khóa luận tốt nghiệp quản trị rủi ro lãi suất tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT
NAM

Sinh viên thực hiện : Phạm Ngọc Hà
Lớp : Anh 3
Khóa : 45A
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Đình Thọ
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 35
CHƢƠNG II THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM 35
2. 1. Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam 35
2.1.1 Lịch sử hình thành 35
2.1.2 Quy mô hoạt động 36
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Ngoại
Thương Việt Nam trong giai đoạn 2006-2009 37
2.2 Diễn biến lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam 41
2.2.1 Chính sách điều hành tiền tệ của NHNN từ năm 2007 đến cuối
năm 2009 41
2.2.2 Tình hình lãi suất huy động và lãi suất cho vay tại Vietcombank 43
2.3. Thực trạng hoạt động Quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP
Ngoại Thƣơng Việt Nam 45
2.3.1 Mô hình tổ chức quản lý rủi ro lãi suất tại Vietcombank 45
2.3.2 Phương pháp quản lý TSN-TSC để phòng tránh rủi ro lãi suất tại
Vietcombank 47
2.3.2.1 Phương pháp sử dụng biểu đồ độ lệch 48
2.3.2.2. Phương pháp quản lý khe hở kỳ hạn 52
2.3.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Vietcombank 57
2.3.3.1 Kết quả đạt được 57
2.3.3.2 Những khó khăn tồn tại 58
2.3.3.3.Nguyên nhân hạn chế hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại
Vietcombank 61
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 69
CHƢƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG HOẠT
ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG TMCP
NGOẠI THƢƠNG VIỆT NAM 70
3.1. Định hƣớng hoạt động Quản trị rủi ro lãi suất tại NH TMCP Ngoại
Thƣơng Việt Nam 70

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ALCO
BIDV
CD
CK
DNNN
DPRR
DTBB
FED
FRA
GTCG
HĐKT
LNH
NHNN
NHTM
NHTMCP
TCTD
TSC
TSN
UB QLRR
VCB
Vietcombank
: Hội đồng quản lý Tài sản nợ - Tài sản có
: Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
: Chứng chỉ tiền gửi
: Chứng khoán
: Doanh nghiệp Nhà nước
: Dự phòng rủi ro

Bảng 3.1 Giá trị TSN-TSC theo các kỳ hạn định giá 81 Biểu đồ 2.1 Biểu đồ độ lệch 50
Biểu đồ 3.1. Mô hình quản lý rủi ro 76 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, toàn cầu hóa nền kinh tế không còn là vấn đề xa lạ mà đã và
đang trở thành một xu hướng phát triển tất yếu khách quan đối với nền kinh tế
của một quốc gia. Chính thức gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO)
cùng với các tổ chức hợp tác khu vực, Việt Nam nói chung và hệ thống ngân
hàng nói riêng đang từng bước nỗ lực làm mới mình, đón đầu hội nhập. Tuy
nhiên, bên cạnh đó, hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường cũng có
nhiều khó khăn, tồn tại, những rủi ro tiềm ẩn gây ảnh hưởng không nhỏ đến
kết quả kinh doanh và uy tín của ngân hàng. Vì vậy để cho hoạt động của
ngân hàng phát triển bền vững, an toàn và hiệu quả, các ngân hàng cần phải
kiểm soát và hạn chế rủi ro thông qua công tác quản trị rủi ro. Trong những
năm gần đây, quản trị rủi ro đã giành được sự quan tâm chú ý của các NHTM
Việt Nam, tuy nhiên chưa được xem xét một cách toàn diện. Hầu hết các
NHTM chỉ chú trọng tới quản trị rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản mà chưa
đi sâu, nghiên cứu các loại rủi ro đặc thù khác của NHTM như: rủi ro lãi suất,
rủi ro ngoại hối… và vận dụng các biện pháp quản lý những loại rủi ro này
trong hoạt động kinh doanh.
Thực tế cho thấy việc duy trì lãi suất ổn định trong một thời gian dài

