tài liệu ôn thi công chức, viên chức nhà nước (phần 1) - Pdf 18

TÀI LIỆU ÔN THI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC (PHẦN 1)
CHUYÊN ĐỀ 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo: - Hiến pháp năm 1992 (SĐ, BS năm 2001)
- Luật Tổ chức Quốc Hội (2002)
- Luật Tổ chức Chính phủ (2002)
- Luật Tổ chức HĐND và UBND(2003)
- Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (2002)
- Luật Tổ chức Viện Kiểm Sát nhân dân(2002).

1. Nguồn gốc và bản chất của Nhà nước
1.1. Sự ra đời của nhà nước
Về sự xuất hiện của nhà nước, từ trước tới nay có nhiều quan niệm khác
nhau.
Thuyết thần học là thuyết cổ điển nhất về sự xuất hiện nhà nước, cho
rằng Thượng đế là người sáng lập và sắp đặt mọi trật tự trên trái đất, trong đó
có nhà nước. Nhà nước do Thượng đế sáng tạo, thể hiện ý chí của Thượng đế
thông qua người đại diện của mình là nhà vua. Do đó việc tuân theo quyền lực
của nhà vua là tuân theo ý trời, và nhà nước tồn tại vĩnh cửu.
Những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng cho rằng nhà nước là kết quả
của sự phát triển gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con
người. Vì vậy, cũng như gia đình, nhà nước tồn tại trong mọi xã hội và quyền
lực nhà nước về bản chất cũng giống như quyền gia trưởng của người chủ
trong gia đình.
Trong thời kỳ phục hưng xuất hiện các quan niệm mới về sự xuất hiện
của nhà nước, trong đó nổi bật nhất là thuyết khế ước xã hội. Những người
theo học thuyết này cho rằng sự xuất hiện của nhà nước là kết quả của một
khế ước (hợp đồng) được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái
tự nhiên, không có nhà nước. Nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên
trong xã hội, chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân. Trong trường hợp nhà
nước không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì nhân

tổ chức lực lượng chống ngoại xâm trở nên bức thiết, cần hợp nhất cộng đồng,
thống nhất lực lượng và có bộ máy quản lý thống nhất. Bộ máy đó là mầm
mống của một nhà nước sau này. Trong giai đoạn đầu, nó chủ yếu làm các
chức năng xã hội. Tuy nhiên, cùng với quá trình phân hoá giai cấp không
ngừng trong xã hội, dần dần nó trở thành bộ phận độc lập với xã hội, trở thành
bộ máy chủ yếu nhằm thực hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
trong xã hội.
1.2. Bản chất của nhà nước nói chung.
Trong xã hội có giai cấp, quyền lực chính trị luôn thuộc về một giai cấp
hoặc liên minh các giai cấp thống trị. Giai cấp cầm quyền tổ chức ra bộ máy
đặc biệt để duy trì sự thống trị đối với xã hội, buộc các lực lượng xã hội khác
phục tùng ý chí của mình. Bộ máy đó là nhà nước - tổ chức quyền lực chính
trị đặc biệt. Quyền lực chính trị, như C.Mác và Ph. Ăngghen đã chỉ rõ, về thực
chất là “bạo lực có tổ chức của một giai cấp để đàn áp giai cấp khác”.
3
Bản chất của nhà nước trước hết thể hiện ở tính giai cấp, nghĩa là nhà
nước luôn thực hiện ý chí và bảo vệ lợi ích cho giai cấp thống trị trong xã hội.
Tuy nhiên, ngoài tính giai cấp, nhà nước còn mang tính xã hội. Với tư cách là
tổ chức công quyền, nhà nước đại diện cho xã hội thực hiện chức năng quản lý
các quan hệ xã hội. Trong khi thực hiện các chức năng giai cấp, nhà nước ít
nhiều còn phải tính đến lợi ích chung của xã hội. Nhà nước phải giải quyết
những vấn đề nảy sinh trong xã hội, bảo đảm duy trì các giá trị xã hội đã đạt
được. Những đặc tính này được thể hiện khác nhau, phụ thuộc vào cơ sở kinh
tế - xã hội của các kiểu nhà nước.
1.3. Bản chất của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bản chất Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là biểu hiện cụ
thể bản chất nhà nước XHCN, thể hiện ở tính giai cấp, tính dân tộc, tính
nhân dân và tính thời đại.
- Nhà nước CHXHCN Việt Nam mang tính giai cấp công nhân dựa trên
nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ

