãi suất đầu vào là loại lãi suất mà ngân hàng thanh toán trong nghiệp vụ
huy động vốn. Nó phản ánh chi phí về vốn mà ngân hàng phải trả để được quyền sử
dụng một lượng vốn nhất định trong một khoảng thời gian nhất định .Thông thường
các NHTM có rất nhiều công cụ vốn khác nhau và do vậy có tương ứng với các mức
lãi suất khác nhau. Với mỗi loại công cụ ,lãi suất của nó không cố định mà thay đổi
theo thời gian tùy theo nhu cầu về vốn và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng.
Trong công tác điều hành và quản lý lãi suất , trước tiên nhà quản trị ngân
hàng cần phải biết được chi phí về vốn của ngân hàng là bao nhiêu.Chi phí vốn của
5
Khoá luận tốt nghiệp
ngân hàng chính là lãi suất đầu vào bình quân các nguồn vốn của ngân hàng .Chi phí
này được tính theo phương pháp bình quân gia quyền.
Giả sử ngân hàng có n loại vốn ,khi đó để tính toán chi phí vốn của ngân
hàng ta có thể sử dụng công thức sau:
I
d =
Trong đó Id : lãi suất bình quân đầu vào của ngân hàng
Di : số dư bình quân của vốn i
Idi : lãi suất của vốn i
còn gọi là tỷ lệ chênh lệch lã suất cho vay bình quân và lãi suất huy động vốn bình
quân. Chỉ tiêu này nằm trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá khả năng snh lời của các
NHTM như :ROA,ROE, hệ số chi phí thu nhập …
Trường hợp 1 : tỷ lệ CLDVDR tại một thời điểm
CLDVDR =
Trong đó : n :số mức lãi suất áp dụng cho huy động vốn
Dk và ik : số dư và mức lãi suất huy động của loại k
m :số mức lãi suất áp dụng trong việc sử dụng vốn
Aj và rj : số dư và mức lãi suất sử dụng vốn của loại j
Trường hợp 2 : Tỷ lệ CLDVDR cho một thời kỳ
CLDVDR = * 100
Trong đó L :số dư vốn huy động bình quân của tất cả các loại trong kỳ
Ck: chi phí trả lãi trong kỳ của loại huy động k(k=1,2,…n)
Pj :số lãi sử dụng t rong kỳ của loại sử dụng j (j=1,2,…m)
7
Khoá luận tốt nghiệp
T :số tháng trong kỳ
1.2. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
1.2.1 Đặc điểm của hoạt động ngân hàng
Ngân hàng là một loại trung gian tài chính đặc biệt hoạt động vì mục tiêu lợi
nhuận thông qua việc kinh doanh các nguồn vốn ngắn hạn là chủ yếu.Một trong
những chức năng quan trọng và cốt lõi của hoạt động ngân hàng là chức năng trung
gian tín dụng .Ngân hàng đóng vai trò là cầu nối giứa bên thừa vốn và bên có nhu cầu
về vốn.Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ ,tín dụng và có khả năng nhận
biết được về cung cầu tín dụng .Thông qua việc thu hút tiền gửi với số lượng lớn
,ngân hàng có thể giải quyết được mối quan hệ giữa cung cầu tín dụng cả về khối
lượng vốn vay và thời gian cho vay.Thông qua việc huy động các khoản vốn tạm thời
nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay của rồi đem cho
vay với nền kinh tế , mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn.Bởi lẽ các khoản vốn vay ngắn
hạn có chi phí rẻ hơn tương đối so với các khoản huy động dài hạn, lợi nhuận sẽ cao
9
Khoá luận tốt nghiệp
thấy giá trị ròng cùa ngân hang luôn thay đổi không ngừng và phụ thuộc vào tình hình
lãi suất trên thị trường.
1.2.3. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro lãi suất
1.2.3.1. Sự không cân xứng về kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ
Nguyên nhân của sự không cân xứng về kỳ hạn tài sản có và tài sản nợ chính là do:
Thứ nhất là : Do sự đa dạng về nhu cầu của khách hang gửi tiền và vay tiền.Trên
thực tế đều này xảy ra là hoàn toàn tất yếu vì các khách hàng gửi tiền cũng như vay
tiền của ngân hàng hết sức đa dạng ,mỗi người trong số họ có những nhu cầu khác
nhau khi gửi tiền cũng như vay tiền dẫn đến sự đa dạng về kỳ hạn cuat các khoản vốn
huy động và cho vay.
