skkn cách dạy phần tiểu dẫn góp phần nâng cao hiệu quả giờ đọc văn - Pdf 18

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số
16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GDĐT đã nêu: “Phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi
dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Như vậy, khác với những lần cải cách giáo dục trước đây (1950, 1956,
1980), đổi mới giáo dục năm 2006 tập trung đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông. Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK giáo dục
phổ thông là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa
vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh (HS) với sự tổ chức và hướng dẫn
đúng mực của giáo viên (GV) nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo, góp
phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập,
tạo niềm tin và niềm vui trong học tập cho HS.
Trong những năm qua, việc đổi mới phương pháp dạy học đã có những
tiến triển đáng kể. Tuy nhiên, so với yêu cầu vẫn rất cần có sự tận tâm và cố
gắng của cả thầy và trò
Như chúng ta đã biết, bản chất của đổi mới phương pháp là phát huy tính
chủ động, tích cực của người học. Mô hình giờ học luôn được đánh giá cao là:
thầy thiết kế, trò thi công. Hơn nữa, chúng ta đang tích cực hưởng ứng phong
trào: xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Chất lượng dạy và học
của nhà trường nói chung, của từng bộ môn, từng giờ học nói riêng không thể
thiếu yếu tố thân thiện và tích cực; cũng có nghĩa là không chấp nhận việc làm
thay, nói hộ của thầy. Muốn thế, người thầy phải chú trọng khâu hướng dẫn HS
tự học, chủ động suy nghĩ và sáng tạo.
Ngữ văn là một môn học mang tính đặc thù và gồm các phân môn: Đọc
văn, Tiếng Việt, Làm văn. Trong đó phân môn Đọc văn chiếm một thời lượng
lớn (khối 10: 52/104 tiết; khối 11: 67/123 tiết; khối 12: 55/105 tiết). Trong phân
môn Đọc văn, số tiết đọc hiểu văn bản văn học (cũng là số tiết có phần Tiểu

Xuất phát từ những cơ sở trên, tôi nhận thấy việc dạy phần Tiểu dẫn như
thế nào để góp phần nâng cao hiệu quả giờ Đọc văn là hết sức cần thiết. Bởi
vậy, trong học kỳ II năm học 2012-2013, tôi đã đặc biệt chú trọng cách dạy Tiểu
dẫn trong các giờ Đọc văn ở các lớp: 11A5, 11A6, 11A7, 11A8 và đã đạt được
một số hiệu quả bước đầu. Vậy nên xin được trình bày ở đây để trao đổi cùng
đồng nghiệp.
2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Vai trò của Tiểu dẫn
Chúng ta đều biết, tác phẩm văn học ra đời chịu sự ảnh hưởng rất lớn bởi
yếu tố con người nhà văn, hoàn cảnh lịch sử xã hội, sự chi phối của đặc trưng
thể loại,…Trong chương trình SGK (từ năm 2000) những yếu tố này đã được
đưa vào phần Tiểu dẫn (trước mỗi văn bản văn học và khi thực hiện giờ dạy
trên lớp phần tìm hiểu tiểu dẫn quy định là mục Tìm hiểu chung). Điều đó đồng
nghĩa với việc dạy tốt tiểu dẫn là GV đã giúp HS không chỉ có được lượng thông
tin cần thiết mà còn tạo cho các em có được hứng thú tìm hiểu, khám phá giá trị
văn bản. Hơn thế, có những kiến thức ở phần tiểu dẫn sẽ theo suốt quá trình
khám phá văn bản.
Chẳng hạn, không thể thấm thía ý nghĩa của hành trình trở về trong tâm
tưởng đầy thiết tha nhưng không kém phần đau đớn của Hàn Mặc Tử với cảnh
cũ, người xưa trong Đây thôn Vĩ Dạ, nếu không biết ông đã từng có 2 năm học ở
Huế, đã từng có một mối tình đơn phương với người con gái ở Vĩ Dạ, và hiện tại
ông đang mắc căn bệnh quái ác (bệnh phong). Cũng không thể cảm nhận được
nỗi buồn cô đơn, nỗi sầu nhân thế, “lòng quê dợn dợn” với nỗi nhớ nhà da diết,
sâu nặng của Huy Cận trong Tràng giang nếu không biết nhà thơ quê Hà Tĩnh,
ra Hà Nội học từ năm 1939, chiều chiều ra bờ đê ngắm nhìn dòng sông Hồng
mênh mang sóng nước…Người đọc cũng cảm nhận được vẻ đẹp lãng mạn hào
hùng và giọng thơ tâm huyết sôi trào của của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội
Châu trong Lưu biệt khi xuất dương khi đặt bài thơ vào bối cảnh lịch sử và hoàn
cảnh sáng tác: Vào những năm cuối thế kỉ XIX, khi phong trào Cần vương chống