2.1. Khái niệm bộ máy nhà nước.
Nhà nước CHXHCN Việt Nam là tổ chức quyền lực chính trị của nhân
dân Việt Nam, đại diện cho nhân dân thực hiện quản lý thống nhất mọi mặt
của đời sống xã hội trên các lĩnh vực đối nội và đối ngoại (kinh tế, văn hóa –
xã hội, quốc phòng, an ninh…). Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, đòi
hỏi phải lập ra hệ thống các cơ quan nhà nước. Mỗi cơ quan nhà nước là một
bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, đảm nhận những chức năng, nhiệm vụ
5
nhất dịnh, có cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động phù hợp với tính chất
các chức năng, nhiệm vụ được trao. Cùng với những chức năng, nhiệm vụ,
nhà nước còn trao cho các cơ quan những thẩm quyền tương ứng. Các cơ quan
nhà nước sử dụng thẩm quyền vào việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
mình theo quy định của pháp luật. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà
nước tuỳ thuộc vào tính chất của các chức năng, nhiệm vụ được giao nhưng
phải dựa trên những nguyên tắc chung, đảm bảo tính thống nhất của bộ máy
nhà nước.
Như vậy, bộ máy nhà nước là hệ thống thống nhất các cơ quan nhà
nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật, dựa trên những
nguyên tắc chung nhằm thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của nhà
nước.
2.2. Khái niệm về cơ quan nhà nước
Các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy nhà nước nói chung được thực hiện
thông qua các cơ quan nhà nước cụ thể. Nếu như nhà nước là một khái niệm
tương đối “trừu tượng” thì cơ quan nhà nước là một khái niệm cụ thể. Cơ quan
nhà nước là các bộ phận cấu thành nên bộ máy nhà nước. Đặc điểm cơ bản
của các cơ quan nhà nước là hoạt động của nó mang tính quyền lực nhà nước
và được đảm bảo hiệu lực bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Quyền lực
của mỗi cơ quan nhà nước là “quyền được trao” (thẩm quyền) tuỳ thuộc vào vị
trí, chức năng, nhiệm vụ của nó trong bộ máy nhà nước.
Như vậy, có thể hiểu cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ

- Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Đây là
chức năng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp luật cao
nhất, điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, tạo nên nền tảng của thể chế
xã hội.
Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan khác của nhà nước ban
hành phải dựa trên cơ sở Hiến pháp, luật để thực hiện Hiến pháp, luật và bảo
đảm tính thống nhất của pháp luật.
- Quốc hội quyết định những vấn đề cơ bản nhất về đối nội và đối ngoại
của đất nước: các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất
nước. Những vấn đề này có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển toàn diện của
đất nước cũng như duy trì trật tự, ổn định xã hội.
- Quốc hội xác định các nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước, trực tiếp thành lập các cơ quan quan trọng trong bộ máy nhà
nước; trực tiếp bầu, bổ nhiệm các chức vụ cao nhất trong các cơ quan nhà
nước ở Trung ương.
- Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động
của bộ máy nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Hoạt
động giám sát của Quốc hội được thực hiện thông qua việc nghe báo cáo công
tác của các cơ quan tối cao của nhà nước, thông qua hoạt động của các cơ
quan Quốc hội, đại biểu Quốc hội, thông qua các hình thức chất vấn của đại
biểu Quốc hội đối với những đối tượng xác định trong bộ máy nhà nước.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội gồm: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội
đồng dân tộc, các Uỷ ban Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu
Quốc hội.
2.3.2. Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
8
Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước trong các
quan hệ đối nội và đối ngoại (Điều 101, 103 Hiến pháp 1992 sửa đổi).
Chủ tịch nước có phạm vi quyền hạn khá rộng, bao quát nhiều lĩnh vực
của đời sống chính trị, xã hội.

tổ chức cán bộ; bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật; quản lý việc xây
dựng kinh tế quốc dân, thực hiện chính sách tài chính tiền tệ quốc gia; quản lý
y tế, giáo dục; quản lý ngân sách nhà nước; thi hành các biện pháp cần thiết
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; quản lý công tác đối ngoại; thực
hiện chính sách xã hội
Những quy định trên bảo đảm cho Chính phủ phát huy được vai trò là cơ
quan đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước. Trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn, Chính phủ có quyền giải quyết công việc với tính sáng
tạo, chủ động, linh hoạt trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được
pháp luật quy định
Chính phủ có quyền tham gia vào hoạt động lập pháp bằng quyền trình
dự án luật trước Quốc hội, dự án pháp lệnh trước Ủy ban Thường vụ Quốc
hội; trình Quốc hội các dự án kế hoạch, ngân sách nhà nước và các dự án khác
(Điều 112, Hiến pháp 1992).
Chính phủ theo Hiến pháp 1992 có Thủ tướng Chính phủ, được quy định
là người đứng đầu Chính phủ, do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội,
các Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ là thành
viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ lựa chọn, không nhất thiết phải là đại
biểu Quốc hội, và đề nghị Quốc hội phê chuẩn. Chính phủ không tổ chức ra cơ
10
quan thường vụ, mà một Phó Thủ tướng được phân công đảm nhận chức vụ
Phó Thủ tướng thường trực.
Trong hoạt động của Chính phủ, chế độ trách nhiệm tập thể, trách nhiệm
cá nhân được quy định rõ. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo
cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính
phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước; đồng thời thực hiện chế độ báo cáo
trước nhân dân về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết. Bộ
trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Thủ
tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách.