Thứ hai là : Các ngân hàng có khuynh hướng duy trì thời hạn tài sảncó lớn hơn tà sản
của tài sản nợ nhằm có được lợi thế về lợi nhuận . Chẳng hạn ,các ngân hạn thường sử
dụng một phần nguồn vốn ngắn hạn với lãi suất thấp để cho vay thời hạn dài hơn với
mức lãi suất cao hơn
Thứ ba là : Ngân hàng thường không quy định khách hàng bắt buộc phải thực hiện
cam kết trong hợp đồng . Chẳng hạn, các khách hàng gửi tiền ngân hàng với thời hạn
ban đầu là 5 năm nhưng có thể rút trước thời hạn mà không bị ngân hàng ngăn cấm,
các khách hàng đi vay tiền cũng có thể trả nợ trước hạn, và ngược lại có trường hợp
được ngân hàng cho gia hạn nợ.Tần số xuất hiện sự vi phạm thỏa thuận sự vi phạm về
thời hạn của các khách hàng gửi riền và vay tiền thường không tương xứng với nhau
và thực tê này càng làm tăng khả năng mất tương xứng về kỳ hạn của các khoản cho
vay và các khoản huy động của ngân hàng.Chính vì vậy, sự chênh lệch về kỳ hạn của
tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng là không thể tránh khỏi và trở thành một đặc
tính cố hữu của ngân hàng.Do đó ngân hàng phải luôn đối mặt với rủi ro lãi suất mà
không bao giờ có thể xóa bỏ được
Để có thể hiểu rõ hơn ta có thể xét các trường hợp về sự không cân xứng như sau :
Trường hợp 1 :Rủi ro do tái tài trợ khi ngân hàng duy trì tài sản có với kỳ hạn dài
hơn so với tài sản nợ
Ngân hàng luôn đưa ra các nghiên cứu cũng như các dự báo về lãi suất và dựa
trên những dự báo đó ,ban quản trị của ngân hàng sẽ có những biện pháp ứng phó kịp
thời nhằm hạn chế đến mức tối đa rủi ro lãi suất gây ra cho ngân hàng.Tuy nhiên trong
trường hợp lãi suất thị trường biến động một cách phức tạp khiễn cho ngân hàng có
thể dự báo chính xác thay đổi của chúng ,ngân hàng sẽ phải đối mặt với những tổn
thất do sự biến động lãi suất gây ra
Mặc dù lãi suất là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng nhưng các ngân hàng không thể kiểm soát được mức độ cũng như xu
hướng biến động của lãi suất là do :
-Lãi suất được hình thành bởi mối quan hệ cung cầu vốn trên thị trường
- Lãi suất chịu tác động của nhiều biến số trong nền kinh tế như: tỷ lệ lạm phát,tỷ
giá,sự phát triển của thị trường tiền tệ…
1.3. Quản trị rủi ro lãi suất
1.3.1 Những nét chính về quản trị rủi ro lãi suất trong Basel I và II :
Sau hàng loạt sự sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80 ,một nhóm các ngân
hàng trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã tập hợp tại
thành phố Basel( Thụy Sỹ) vào năm 1987 nhằm tìm cách ngăn chặn xu hướng này.Sau
khi nhóm họp, các cơ quan này đã quyết định hình thành Ủy ban Basel về giám sát
ngân hàng (Basel committee on bankng supervision) đưa ra các nguyên tắc chung để
quản lý hoạt động của các ngân hang quốc tế
Năm 1988,Ủy ban này đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên :Hiệp ước về vốn
của Basel (Basel I),yêu cầu hoạt động ngân hàng phải nắm giữ một mức vốn tối thiểu
để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra.Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệ
phần trăm nhất định trong tổng vốn của ngân hàng , do đó có thể hiểu mức vốn này là
mức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của ngân hàng đó . Mục tiêu của Basel I
nhằm :
- Củng cố sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế
- Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất ,bình đẳng nhằm giảm cạnh
tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế
Khóa luận tốt nghiệp
phải giám sát hoạt động quản trị rủi ro lãi suất đối với các sổ ngân hàng và vấn đề này
13
Khoá luận tốt nghiệp
được nêu rõ trong trụ cột thứ 2 của Basel II.Trụ cột thứ 2 như là một cảnh báo sớm
đối với các nhà giám sát ,trong đó các ngân hàng sẽ báo cáo và giải thích cách tính
như mô hình mà mình đã áp dụng trong tính toán các chỉ tiêu do Ủy ban Basel yêu cấu
.Trong trường hợp rủi ro lãi suất mà ngân hàng gặp phải vượt quá mức trong tương
quan với số vốn đủ tiêu chuẩn của ngân hàng thì các giám sát sẽ có yêu cầu tăng mức
vốn cần thiết hoặc yêu cầu giảm rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải hoặc có thể kết
hợp cả hai biện pháp.Cụ thể, các giám sát đặc biệt chú ý đến các ngân hàng có rủi ro
lãi suất vượt quá 20%số vốn cấp 1 và 2. Khi đó ,họ phải thực hiện việc thử nghiệm về
tình huống khi mà lãi suất tăng giảm 200 điểm cơ sở(2%) để xem xét tác độngcủa nó
như thế nào đến giá trị tà sản nợ và tài sản có.Từ đó các giám sát viên và nhà quản trị
phối hợp để có biện pháp điều chỉnh hợp lý .