suất trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt
Nam trong thời gian từ cuối 2007 đến cuối năm 2009.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tổng hợp
số liệu, phương pháp định lượng, phương pháp định tính, phương pháp phân
tích, phương pháp đánh giá… để xử lý các thông tin thu thập được từ lý
thuyết đến thực tiễn, qua đó rút ra nhận xét tổng quát và tìm giải pháp tối ưu.
6. Khó khăn của luận văn
Do Vietcombank chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc Quản trị rủi
ro lãi suất nên các mô hình quản lý hoặc không được xây dựng, hoặc chỉ được
xây dựng một cách khái quát nên em không thể nêu chi tiết mô hình tham
khảo, đánh giá chi tiết những mô hình đã được áp dụng.

3
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn được chia làm 3 chương:
- Chương I: Khái quát chung về hoạt động Quản trị rủi ro lãi suất tại các
NHTM
- Chương II: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP
Ngoại Thương Việt Nam
- Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động quản trị rủi ro lãi
suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam.
Trong quá trình thực hiện, do vốn kiến thức còn hạn chế, kinh nghiệm
thực tế hầu như chưa có, khóa luận tốt nghiệp vẫn cón tồn tại những thiếu sót.
Em xin kính mong nhận được sự đánh giá và góp ý của các thầy cô nhằm
hoàn thiện hơn nữa vấn đề nghiên cứu.
Em xin chân thành cảm ơn

mua bán chứng khoán, nhận các khoản tiền gửi huy động từ các tổ chức, cá
nhân với kỳ hạn và lãi suất khác nhau. Những hoạt động này luôn đặt thu
nhập cũng như giá trị vốn chủ sở hữu của Ngân hàng phụ thuộc vào sự biến
động của lãi suất thị trường. Do vậy, dù chấp nhận mức độ rủi ro nào hay theo
đuổi chiến lược quản trị rủi ro nào, các Ngân hàng cũng khó có thể loại bỏ
được hoàn toàn một trong những loại hình rủi ro tiềm tàng và nguy hiểm nhất:
Rủi ro lãi suất.
Rủi ro lãi suất được định nghĩa là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của
lãi suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn
thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng.
Căn cứ vào văn bản của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng, rủi ro lãi suất
có thể được xem xét để phân loại thành 4 loại rủi ro: Rủi ro định giá lại, rủi ro
cơ bản, rủi ro lựa chọn và rủi ro đường cong thu nhập.

5
- Rủi ro định giá lại là loại rủi ro phát sinh khi có sự không cân xứng về
thời hạn còn lại của các khoản mục tài sản áp dụng theo chế độ lãi suất cố
định và khi xảy ra việc định giá lại TSN, TSC của ngân hàng theo chế độ lãi
suất thả nổi. Ví dụ, một ngân hàng tài trợ một khoản cho vay dài hạn với lãi
suất cố định bằng việc huy động vốn với lãi suất ngắn hạn sẽ phải đối mặt với
sự giảm giá trị của cả thu nhập và vốn chủ sở hữu khi lãi suất thị trường tăng.
Sự sụt giảm này xảy ra là do dòng tiền vào của ngân hàng đối với khoản cho
vay là cố định trong suốt thời hạn của khoản vay trong khi lãi ngân hàng phải
trả cho việc huy động vốn là thay đổi. Trong trường hợp lãi suất tăng, lãi phải
trả tăng khi khoản huy động vốn ngắn hạn này đáo hạn.
- Rủi ro cơ bản là rủi ro phát sinh khi việc định giá lại không hoàn hảo
hoặc giống nhau giữa các khoản mục tài sản khác nhau, nghĩa là xuất hiện sự