quyết có ý nghĩa pháp lý. Thông qua kỳ họp, ý chí của nhân dân địa phương
trở thành quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước cấp trên được bàn bạc
và các biện pháp thực hiện chúng được Hội đồng nhân dân vạch ra cụ thể,
quyền giám sát của Hội đồng nhân dân được thực hiện.
Hội đồng nhân dân họp thường lệ một năm hai kỳ. Trong trường hợp cần
thiết có thể họp bất thường. Các kỳ họp tiến hành công khai, theo trình tự, thủ
tục nghiêm ngặt dưới sự điều hành của Thường trực Hội đồng nhân dân (ở cấp
xã do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân chủ trì). Kết quả kỳ họp
thể hiện bằng Nghị quyết do Chủ tịch Hội đồng nhân dân cùng cấp ký chứng
thực.
2.3.5. Ủy ban nhân dân các cấp
12
Theo quy định của Hiến pháp 1992 (SĐ), Uỷ ban nhân dân do Hội đồng
nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và cơ quan
hành chính nhà nước ở địa phương.
Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn
bản của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân.
Theo Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm 2003, Uỷ
ban nhân dân có nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực khác nhau
của đời sống xã hội ở địa phương. Thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp
luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà
nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp tại các cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang; bảo đảm an ninh
chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện xây dựng lực lượng vũ trang và xây
dựng quốc phòng toàn dân; quản lý hộ khẩu, hộ tịch, quản lý công tác tổ chức,
biên chế, lao động tiền lương; tổ chức thu chi ngân sách của địa phương theo
quy định của pháp luật…
Thành phần của Uỷ ban nhân dân có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các
Uỷ viên, trong đó Chủ tịch phải là Đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp, do
Hội đồng nhân dân bầu (trừ trường hợp được thay đổi giữa nhiệm kỳ theo quy

tiếp thái độ, quan điểm của nhà nước đối với các vấn đề xã hội.
- Xét xử nhằm ổn dịnh trật tự pháp luật, giữ vững kỷ cương xã hội, bảo
đảm tự do, an toàn của con người, làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.
- Xét xử mang nội dung giáo dục pháp luật với bản thân đương sự cũng
như với xã hội, nâng cao ý thức pháp luật cho mỗi cá nhân, công dân, từ đó họ
14
có được những hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật trong các mối quan
hệ xã hội, tạo ra tinh thần tích cực đấu tranh của công dân phòng, chống các
hành vi vi phạm pháp luật.
Cơ cấu tổ chức của hệ thống Toà án gồm: Toà án nhân dân tối cao, Toà
án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân cấp huyện; Toà án quân sự Trung
ương, Toà án quân sự quân khu, toà án quân sự khu vực, và các Toà án khác
được thành lập theo quy định của pháp luật.
Hiến pháp và Luật tổ chức Toà án nhân dân quy định các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của Toà án.
- Về nguyên tắc tổ chức, các Toà án được tổ chức theo các nguyên tắc
sau:
+ Thẩm phán Toà án nhân dân các cấp được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ và
có thể bị miễn nhiệm, cách chức nếu không hoàn thành nhiệm vụ.Thực hiện
nguyên tắc này nhằm tạo điều kiện cho thẩm phán công tác ổn định trong
khoảng thời gian hợp lý, có điều kiện tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng,
nghiệp vụ, và bảo đảm tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử.
+ Việc xét xử của Toà án nhân dân có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân
theo quy định của pháp luật.
+ Toà án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
Nguyên tắc này đòi hỏi việc xét xử được tiến hành bởi một Hội đồng và
khi quyết định phải tiến hành theo nguyên tắc đa số. Thực hiện nguyên tắc này
nhằm đảm bảo tính đúng đắn, thận trọng của các quyết định xét xử.
+ Các Chánh án Toà án nhân dân phải chịu trách nhiệm và báo cáo công
tác trước các cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.

