Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
A.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
1.1. Cơ sở lí luận:
Để phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình chiếm
lĩnh tri thức nhằm thực hiện mục tiêu biến người học thành trung tâm, các
phương pháp dạy học mới khuyến khích sử dụng nhiều trong quá trình dạy học.
Tuy nhiên, cùng với sự tăng lên cả về cường độ và số lượng các phương pháp
dạy học mới, một số phương pháp dạy học truyền thống cũng vẫn đang khẳng
định được vai trò của mình trong quá trình giảng dạy. Trong đó phải kể đến hiệu
quả không nhỏ của phương pháp đàm thoại. Đàm thoại là phương pháp dạy học
có nhiều ưu điểm, dễ sử dụng và có nhiều hình thức sử dụng. Đây là phương
pháp sử dụng hầu hết trong các bài học và các tiết học. Vì vậy, những vấn đề về
phương pháp sử dụng phương pháp đàm thoại trong giảng dạy môn ngữ văn
đang và luôn là vấn đề được giáo viên quan tâm tìm hiểu.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Môn ngữ văn có giá trị đặc biệt quan trọng trong chương trình phổ thông
nó là chìa khoá để học sinh tiến vào mọi lĩnh vực khoa học, mọi hoạt động xã
hội. Nó có tác dụng sâu sắc và lâu bền đến đời sống tâm hồn, trí tuệ của các em.
Văn học là tiếng nói tình cảm, là hình thức nhuần nhị của tư tưởng tình cảm,
cảm xúc của con người. Văn học còn chấp cánh cho các em đến mọi thời đại văn
minh, với mọi nền văn hoá, xây dựng cho các em niềm tin vào cuộc sống con
người. Trang bị cho các em vốn sống, hướng cho các em vươn tới đỉnh cao của
chân – thiện – mĩ. Vậy làm sao giáo viên có thể vừa cung cấp trang bị tri thức,
tình cảm cho học sinh vừa khai thác được hiểu biết của học sinh về rất nhiều vấn
đề trong văn bản và những vấn đề đang diễn ra trong thực tế cuộc sống. Với
1
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm giải đáp một số yêu cầu và thực tiễn của
việc vận dụng phương pháp đàm thoại trong giảng dạy môn ngữ văn hiện nay.
Ngoài ra, nhằm tìm tòi, xây dựng và chia sẻ với các bạn đồng nghiệp về hệ
thống các giải pháp để vận dụng phương pháp này một cách có hiệu quả nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu vào việc vận dụng phương pháp đàm thoại
trong giảng dạy bài nghị luận xã hội.
4. Phương pháp tiến hành:
Để thực hiện đề tài này, tôi có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác:
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp – thống kê.
5. Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của đề tài gồm 2 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản và thực tiễn sử dụng
phương pháp đàm thoại.
- Chương 2: Vận dụng phương pháp đàm thoại vào giảng dạy một số
bài cụ thể trong chương trình ngữ văn.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN SỬ
DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI.
I. Một số vấn đề lí luận cơ bản về phương pháp đàm thoại.
1.Quan niệm về phương pháp đàm thoại:
3
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
thống để phát huy những ưu điểm từng các phương pháp dạy học. Việc sử dụng
phương pháp đàm thoại trong quá trình dạy học mang lại hiệu quả cao, góp phần
phát huy được tính tích cực chủ động, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo của học
sinh.
- Thứ nhất: Giúp giáo viên truyền tải nội dung kiến thức đến học sinh thông
qua những kiến thức của từng em khi xây dựng bài, từ đó các em thấy được ý
nghĩa của quá trình lao động tập thể, cộng đồng.
- Thứ hai: Với phương pháp đàm thoại, tất cả các em đều có cơ hội bộc lộ cái
“tôi” trước tập thể. Qua đó, chính các em tự rèn luyện cho mình sự tự tin, khả
năng trình bày, khả năng diễn đạt suy nghĩ của mình trước tập thể.
- Thứ ba: Với phương pháp này, học sinh độc lập suy nghĩ, tự lực phát triển
kiến thức mới. Nhưng qua đó, qua tranh luận, trao đổi trước lớp các em bộc lộ
được mình, cũng từ đó các em xác định được những khả năng của mình. Vì vậy,
khi kết thúc đàm thoại, các em có niềm vui của sự khám phá, say mê hơn trong
học tập va trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy.