* Dạng cho bài học về văn bản tự sự.
Dạng này, về cơ bản cũng giống cấu trúc tiểu dẫn cho bài học về văn bản
trữ tình: giới thiệu những nét khái quát về tác giả, tác phẩm. Tuy nhiên, ở một số
bài học (văn bản là trích đoạn), phần giới thiệu về tác phẩm còn trình bày tóm
tắt nội dung toàn bộ tác phẩm. Ví dụ: Tiểu dẫn bài học: Người cầm quyền khôi
phục uy quyền (V. Huy-gô) có thêm phần tóm tắt nội dung tiểu thuyết Những
người khốn khổ; Tiểu dẫn bài học: Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng
Phụng (Học kỳ I) có thêm phần tóm tắt nội dung tiểu thuyết Số đỏ.
4
* Ngoài ra, ở một số tiểu dẫn còn có thêm phần giới thiệu khái quát về
đối tượng được đề cập trong văn bản
Chẳng hạn ở bài học Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác, ngoài giới thiệu
những nét chính về tác giả (Ăng-ghen) và văn bản được học, còn có thêm phần
giới thiệu khái quát về Các Mác (Mác là nhà triết học và lí luận chính trị vĩ đại
người Đức, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn
thế giới).
Tương tự, tiểu dẫn bài Tây Tiến (Ngữ văn 12), ngoài giới thiệu khái quát
về tác giả Quang Dũng và về bài thơ, SGK còn cung cấp thêm những nét cơ bản
nhất về đoàn quân Tây Tiến.
Nhìn chung, phần tiểu dẫn thường trình bày những nét khái quát về tác
giả, tác phẩm. GV căn cứ vào từng bài học cụ thể mà định hướng cho HS biết
chốt lại những ý nào là cơ bản, từ đó, giúp các em có những kiến thức quan
trọng, cũng như sự chủ động và hứng thú đi vào đọc hiểu văn bản.
2. Hệ thống giải pháp thực hiện
a) Hướng dẫn cho HS chuẩn bị trước ở nhà
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là
thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo “Phương pháp dạy
học tích cực” (PPDHTC) nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học. Làm cho “Học” là quá
trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí

xoáy sâu vào những kiến thức trọng tâm, cần thiết cho việc đọc hiểu văn bản.
Đặc biệt là những thông tin xuyên suốt, bám sát và chi phối toàn bộ quá trình
đọc hiểu văn bản.
Chẳng hạn, ở phần tiểu dẫn bài Hầu Trời của Tản Đà, GV hướng HS chốt
lại những thông tin cơ bản sau:
+ Tác giả:
- Tên khai sinh: Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939); quê Ba Vì (Hà Tây):
bên bờ sông Đà, gần chân núi Tản Viên.
6
- Là một thi sĩ mang đầy đủ tính chất “con người của hai thế kỉ” cả về học
vấn, lối sống và sự nghiệp văn chương.
- Có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn học Việt Nam- gạch nối giữa
văn học trung đại và văn học hiện đại.
+ Bài thơ:
- Xuất xứ: in trong tập “Còn chơi” (1921).
Cũng với cách như vậy, ở bài Vội vàng của Xuân Diệu, những thông tin
cơ bản được HS chốt lại như sau:
+ Tác giả:
+ Xuân Diệu (1916-1985), quê cha: Hà Tĩnh, quê mẹ: Bình Định.
+ Đến với cách mạng sớm, cả cuộc đời gắn bó với nền văn học dân tộc.
Là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”.
+ Là cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ và sự nghiệp văn
học phong phú
=> Là một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn.
+ Bài thơ:
+ Xuất xứ: được in trong tập “Thơ thơ” (1938), tập thơ đầu tay của Xuân
Diệu.
+ Là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách
mạng tháng Tám.
Như vậy, dạy phần tiểu dẫn cần đảm bảo các yêu cầu: đúng kiến thức,