Bảng 1.3: Rủi ro lãi suất trong Basel I và II1.3.2 Mục tiêu của hoạt động quản trị rủi ro lãi suất
Mục tiêu quan trọng trong hoạt động quản trị rủi ro lãi suất là bảo vệ thu nhập
dự kiến ở mức tương đối ổn định bất chấp sự thay đổi của lãi suất. Để đạt được mục
Khóa luận tốt nghiệp
tiêu này, ngân hàng phải duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên(NIM) cố định.Đây là hệ số
giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc
kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất.
Hệ số này cho thấy nếu chi phí huy động vốn tăng nhanh hơn lãi thu từ cho vay và đầu
tư hoặc lãi thu từ cho vay và đầu tư giảm nhanh hơn chi phí huy động vốn sẽ làm cho
NIM bị thu hẹp lại, rủi ro lãi suất sẽ lớn.
Hệ số chênh lệch lãi thuần (NIM) = *100
Trong đó:
- Thu nhập lãi: lãi cho vay, đầu tư, lãi tiền gửi tại ngân hàng khác, lãi đầu tư
Chênh lệch kỳ hạn sớm sẽ gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng.Chẳng hạn nếu ngân hàng
chủ yếu sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn ,ngân hàng sẽ phải đối mặt
với nguy cơ là đến thời điểm tất toán hợp đồng với khách hàng gửi tiền ngắn hạn,
ngân hàng không thể huy động với lãi suất như trước mà phải đưa ra một mức lãi suất
cao hơn để thu hút được lượng vốn để tái đầu tư vào tài sản có.Ngược lại nếu ngân
hàng chủ yếu sử dụng nguồn vốn huy động dài hạn để cho vay ngắn hạn ,chênh lệch
giữa lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra sẽ bị thu hẹp từ đó ảnh hưởng đến kết quả của
doanh thu thuần từ lãi.
- Biến động lãi suất :
Chẳng hạn trong trường hợp ngân hàng đi vay theo lãi suất thả nổi để cho vay cố
định ,khi lãi suất thị trường có xu hướng tăng sẽ khiến cho chi phí trả lãi của ngân
hàng tăng theo .Ngược lại,trong trường hợp ngân hàng huy động với lãi suất cố định
và cho vay với lãi suất thả nổi ,ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi mà lãi suất có xu hướng
giảm
Dựa vào những nhận biết này mà bộ phận quản trị rủi ro lãi suất xem xét bản chất
và độ phức tạp của các sản phẩm và hoạt động của ngân hàng có liên quan. Từ đó bộ
phận có thể nhận dạng các nguồn chính gây nên rủi ro lãi suất và những tác động có
thể cua chúng . Sau đó, bộ phận quản trị rủi ro sẽ đề ra các mô hình phù hợp để định
lượng rủi ro lãi suất. Các mô hình đo lường rủi ro lãi suất được sử dụng là:
A . Mô hình kỳ hạn :
Mô hình này được xây dựng dựa trên một số nguyên lý cơ bản sau:
-Một sự tăng (giảm) lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm (tăng) của danh mục
giá trị tài sản
-Khi lãi suất thị trường tăng( giảm) thì danh mục tài sản có kỳ hạn càng dài sẽ giảm
(tăng) càng lớn song có tốc độ giảm (tăng) thấp hơn
Gọi M
A
: thời hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản có
M
L
- Mức độ chênh lệch M
A
-M
L
- Tính chất của M
A
-M
L
là lớn hơn hay nhỏ hơn 0
- Sự biến động của lãi suất thị trường là tăng hay giảm
Bảng 1.5 :Tác động của lãi suất đến VTC theo mô hình kỳ hạn
M
A
-M
L
Sự biến động của lãi suất Ảnh hưởng đến vốn tự có
>0
Tăng Giảm giá trị thị trường của vốn tự có
Giảm Tăng giá thị thị trường của vốn tự có
=0 Tăng ,giảm Không thay đổi
<0
Tăng Tăng giá trị thị trường của vốn tự có
Giảm Giảm giá thị trường của vốn tự có