- Thứ tư: Thông qua phương pháp này, học sinh có cơ hội tranh luận với
nhau, tranh luận với cả giáo viên, làm cho người dạy và người học gần gũi nhau
hơn và tạo được không khí thoải mái cho tiết học. Điều này giup giáo viên dễ
dàng nắm bắt được cơ bản về đối tượng dạy học, đồng thời bước đầu kiểm tra
được hiệu quả giảng dạy của mình.
b. Hạn chế: Quá trình sử dụng các phương pháp giảng dạy cho thấy bất cứ
phương pháp dạy học nào cũng mang tính hai mặt. Một mặt có những ưu điểm
rất rõ nét, mặt khác vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Phương pháp đàm thoại
bộc lộ rất nhiều ưu điểm nhưng đồng thời vẫn có những hạn chế không thể tránh
khỏi trong quá trình sử dụng.
5
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
niệm, phạm trù. Giáo viên có thể đặt ra nhiều câu hỏi trên cơ sở những dấu hiệu
bản chất của các khái niệm, phạm trù, mối liên hệ giữa chúng với kiến thức học
sinh đã có để kích thích tư duy liên tưởng nhằm hiểu được vấn đề.
Mỗi loại thể loại, khái niệm, giáo viên cần có cách đàm thoại, diễn giải riêng.
Có thể theo phương pháp phân tích hoặc tổng hợp tuỳ thuộc vào nội dung của
kiến thức cần truyền đạt.
Thứ hai, đàm thoại dẫn dắt:đây là hình thức đàm thoại mà giáo viên căn cứ
vào kiến thức của bài để nêu ra hệ thống câu hỏi theo một trật tự nhất định nhằm
giúp học sinh dần dần tiếp thu kiến thức cần lĩnh hội.
Đàm thoại dẫn dắt giúp học sinh hiểu được, nắm được kiến thức của từng đề
mục trong bài và toàn bài.
Dựa vào những câu hỏi và gợi ý của giáo viên cùng với vốn hiểu biết, kinh
nghiệm sống của mình, học sinh sẽ lần lượt trả lời câu hỏi, tiếp thu dần kiến thức
mới một cách tích cực chủ động.
Thứ ba, đàm thoại tìm tòi: Đây là phương pháp đàm thoại mà yêu cầu giáo
viên nêu ra các câu hỏi yêu cầu học sinh vận dụng ngững kiến thức cần thiết đã
thu nhận được trong học tập và trong hoạt động thực tiễn để tìm tòi ra câu trả lời
cho vấn đề đặt ra.
Ngoài ra, có thể dựa vào tiêu chí phân loại khác, giáo viên còn có thể sử
dụng một số hình thức đàm thoại khác.
7
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
Phương pháp vấn đáp tái hiện,được sử dụng khi giáo viên chỉ yêu cầu đòi
hỏi học sinh nhớ lại những kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không
cần phải suy luận.
Phương pháp vấn đáp giải thích- minh hoạ,nên được dùng khi giáo viên có
mục đích muốn nhằm sáng tỏ một vấn đề nào đó, giáo viên lần lượt đưa ra các
Thông qua phương pháp đàm thoại, giáo viên không chỉ giúp truyền đạt, gợi
mở kiến thức mới mà còn có thể khai thác được vốn kiến thức thực của học sinh.
Bên cạnh đó, học sinh còn có thể trao đổi, tranh luận với nhau về một số vấn đề
đang diễn ra trong đời sống thực tiễn xung quanh mình.
Sử dụng phương pháp đàm thoại còn là phương pháp giúp học sinh có cơ
hội bày tỏ một số thắc mắc của bản thân mình với giáo viên về một số vấn đề
liên quan đến nội dung bài học. Vì vậy, giáo viên có thể tranh thủ nhanh chóng
để kiểm tra hiệu quả giảng dạy của mình và mức độ nhận thức của học sinh. Từ
đó, giáo viên kịp thời có sự điều chỉnh phù hợp về phương pháp và cách thức
tiến hành giảng dạy.
Mặt khác, học sinh THPT là đối tượng có trình độ nhận thức, tư duy và logic
tương đối phát triển. Các em có thể nhạy cảm và linh hoạt trước những vấn đề
mà giáo viên đưa ra. Ngoài ra, ở đối tượng này đã có ý thức chủ động hợp tác
với giáo viên để thực hiện các thao tác trong các phương pháp nhằm mang lại
chất lượng dạy và học cao hơn.