năm. Khi đó, giá trị TSC của Ngân hàng sẽ giảm mạnh hơn so với sự giảm giá
trị TSN, dẫn đến rủi ro rất lớn đến việc giảm giảm giá trị tài sản ròng của
Ngân hàng.
1.1.2 Phương pháp xác định rủi ro lãi suất
 Phương pháp phân tích khoảng cách
Phân tích khoảng cách là chênh lệch giữa tổng số tài sản có loại nhạy cảm
với lãi suất và tổng số tài sản nợ loại nhạy cảm với lãi suất.
Ví dụ: Một ngân hàng thương mại A với số dư bình quân kỳ (Đơn vị: triệu
USD), lãi suất bình quân kỳ (%) như sau:
Tài sản có
Số dƣ
Tài sản nợ
Số dƣ
Tài sản có nhạy cảm
Trong đó:
-Chứng khoán ngắn hạn
-Tiền gửi tại các ngân
hàng
-Cho vay ngắn hạn
Tài sản có kém nhạy cảm
30

70
Tài sản nợ nhạy cảm
Trong đó:
-Tiền gửi thanh toán
-Tiền gửi có kì hạn ngắn

tồn tại của Macaulay, nó lượng định khoảng thời gian sống trung bình của
đồng tiền thanh toán của một chứng khoán. Về mặt đại số học, khoảng thời
gian tồn tại của Macaulay được định nghĩa là :
D=
Trong đó:
= thời gian tính đến lúc việc thanh toán tiền mặt được thực hiện.
CP

= thanh toán tiền mặt (lãi + gốc ) tại thời điểm
i = lãi suất
N = thời gian đến khi mãn hạn của chứng khoán này
Thay đổi tính bằng phần trăm về giá trị thị trường của chứng khoán bằng
xấp xỉ thay đổi phần trăm về lãi suất nhân khoảng thời gian tồn tại trong năm.
Sự phân tích khoảng thời gian tồn tại liên quan đến việc so sánh khoảng thời
gian tồn tại trung bình của những tài sản, nợ của ngân hàng đó. Quay lại với

8
bảng cân đối tàì sản của ngân hàng thương mại A, giả sử khoảng thời gian tồn
tại trung bình của những TSC của ngân hàng là 6 năm (tức là thời gian sống
trung bình của dòng thanh toán là 6 năm) và khoảng thời gian tồn tại trung
bình của những TSN của nó là 3 năm. Khi lãi suất tăng 5%, giá trị thị trường
của những TSC của nó giảm đi 5%* 6=30%, trong khi đó giá trị thị trường
của những TSN của nó giảm đi 5%*3=15%. Kết quả là giá trị ròng (giá trị thị
trường của những tài sản có trừ đi tài sản nợ) đã giảm (30%-15%=15%) của
tổng giá trị tài sản có ban đầu.
1.1.3 Sự cần thiết quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM
1.1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro lãi suất

điều kiện biến động của thị trường, Chính việc quan tâm hơn đến biến động
của lãi suất thị trường đã buộc các NHTM phải chủ động hơn trong việc xây
dựng kế hoạch huy động và sử dụng vốn, giảm tối thiểu sự chênh lệch giá trị
TSC-TSN.
Thứ hai: Quản trị rủi ro lãi suất tạo lợi thế cạnh tranh cho các NHTM.
Một lý do cơ bản cho việc thực hiện quản lý rủi ro lãi suất là những rủi ro
này sẽ làm phát sinh chi phí trong tương lai. Hiện tại, những tồn thất này mới
chỉ là xác xuất nhưng trong tương lai sẽ trở thành tổn thất thực sự. Vì vậy,
việc kiểm soát các chi phí trong tương lai cũng như hiện tại sẽ giúp NHTM
tăng thu nhập cả trong hiện tại và tương lai. Trong điều kiện cạnh tranh cho
phép, ngân hàng nên coi rủi ro là một yếu tố chi phí phải tính đối với khách
hàng. Do đó, quản lý rủi ro có liên quan mật thiết tới việc định giá hoạt động
cho vay của ngân hàng. Sự nhận biết các loại rủi ro là một yếu tố quan trọng
để đưa ra mức giá phù hợp với khách hàng. Nếu không thực hiện tốt việc
quản lý rủi ro lãi suất làm cơ sở cho việc định giá chính xác, một ngân hàng
sẽ mất lợi thế canh tranh với các NHTM khác và làm ảnh hưởng xấu tới hoạt
động kinh doanh của mình.
Thứ ba: Quản lý rủi ro lãi suất góp phần giúp các NHTM xác định mức
vốn tự có cần thiết nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng.
Việc đề cập đến các tổn thất trong tương lai làm nảy sinh vấn đề là phải
xác định mức độ tổn thất đó và trích dự phòng cho những tổn thất tiềm tàng