“Những nan đề do Phan Châu Trinh xác định từ thế kỉ XX các thế hệ người Việt
Nam còn phải đảm nhận lâu dài”
Việc đưa thêm những thông tin trên là cần thiết để giúp HS hiểu đúng
những đóng góp quan trọng của các tác giả cũng từ đó hiểu hơn văn bản được
học.
Tiểu dẫn thường đưa kiến thức khái quát (dạng văn học sử). Quá trình đọc
hiểu tiểu dẫn chính là nhằm chốt lại những kiến thức khái quát ấy. Tuy nhiên,
trong những bài học cụ thể, GV nên có lời bình để tạo sự hứng thú cho HS.
8
Chẳng hạn, khi đọc hiểu tiểu dẫn bài Tràng giang của Huy Cận, ở phần khái
quát về tác giả, ngoài thông tin trong SGK, GV nên đưa thêm: thơ Huy Cận luôn
thấm đẫm một nỗi buồn. Ai cũng biết thơ mới thường buồn. Nỗi buồn trong thơ
Huy Cận có những sắc thái riêng. Theo Hoài Thanh, đấy là “Cái buồn toả ra từ
đáy hồn một người cơ hồ không biết tới ngoại cảnh”. Có lẽ vì thế, thơ Huy Cận
thường khắc hoạ những cảnh lụi tàn, bơ vơ, hoang vắng, chia lìa, dường như nhà
thơ “lượm lặt những chút buồn rải rác để sáng tạo nên những vần thơ ảo não”
(Hoài Thanh)
Cũng như vậy, khi tìm hiểu tiểu sử Xuân Diệu, GV nói rõ hơn về xuất
thân của nhà thơ (quê cha: Hà Tĩnh, quê mẹ: Bình Định):
- Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm
- Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Hai phía đèo Ngang: một mối tơ hồng.
Và kết quả sự kết hợp kì diệu của mối tơ hồng từ hai phía đèo Ngang ấy
đã để lại cho đời một “ông hoàng thơ tình”, một nhà thơ “mới nhất trong các nhà
thơ mới”.
c) Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp.
Trong tiến trình dạy học, GV sẽ sử dụng rất nhiều câu hỏi, và mỗi câu hỏi
đều có một vai trò, vị trí khác nhau. Tuy nhiên, nếu ở phần Đọc - hiểu văn bản
chủ yếu là câu hỏi khám phá, phát hiện,…thì ở phần Tìm hiểu chung (đọc hiểu

+ Bài thơ:
- Bối cảnh lịch sử: Tình hình chính trị trong nước đen tối, các phong trào
yêu nước thất bại; ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ nước ngoài tràn
vào.
- Hoàn cảnh ra đời: Viết trong buổi chia tay bạn bè lên đường sang Nhật
Bản.
* Câu hỏi nhấn mạnh trọng tâm và tạo ấn tượng.
10
Dạng câu hỏi này hướng HS vào trọng tâm của kiến thức và tạo ấn tượng
tốt cho HS về văn bản.
VD: Thông tin nào trong phần tiểu dẫn của SGK giúp chúng ta hiểu rõ
hơn về văn bản?
Với câu hỏi này, khi đọc hiểu tiểu dẫn bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc
Tử, HS trả lời như sau:
Thông tin trong phần tiểu dẫn của SGK giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn
bản đó là: Qua diện mạo hết sức phức tạp và đầy bí ẩn của thơ Hàn Mặc Tử,
người ta vẫn thấy rõ một tình yêu đến đau đớn hướng về cuộc đời trần thế
Cũng câu hỏi trên, khi đọc hiểu tiểu dẫn bài Vội vàng, HS đã trả lời:
Thông tin trong phần tiểu dẫn của SGK giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn
bản là: Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”. Ông đã đem
đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện
một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo.
Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi,
đắm say, yêu đời thắm thiết.
* Câu hỏi định hướng phương pháp đọc hiểu văn bản.
VD: Tác phẩm thuộc thể loại nào? Đặc trưng thể loại đó là gì?
Em hãy đề xuất hướng đọc hiểu văn bản?
Đây là câu hỏi chuyển tiếp từ đọc hiểu tiểu dẫn sang đọc hiểu văn bản.
Với những câu hỏi này, ở bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu, HS
trả lời như sau:

cần thiết. Bởi môn Ngữ văn là môn học cần ghi chép nhiều và yêu cầu phải soạn
bài. GV có kiểm tra thì HS mới có ý thức ghi bài, chuẩn bị bài đầy đủ, nhất là
với những HS học ban cơ bản A, B, không có hứng thú và cũng không đầu tư
cho bộ môn Ngữ văn.
* Kiểm tra việc chuẩn bị bài mới thay vì vẫn thường kiểm tra bài cũ (nếu
thấy phù hợp).
Ví dụ: Khi đọc hiểu văn bản Người cầm quyền khôi phục uy quyền của V.
Huy-gô (tiết 98,99), GV kiểm tra việc chuẩn bị bài ở nhà của HS bằng việc yêu
12
Tác phẩm
Sự nghiệp
cầu các em trình bày tóm tắt nội dung toàn bộ tác phẩm Những người khốn khổ.
Phần tóm tắt này có ở Tiểu dẫn của SGK mà nếu không đọc trước ở nhà thì các
em sẽ không thể trả lời được.
Hoặc khi học bài Lưu biệt khi xuất dương của Phan bội Châu, GV kiểm
tra việc chuẩn bị bài của HS bằng việc yêu cầu các em vẽ sơ đồ tư duy phần
Tiểu dẫn của bài học. HS vẽ như sau:

Việc kiểm tra chuẩn bị bài của HS thực sự có tác dụng động viên, khuyến
khích kịp thời sự tiến bộ của các em trong quá trình học tập cũng như nhắc nhở,
uốn nắn những HS còn lơ là, chểnh mảng trong học bộ môn.
Như vậy, giờ học Ngữ văn (nói chung), giờ Đọc văn (nói riêng) đều nhằm
hướng đến Kết quả cần đạt. Việc xác định được cách dạy Tiểu dẫn chính là góp
phần đạt đến cái đích ấy. Hơn nữa, trong thực tế có nhiều kiến thức, nhận định
trong phần Tiểu dẫn đã trở thành đề thi dạng tái hiện kiến thức, thành những gợi
ý cho đề văn nghị luận trong kiểm tra đánh giá, thi tốt nghiệp, đại học,…Đặc
biệt trong những năm gần đây, khi chúng ta dạy học theo yêu cầu đổi mới thì
việc bám sát kiến thức cơ bản ở sách giáo khoa để ra đề thi càng được quan tâm.
GV nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề và quan tâm đúng mực, thì sau khi
hoàn thành tiết dạy đã tạo được sự cộng hưởng thú vị từ tiểu dẫn đến văn bản;

11A5 48 09 02 32 35 07 11
11A6 48 06 04 37 32 06 12
11A7 48 04 03 32 27 12 18
11A8 48 11 03 34 34 04 11
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
14
Là một người thầy, khi đứng trên bục giảng, cũng như tất cả đồng nghiệp,
tôi luôn băn khoăn, trăn trở để tìm phương pháp giảng dạy tối ưu nhất. Đặc biệt
là với đối tượng HS mà đầu vào còn khiêm tốn, cộng với niềm yêu thích học bộ
môn Ngữ văn đang có phần mai một, thì lại càng cần hơn bao giờ hết sự cố
gắng, tận tâm của người thầy. Một khi chúng ta giúp HS có được cái nhìn khái
quát, sâu sắc về tác giả văn học, tác phẩm văn học và gợi được những hứng thú
ban đầu thì nhất định các em sẽ không bao giờ thụ động khi đi vào đọc hiểu văn
bản văn học. Việc chú trọng dạy tốt phần Tiểu dẫn thực sự đã giúp tôi có được
những thành công đáng kể trong giảng dạy bộ môn.
Đổi mới phương pháp giảng dạy nói chung, dạy học Ngữ văn nói riêng đã và
vẫn đang được tiến hành tích cực và có hiệu quả. Vì vậy, tôi thiết nghĩ, bài viết
này chỉ là một đóng góp nhỏ trong phong trào và sự nghiệp chung. Những kinh
nghiệm của bản thân chắc chắn chưa được trọn vẹn. Rất mong được đồng
nghiệp góp ý để hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hoá, ngày 10 tháng 4 năm
2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác

Nguyễn Thị Thêm


- Đa số GV trong tổ còn trẻ, có năng lực và triển vọng;
- Có nhận thức và ý thức tốt trong công tác triển khai Quy chế và chương
trình BDTX giáo viên.
b) Khó khăn:
- 6/7 GV trong tổ có con nhỏ
- Lần đầu tiên triển khai cụ thể kế hoạch đến từng cá nhân nên có phần lúng
túng
- Không chủ động được về thời gian và nguồn tài liệu của chương trình
II. Đặc điểm về đội ngũ

TT Họ và tên Trình độ
1 Nguyễn Thị Thêm Đại học
2 Lê Thị Kim Anh Thạc sỹ
3 Lương Thị Thuỳ An Thạc sỹ
4 Trần Thị Hoài Đại học
5 Hoàng Thị Hồng Đại học
6 Nguyễn Thị Thuý Đại học
7 Hoàng Thị Xuân Đại học
B. Kế hoạch chung
I. Mục tiêu
1. Cập nhật kiến thức về chính trị, kinh tế - xã hội, bồi dưỡng phẩm chất chính
trị, đạo đức nghề nghiệp, phát triển năng lực dạy học, năng lực giáo dục và
những năng lực khác theo yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên, yêu cầu nhiệm
vụ năm học, cấp học, yêu cầu phát triển giáo dục của địa phương, yêu cầu đổi
mới và nâng cao chất lượng giáo dục.
17
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRÃI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thanh Hoá, ngày 20 tháng 04 năm

5
- Tập trung: 5t
tự học: 5 tiết
- Tự học
- Nắm vững và thực hiện tốt
- Biết cách tìm kiếm, khai
thác
Tháng
10/2013
- Nội dung 1
- Nội dung 3: Các bước cơ bản
trong thực hiện phương pháp
tìm kiếm, khai thác, xử lí thông
tin phục vụ bài giảng
2
10
- Tự học
- Tập trung: 5t;
tự học: 5 tiết
- Nắm vững và thực hiện tốt
- Sử dụng được các phương
pháp, kĩ thuật tìm kiếm, khai
thác, xử lí
Tháng
11/2013
- Nội dung 1
- Nội dung 3: Các phương
pháp dạy học tích cực
2
10

2/2014
- Nội dung 1
- Nội dung 3: Ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học
2
10
- Tự học
- Tập trung: 5t
tự học: 5 tiết
- Nắm vững và thực hiện tốt
- Nâng cao hiệu quả giờ dạy
Tháng
3/2014
- Nội dung 1
- Nội dung 3: Vai trò của kiểm
tra đánh giá kết quả học tập
của học sinh
2
5
- Tự học
- Tự học
- Nắm vững và thực hiện tốt
- Xác định được vai trò của
kiểm tra, đánh giá
Tháng
4/2014
- Nội dung 1
- Nội dung 3: Các phương
pháp kiểm tra đánh giá kết quả
2

Tháng
7/2014
- Nội dung 2: Ngữ văn địa
phương
5 - Tự học Đáp ứng yêu cầu thực hiện
nhiệm vụ phát triển giáo dục
của điạ phương
Tháng
8/2014
- Nội dung 2: Ngữ văn địa
phương
20 Tập trung: 10t;
tự học: 10 tiết
Đáp ứng yêu cầu thực hiện
nhiệm vụ phát triển giáo dục
của điạ phương
Tổng 120
BAN GIÁM HIỆU TỔ CHUYÊN MÔN GIÁO
VIÊN
(Ký duyệt)
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status