* Khó khăn:
Phương pháp đàm thoại là phương pháp có nhiều ưu điểm, song nó chỉ phát
huy được hiệu quả khi có sự phối hợp, hợp tác giữa học sinh và giáo viên. Nếu
học sinh không tích cực tham gia vào hoạt động đàm thoại sẽ gây nên sự kéo dài
không mong muốn về mặt thời gian, làm ảnh hưởng đến hoạt động dạy và học.
9
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
Mặt khác, học sinh THPT đã có hiểu biết nhất định về một số vấn đề trong thực
tiễn liên quan đến bài học. Khi tiến hành nội dung đàm thoại, học sinh có thể
tranh luận với nhau, với giáo viên để giải đáp băn khoăn của mình. Vì vậy, việc
tổ chức định hướng cho học sinh phải luôn xoay quanh, sát với nội dung trọng
tâm là một yêu cầu quan trọng mà giáo viên phải thực hiện thành công.
Hai là, giáo viên cần chọn lọc những kiến thức cơ bản học sinh đã biết, có
liên quan đến nội dung bài học cần tìm hiểu, nếu là những vấn đề khó, phức tạp,
giáo viên cần có những gợi ý nhỏ để dẫn dắt học sinh vào vấn đề.
Nội dung này cần được giáo viên lưu ý trong sử dụng tất cả các hình thức
đàm thoại, đặc biệt là hình thức đàm thoại tái hiện. Nguyên nhân một số kiến
thức học sinh đã biết mà giáo viên cần khai thác, học sinh đã được tìm hiểu từ
lâu hoặc một số nội dung dài, khó nhớ giáo viên phải có những biện pháp tổ
chức thật linh hoạt, không để mất nhiều thời gian.
Ví dụ: Bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí, bài tập 2 trong phần luyện tập
trang 22 sách giáo khoa. Khi gợi ý cho học sinh giải thích “lí tưởng”, “cuộc
sống” và ý nghĩa câu nói của nhà văn Nga L. Tôn- xtôi, giáo viên nên đưa ra
những câu hỏi nhỏ hơn đễ học sinh dễ dàng trả lời:
- Tại sao lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường, vạch phương hướng cho
cuộc sống của thanh niên ta và nó thể hiện như thế nào?
- Vấn đề nghị luận là đề cao lí tưởng sống của con người và khẳng
định nó là yếu tố quan trọng làm nên cuộc sống con người ra sao?
Thứ ba:trong quá trình cuốn hút học sinh vào các hoạt động đàm thoại,
giáo viên nêu nên câu hỏi và kèm theo yêu cầu học sinh phải giải thích dựa trên
nhận thức, quan điểm, lối sống của từng học sinh để minh hoạ cho ý kiến của
mình khi trình bày trước tập thể. Đặc biệt để giúp học sinh khắc sâu kiến thức
mới, giáo viên cần có những dự kiến giải thích phù hợp với điều kiện địa
11
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
phương, điều kiện xã hội dựa trên kiến thức bài học, hoặc nếu có điều kiện tốt
hơn về cơ sở vật chất, giáo viên có thể minh hoạ kiến thức bằng tranh ảnh, đoạn
phim để giúp học sinh gắn với thực tiễn cuộc sống. Thông qua đó , giáo viên có
thể kịp thời nắm bắt được quan điểm, nhận thức của học sinh về một số vấn đề,
- Làm thế nào để sống có lí tưởng?
- Người sống không có lí tưởng thì hậu quả sẽ ra sao?
- Lí tưởng của thanh niên ta hiện nay là gì?
Giáo viên phải linh hoạt trong việc sử lí tình huống và mức độ yêu cầu.
Nếu câu hỏi quá dễ sẽ gây tâm thế chủ quan, không kích thích được học sinh.
Ngược lại, nếu câu hỏi quá khó, học sinh không giải quyết được sẽ làm mất thời
gian, ảnh hưởng tiến độ thực hiện các hoạt động trên lớp.
Thứ sáu,là người tổ chức và định hướng để thực hiện các xu hướng đàm
thoại, giáo viên phải tạo được không khí thoải mái, động viên, kích thích học
sinh, khéo léo xử lí những câu trả lời của học sinh có quan điểm, lập trường
chưa đúng đắn hoặc đưa ra ý kiến cảm nhận của cá nhân mình mọt cách thái
quá, tiêu cực.