Mô hình kỳ hạn đến hạn là một phương pháp đơn giản ,trực quan để lượng hóa
rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng . Qua phân tích trên ta thấy,
do sự không cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ nên khi lãi suất thị trường có sự
thay đổi thì đều ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng ,thậm chí khi mà
lãi suất biến động mạnh ,ngân hàng có thể bị rơi và trạng thái mất khả năng thanh
khoản cuối cùng . Mô hình kỳ hạn có hạn chế là chưa đề cập đến yếu tố thời lượng
của các tài sản có và tà sản nợ .Do vậy ,mô hình trên còn có nhiều khuyết điểm nhất
Bảng 1.5 : Tác động của lãi suất đến ngân hàng theo mô hình định giá lại
GAP ∆i ∆ NII
GAP >0 ∆i > 0 ∆NII >0
GAP>0 ∆i <0 ∆NII<0
GAP <0 ∆i >0 ∆NII<0
GAP <0 ∆i< 0 ∆NII>0
GAP =0 ∆NII=0
Ưu điểm của mô hình :
+ Cung cấp thông tin về cơ cấu tài sản có và tài sản nợ sẽ được định giá lại
+ Dễ dàng xác định thay đổi thu nhập của lãi ròng
+ Đơn giản và trực quan
Nhược điểm của mô hình
Phương pháp tuy đơn giản nhưng lại không tính đến các thực tế như :
+ Vấn đề về chỉ tiêu đánh giá :
Khóa luận tốt nghiệp
Trên thực tế mức độ nhạy cảm của tài sản có và tà sản nợ đối với lãi suất là khác
nhau. Có những tài khoản rất khó để sắp xếp vào nhạy cảm hay không nhạy cảm với
lãi suất mà bắt buộc phải quan sát thực tế, ví dụ như tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
(mục đích chủ yếu là thanh toán)
+ Hiệu ứng giá của thị trường : Mô hình chỉ đo lường rủi ro về thu nhập mà
chưa chú ý đến rủi ro về giảm giá trị
+ Vấn đề kỳ định giá tích lũy :
Do mức độ nhạy cảm của hai loại tài sản này là khác nhau nên việc phân lọai theo mô
hình là không đồng đều dẫn đến kết quả không chính xác
+ Vấn đề về tài sản đến hạn :
Mô hình giả định khoản gốc + lãi sẽ được thanh toán cho khách hàng nhưng trên thực
tế khách hàng có thể rút tiền trước khi đến hạn. Do vậy,dư nợ thường xuyên thay đổi,
GAP sẽ không chính xác
Do vậy, khi phân tích độ lệch nhạy cảm với lãi suất, các ngân hàng phải tính đến cả
các hệ số nhạy cảm với lãi suất của các tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng để có
Phản ứng của các nhà quản
lý
Lãi suất thị trường tăng Khe hở dương (GAP >0)
Tăng RSA,giảm RSL.(1)
Lãi suất thị trường giảm Khe hở âm (GAP <0)
Giảm RSA,tăng RSL(2)
(1) : tăng cho vay ngắn hạn, nếu cho vay dài hạn thì áp dụng lãi suất thả nổi;kéo dài
thời gian huy động ,phát hành giấy tờ có giá…
(2) : mua chứng khoán dài hạn,cho vay dài hạn ,chuyển các khoản cho vay từ lãi suất
thả nổi sang lãi suất cố định ,trả thêm hoa hồng khuyến khích huy động khách
hàng ngắn hạn…
C , Mô hình thời lượng.
Thời lượng của một tài sản là thước đo tồn tại luồng tiền của tài sản, được tính
trên cơ sở các giá trị hiện tại của nó. Thời lượng của một tài sản có hay một tài
sản nợ thực chất là thời gian trung bình cần thiết để thu hồi khoản vốn đã đầu tư
hay để hoàn trả khoản vốn đã huy động . Thời lượng khác thời hạn và thời hạn
Khóa luận tốt nghiệp
trung bình ở chỗ thời lượng không chỉ có quan hệ với lưu chuyển tiền tệ mà còn
bị chi phối bởi lãi suất , hay nói cách khác thời lượng được xác định dựa trên cơ
sở giá trị hiện tại của đồng tiền trong tương lai.