10
đó. Khả năng thanh toán của ngân hàng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi kết qua
kinh doanh. Để tránh tình trạng mất khả năng thanh toán, ngân hàng cần có đủ
số vốn tự có cần thiết để bù đắp cho những thiệt hại này.Tất nhiên trong thực
tế không phải số vốn tự có cần thiết của ngân hàng không phải lúc nào cũng

Thông qua việc duy trì tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chúng ta thấy rằng, việc
phối hợp giữa quản trị TSN và TSC phải luôn luôn được thực hiện song song,
hỗ trợ lẫn nhau mới có thể bảo vệ thu nhập dự kiến của Ngân hàng khỏi rủi ro
lãi suất. Để có thể thấy rõ hơn quan hệ giữa quản trị TSN và quản trị TSC,
chúng ta xem xét cách phòng chống rủi ro lãi suất thông qua việc xác định -
kiểm soát khe hở nhạy cảm lãi suất và việc quản lý khe hở kỳ hạn của các
ngân hàng.
1.2.2 Quản trị TS-Nợ thông qua quản trị khe hở nhạy cảm lãi suất
Để thực hiện việc quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất, ngân hàng cần tiến
hành phân tích kỳ hạn, định giá lại các cơ hội gắn với những tài sản sinh lợi
của ngân hàng, những khoản tiền gửi cũng như với những khoản vốn vay trên
thị trường. Tại bất cứ thời điểm nào, ngân hàng có thể tự bảo vệ trước những
thay đổi của lãi suất bằng cách bảo đảm cân bằng sau:
Giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất = Giá trị nợ nhạy cảm lãi suất
Trong đó:
- Tài sản nhạy cảm lãi suất là những TSC thể được định giá lại khi lãi
suất thay đổi: các khoản cho vay sắp đến hạn, các khoản cho vay và
chứng khoán có lãi suất thả nổi,…
- Nợ nhạy cảm lãi suất là những khoản vốn mà lãi suất được điều chỉnh
theo điều kiện thị trường: tiết kiệm ngắn hạn, tiền gửi mang lãi suất thả
nổi,…
Khi giá trị tài sản nhạy cảm lãi suất và giá trị nợ nhạy cảm lãi suất không cân
bằng, khe hở nhạy cảm lãi suất được hình thành:
Khe hở nhạy cảm lãi
suất (R)
= Giá trị tài sản nhạy
cảm lãi suất
- Giá trị nợ nhạy cảm lãi
suất
Mức thay đổi lợi nhuận =Quy mô khe hở nhạy cảm lãi suất * Mức thay đổi lãi

cảm lãi suất
 Khi R < 0: Rủi ro lãi suất xuất hiện khi lãi suất thị trường tăng vì NIM
giảm. Ngân hàng có thể không làm gì vì nghĩ lãi suất sẽ giảm hoặc ổn
định; hoặc thu hẹp kỳ hạn của TSC hoặc kéo dài kỳ hạn của danh mục