động và những việc khác theo quy định của pháp luật; Kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; Kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý, giáo dục
người chấp hành án phạt tù.
Về tổ chức, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có:
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc
tỉnh;
- Các Viện kiểm sát quân sự.
Cơ cấu tổ chức của mỗi Viện kiểm sát được quy định trong Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày
02 tháng 4 năm 2002.
Các Viện kiểm sát nhân dân tạo thành một hệ thống, tổ chức và hoạt động
theo các nguyên tắc được Hiến pháp quy định, bao gồm:
- Viện Kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh
đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
- Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương thành lập Uỷ ban kiểm sát để
thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng theo quy định của
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
3. Quan điểm, phương hướng kiện toàn bộ máy Nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
17
Trải qua quá trình hình thành và phát triển, Nhà nước ta luôn giữ một vai
trò lịch sử quan trọng trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy
nhiên, trong điều kiện đổi mới hiện nay bộ máy nhà nước đã tỏ ra cồng kềnh,
chứa đựng nhiều yếu tố chưa hợp lý, chất lượng và hiệu quả hoạt động trên

pháp, tư pháp.
- Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động
của Nhà nước nhằm tăng cường sự lãnh đạo điều hành tập trung thống
nhất của trung ương, đồng thời phát huy trách nhiệm và tính năng động,
sáng tạo của địa phương, khắc phục khuynh hướng phân tán cục bộ và tập
trung quan liêu, mỗi cấp, ngành đều có thẩm quyền, trách nhiệm được
phân định rõ.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng
giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng dối với Nhà nước.
Trong tiến trình đổi mới hiện nay, cùng với việc tiếp thu những giá trị của
nhân loại, từ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, Đảng ta đã đưa ra nội
dung xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với ̀5 đặc
trưng cơ bản sau đây:
Một là, Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về
nhân dân.
Hai là, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công rành mạch và
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp.
19
Ba là, nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp
luật và bảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều
chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Bốn là, Nhà nước tôn trọng và đảm bảo quyền con người, quyền công
dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân; thực hành dân
chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
Năm là, nhà nước Pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng cộng sản Việt
Nam lãnh đạo, đồng thời đảm bảo sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã
hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên.

+ Cơ cấu lại các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước theo hướng
giảm mạnh cấp phó, bỏ cấp trung gian, chuyển bộ phận phục vụ sang hợp
đồng dịch vụ.
+ Nghiên cứu cơ chế thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm
người đứng đầu cơ quan hành chính cấp dưới.
+ Tách hoạt động hành chính với hoạt động dịch vụ
+ Thành lập cơ quan tài phán hành chính để giải quyết khiếu kiện hành
chính.
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp:
+ Xây dựng cơ quan Tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, quyền con người.
+ Đẩy mạnh thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
+ Các phiên tòa xét xử phải bảo đảm tranh tụng công khai, đúng pháp
luật, bảo đảm tính độc lập của các cơ quan tham gia tố tụng.
+ Tăng thẩm quyền xét xử của tòa án cấp huyện
+ Có chiến lược chuyển Viện Kiểm Sát thành Viện Công Tố
21
+ Tăng thẩm quyền cho điều tra viên, thu gom đầu mối cơ quan điều tra
+ Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt
động lập pháp, hành pháp, tư pháp
- Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND các cấp:
+ Nâng cao tính thực quyền của HĐND, vai trò giám sát của HĐND
+ Phát huy hiệu lực, hiệu quả điều hành của UBND trong phạm vi được
phân cấp
+ Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, có sự phân định giữa chính
quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo.
Câu hỏi ôn tập:
1. Phân tích để làm rõ bản chất của Nhà nước CHXHCN Việt Nam?
2. Trình bày các quan điểm của Đảng về xây dựng, kiện toàn nhà nước
vững mạnh, trong sạch ở nước ta hiện nay?

Trong quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý hành chính là hoạt
động có vị trí trung tâm, chủ yếu. Đây là hoạt động tổ chức và điều hành để
thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất của nhà nước trong quản lý xã
hội.
Có thể hiểu quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền
hành pháp của nhà nước, đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật đối với hành vi hoạt động của con
người và các quá trình xã hội, do các cơ quan trong hệ thống hành chính
24
nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những mục tiêu,
chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Định nghĩa trên có ba nội dung cơ bản:
- Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp:
hành pháp là một trong ba nhánh quyền lực của nhà nước: Lập pháp, hành
pháp và tư pháp.
- Quản lý hành chính là sự tác động có tổ chức và có định hướng: Trong
quản lý hành chính nhà nước, chức năng tổ chức rất quan trọng,vì không có tổ
chức thì không thể quản lý được. Nhà nước phải tổ chức cả triệu người và mỗi
người đều có vị trí tích cực đối với xã hội, đóng góp phần của mình để tạo ra
lợi ích cho xã hội. Quản lý hành chính nhà nước có tính định hướng vì thông
qua tác động quản lý của mình các chủ thể quản lý hành chính nhà nước định
hướng hành vi con người và các quá trình xã hội theo những quỹ đạo, mục
tiêu nhất định.
- Quản lý hành chính nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo
nguyên tắc pháp chế: Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động thực thi
quyền lực nhà nước, sử dụng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước nhưng phải
trong khuôn khổ của pháp luật. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của
nhà nước pháp quyền.
2. Các tính chất và đặc điểm cơ bản của quản lý hành chính nhà nước
ở nước ta.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status