Công thức tổng quát xác định thời lượng của một tài sản :
D =
Trong đó: D : Thời lượng
PV
t
: giá trị hiện tại của khoản tiền
t : Khoảng thời gian khoản tiền được thanh toán
n : Số kỳ hạn còn lại của lưu chuyển tiền tệ
Từ công thức tính thời lượng của một tài sản , ta có thể tính được thời lượng của
Với k = L/A được gọi là tỷ lệ đòn bẩy
DGAP = D
A
- k D
L
Ta có thể biếu diễn sự thay đổi của VTC khi có sự thay đổi của lãi suất qua bảng sau :
21
Khoá luận tốt nghiệp
Bảng 1.7 : Tác động của RRLS đến ngân hàng theo mô hình thời lượng
Trạng thái khe hở kỳ hạn Thay đổi lãi suất Sự thay đổi gá trị VTC
DGAP > 0
Tăng Giảm
Giảm Tăng
DGAP < 0
Tăng Tăng
Giảm Giảm
DGAP = 0 Tăng,giảm Không đổi
Chiến lược bảo vệ tuyệt đối :Ngân hàng sẽ duy trì chênh lệch thời lượng tài sản
và nợ gần bằng 0 để giảm thiểu sự tác động của lãi suất tới giá trị ròng của
ngân hàng
Chiến lược năng động : Điều kiện áp dụng chiến lược này là phải có khả năng
phân tích ,dự báo tin cậy về xu hướng thay đổi lãi suất
Ngân hàng sẽ thường xuyên thay đổi chênh lệch thời lượng dựa trên mức độ tin cậy
đối với các dự báo về lãi suất của ngân hàng.
Bảng 1.8 :Chiến lược phòng ngừa RRLS theo mô hình thời lượng
Thay đổi lãi suất
dự tính
Chiến lược quản lý Kết quả
Lãi suất tăng
Giảm DA và tăng DL
nên không chính xác
Lãi suất chiết khấu được sử dụng có thể thay đổi trong suốt thời gian tồn tại của tài
sản do lãi suất thị trường biến đổi liên tục. Vì vậy, mô hình thời lượng chỉ có ý nghĩa
khi lãi suất thị trường biến đổi nhỏ.
3. Vấn đề trì hoãn thanh toán
Trên thực tế khách hàng có thể rút tiền hoặc trả nợ trước hạn làm cho thời hạn thực tế
có thể khác thời hạn tính toán
D, Phương pháp giá trị rủi ro VaR (value-at-risk)
VaR được phát triển dựa trên những kế thừa từ những phương pháp đo lường rủi
ro trước đó .Rủi ro được hiểu là độ bất định của giá. Phương pháp này không chỉ dừng
lại trong việc định lượng rủi ro lãi suất mà còn được sử dụng rộng rãi trong việc đo
lường các rủi ro khác như : rủi ro rín dụng ,rủi ro ngoại hối, rủi ro vận hành…qua việc
23
Khoá luận tốt nghiệp
đo lường giá trị tổn thất của một danh mục cụ thể .Với một danh mục cho trước xác
suất và khoảng thời gian ,VaR được xem là một ngưỡng giá trị mà khả năng bị tổn
thất trên giá trị điều chỉnh theo giá trị thị trường của danh mục đó trong khoảng thời
gian đinh trước vượt quá giá trị này (với giả định diễn biến thị trường như bình
thường và không có giao dịch mua bán danh mục ) chính là mức xác suất đã được cho
trước.
VaR biểu diễn rủi ro dưới dạng một con số duy nhất, là số tiền lớn nhất một
danh mục có thể bị thua lỗ với một độ tin cậy xác định ,thông thường ở mức 95%.Ví
dụ ,một danh mục chứng khoán với 95% VaR trong 1 ngày là 1 tỷ VND ,nói lên rằng
xác suất mà danh mục giảm giá trị trên 1 tỷ VND trong khoảng thời gian 1 ngày ,với
giả định rằng diễn biến thị trường như bình thường và không có giao dịch mua bán.
Thực chất, khoản tổn thất 1 tỷ VND hoặc cao trên giá trị danh mục này được kỳ vọng
chỉ xảy ra trên 1 ngày/20 ngày (5%). Khoản tổn thất vượt quá ngưỡng VaR được gọi
là “VaR break”
Điểm cần lưu ý là khi tính rủi ro lãi suất , các ngân hàng thường đề cập đến giá trị
của các trái phiếu có thể bị suy giảm bởi sự biến động của lãi suất trên thị trường