13
TSN; hoặc giảm TSN nhạy cảm lãi suất hoặc tăng TSC nhạy cảm lãi
suất.
Các ngân hàng lớn ngày nay thường xác định giá trị TSC nhạy cảm lãi suất
và giá trị TSN nhạy cảm lãi suất trong những khoảng thời gian khác nhau và
quản lý mức độ nhạy cảm lãi suất dựa trên quan điểm quản lý rủi ro và dựa
trên sự nhạy cảm về rủi ro của những người quản lý ngân hàng. Tuy nhiên, kỹ
thuật quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất còn có nhiều hạn chế. Sự lựa chọn thời
gian để phân tích hoàn toàn tùy theo từng ngân hàng. Đồng thời, lãi suất trong
hoạt động ngân hàng và lãi suất thị trường thay đổi với những tốc độ khác
nhau. Và cuối cùng, việc quản lý khe hở nhạy cảm lãi suất không nhằm mục
đích bảo vệ giá trị TSC và đặc biệt là không bảo vệ được giá trị ròng của ngân
hàng. Để làm được việc đó, chúng ta phải đi vào phân tích khe hở kỳ hạn.
1.2.3 Quản trị TS-Nợ thông qua quản trị khe hở kỳ hạn
Phương pháp này được sử dụng để khắc phục nhược điểm của việc dựa
vào khe hở nhạy cảm lãi suất để đánh giá rủi ro lãi suất là chỉ chú trọng vào số
liệu trên sổ sách kế toán của vốn mà không nghiên cứu đầy đủ tác động của
rủi ro lãi suất đến giá trị thị trường của vốn. Hơn nữa, quản lý khe hở nhạy
cảm lãi suất không đưa ra một con số cụ thể về mức độ rủi ro lãi suất tổng thể
của ngân hàng.
Để đi vào phân tích khe hở kỳ hạn, trước tiên chúng ta làm quen với khái
niệm kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả.

bình theo giá trị của
TSN

*

Khi khe hở kỳ hạn dương: Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản lớn
hơn Kỳ hạn hoàn trả trung bình nợ. Nếu lãi suất tăng sẽ làm giảm giá trị ròng
của ngân hàng bởi vì giá trị TSC giảm nhiều hơn giá trị TSN. Nếu lãi suất
giảm sẽ làm tăng giá trị ròng của ngân hàng.
Khi khe hở kỳ hạn âm: Kỳ hạn hoàn vốn trung bình của tài sản nhỏ hơn
Kỳ hạn hoàn trả trung bình nợ. Nếu lãi suất tăng sẽ làm tăng giá trị ròng của
ngân hàng. Nếu lãi suất giảm sẽ làm giảm giá trị ròng của ngân hàng.
Công thức chuẩn để tính kỳ hạn hoàn vốn và kỳ hạn hoàn trả của một công cụ
tài chính là:
Trong đó: YTM là tỷ lệ thu nhập mãn hạn
Như ta đã biết:
Giá trị ròng của ngân hàng
(NW)
= Giá trị tổng tài sản
(A)
- Giá trị tổng vốn huy
động (L)

15
16
một loại tiền nhất định theo một lãi suất nhất định trong khoảng thời gian từ
đến trong tương lai.
Tại thời điểm : Trên cơ sở mức lãi suất đã được xác định tại với mức lãi
suất hiện hành (lãi suất so sánh) trong khoảng thời hạn từ đến để thực
hiện thanh toán bù trừ bằng tiền mặt. Cụ thể:
- Nếu lãi suất so sánh > lãi suất ấn định tại , bên bán thanh toán phần
chênh lệch cho bên mua.
- Nếu lãi suất so sánh < lãi suất ấn định tại , bên mua thanh toán phần
chênh lệch cho bên bán.
Ví dụ: Một ngân hàng có khoản cho vay là 100 triệu USD với lãi suất
8,5%/năm có thời hạn từ 15/4/2009 đến 15/4/2010 và ngân hàng huy động
được một khoản tiền gửi 100 triệu USD với lãi suất 7,5%/năm có thời hạn từ
15/4/2009 đến 15/10/2009 để tài trợ cho khoản tín dụng trên. Có thể thấy
khoản tài trợ trên chỉ được 6 tháng, 6 tháng còn lại ngân hàng phải tìm kiếm
nguồn vốn mới. Nhưng sau 15/10/2009, khoản huy động 6 tháng có thể thay
đổi do lãi suất thị trường tại thời điểm đó thay đổi => ngân hàng gặp phải rủi
ro lãi suất. Để phòng ngừa rủi ro lãi suất, ngân hàng có thể ký một hợp đồng
vay 100 triệu USD với lãi suất LIBOR 6 tháng và một hợp đồng FRA lãi suất
FRA 7,5%/năm cộng với môt khoản tiền 100 triệu USD. Ngày ấn định lãi là
15/4/2009, ngày thanh toán là 15/10/2009 và ngày đến hạn là 15/4/2010. Ta
có sơ đồ sau:

Giao dịch nội bảng
15/4/2009 15/4/2010

sang nhà đầu cơ - những người sẵn sàng chấp nhận và hy vọng kiếm được lợi
nhuận từ chính những rủi ro này. Khi một ngân hàng liên lạc với nhà môi giới
ở Sở giao dịch và đề nghị bán hợp đồng tương lai (ví dụ, ngân hàng muốn tạo
ra thế đoản trong tương lai), điều này có nghĩa rằng ngân hàng cam kết giao
chứng khoán cho người mua theo hợp đồng với mức giá định trước vào một

18
ngày xác định trong tương lai. Ngược lại, một ngân hàng có thể gia nhập vào
thị trường tương lai với tư cách người mua hợp đồng (ngân hàng muốn tạo thế
trường trong tương lai), cam kết nhận chứng khoán và thanh toán cho hợp
đồng tại ngày mãn hạn thông qua tổ chức thanh toán bù trừ. Nghiệp vụ phòng
vệ rủi ro lãi suất trong tương lai nhìn chung đòi hỏi ngân hàng phải thiết lập vị
thế trên thị trường tương lai đối nghịch với vị thế hiện thời trên thị trường
giao ngay.
 Nghiệp vụ phòng vệ thế đoản:
Giả sử, lãi suất trên thị trường được dự tính sẽ tăng lên, làm tăng chi phí
huy động tiền gửi hay chi phí vay vốn trên thị trường tiền tệ của một ngân
hàng và đồng thời sẽ làm giảm giá trị các trái phiếu hay các khoản cho vay lãi
suất cố định mà ngân hàng hiện có hay dự định mua. Trong trường hợp này,
nghiệp vụ phòng vệ thế đoản có thể được sử dụng. Nhà quản lý ngân hàng sẽ
tham gia hợp đồng tương lai bán chứng khoán (tức là cho phép ngân hàng bán
chứng khoán) vào khoảng thời gian khi những khoản tiền gửi mới xuất hiện,
các khoản vay lãi suất cố định được thực hiện hay khi quy mô danh mục đầu
tư của ngân hàng tăng thêm. Nếu lãi suất thị trường tăng mạnh, chi phí trả lãi
đối với các khoản vốn huy động của ngân hàng sẽ tăng lên, giá trị các khoản
tín dụng lãi suất cố định và các chứng khoán ngân hàng nắm giữ sẽ sụt giảm.
Tuy nhiên, những tổn thất này sễ được bù đắp bởi khoản lợi nhuận từ các hợp

nhiên, trong một số tình huống, ngân hàng cần phải tiến hành các biện pháp
bảo vệ nhằm chống lại tổn thất do lãi suất thị trường giảm, đặc biệt khi ngân
hàng đang dự tính có một dòng tiền vào sắp xuất hiện. Ví dụ, nhà quản lý
ngân hàng dự tính rằng quy mô tiền gửi sẽ tăng đáng kể trong vài tuần hay vài
tháng tới nhưng lãi suất thị trường sẽ có thể giảm xuống. Động thái này sẽ
mang lại lợi thế cho ngân hàng xét trên quan điểm chi phí vốn, nhưng ngân
hàng sẽ phải đối mặt với sự sụt giảm trong khả năng sinh lợi và trong thu
nhập ròng. Nếu nhà quản lý ngân hàng không tiến hành các biện pháp phòng
chống rủi ro và nếu dự đoán nói trên trở thành hiện thực thì ngân hàng sẽ phải
chịu tổn thất lớn bởi vì lượng tiền gửi dự tính tăng thêm sẽ được đầu tư vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status