Phần nội dung nghị luận xã hội, nghị luận về một hiện tượng xã hội hay nghị
luận về một tư tưởng, đạo lí không chỉ đòi hỏi trang bị kiến thức cơ bản của từng
bài mà còn đảm bảo được tính chuẩn mực về lập trường tư tưởng. Vì vậy trong một
số trường hợp học sinh thể hiện lập trường tư tưởng chưa đúng đắn, giáo viên cần
linh hoạt uốn nắn, điều chỉnh cho đúng yêu cầu.
Với những câu hỏi quá khó, sâu về vấn đề địa phương từ phía học sinh,
giáo viên chỉ nên dừng lại ở định hướng về mặt lí luận, lập trường tư tưởng.
13
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
Trên đây là một số điểm lưu ý mà bản thân tôi trong quá trình giảng dạy
đã rút ra. Theo quan điểm chủ quan, tôi cho rằng, nếu nắm vững được những
điểm này và xử lí, vận dụng linh hoạt trong giảng dạy, giáo viên có thể khai thác
được hiệu quả sử dụng của phương pháp đàm thoại.
4.Điều kiện để thực hiện phương pháp đàm thoại:
Phương pháp đàm thoại có thể thực hiện trong bất kì điều kiện cơ sở vật
phương pháp đàm thoại với một số phương pháp khác trong những trường hợp
cần thiết.
Ví dụ: Để minh hoạ - giải thích, giáo viên có thể sử dụng kết hợp với
phương pháp trực quan
Để làm rõ một đơn vị kiến thức khó, giáo viên có thể sử dụng bổ
trợ của phương pháp thuyết trình.
Để tạo thêm tình huống để đàm thoại, giáo viên có thể đưa học
sinh vào những tình huống có vấn đề thông qua phương pháp nêu và giải quyết
vấn đề hay phương pháp tình huống.
Học sinh là điều kiện và là yếu tố rất quan trọng quyết định đến hiệu quả
của việc thực hiện các thao tác trong phương pháp đàm thoại Nếu học sinh
không mạnh dạn, năng động, thiếu tự tin trong quá trình phát biểu, tranh luận, dễ
dẫn đến tình trạng giáo viên chuyển sang phương pháp diễn thuyết ngoài dự
kiến. Cũng có thể trong trường hợp này sẽ gây mất nhiều thời gian làm ảnh
hưởng đến kết quả, điều kiện của các hoạt động lên lớp.
Vì vậy, giáo viên cần đầu tư nghiên cứu về đối tượng giảng dạy của mình.
Trong những trường hợp cần thiết và đảm bảo yêu cầu để tiến hành thì giáo viên
mới sử dụng phương pháp này.
15
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
Qua đây ta thấy rằng, sử dụng phương pháp đàm thoại là cầu nối để giáo
viên có thể tiếp cận gần gũi với học sinh, nắm bắt được trình, nhận thức, mức độ
hiểu biết và cả những yếu tố về lập trường, quan điểm. Thông qua đó giáo viên
có thể bước đầu đánh giá được hiệu quả của phương pháp và cách thức thực
hiện các hoạt lên lớp để có sự điều chỉnh hợp lí, mang lại chất lượng và hiệu quả
giảng dạy ngày càng cao hơn.
Để thực sự thành công với phương pháp này thì sự chuẩn bị và những kĩ
Bước 4: Thực hiện trên lớp: giáo viên thực hiện dự án của mình trên lớp
với những dự kiến đã chuẩn bị sẵn dưới dạng một kịch bản. Trong toàn bộ quá
trình thực hiện, giáo viên phải đóng vai trò tổ chức và có sự chủ động linh hoạt
trong sử lí tình huống nảy sinh. Giáo viên phải lôi cuốn học sinh tích cực tham
gia các hoạt động, thao tác đàm thoại, hướng học sinh trả lời phù hợp với những
dự kiến giáo viên đã định sẵn.
Trong trường hợp học sinh bị cuốn vào các vấn đề trọng tâm, xa vào thảo
luận vấn đề quá nhiều, giáo viên phải là người linh hoạt điều chỉnh và định
hướng học sinh quay lại tập trung vào vấn đề cơ bản.
Bước này cũng là khâu quan trọng để đánh giá hiệu quả của việc thực
hiện phương pháp. Vì vậy, sau khi tiến hành xong các hoạt động đàm thoại, giáo
viên phải tổng kết, rút ra nội dung trọng tâm, cơ bản cần truyền đạt.
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÀM THOẠI VÀO BÀI
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI NGỮ VĂN 12
Tiết 13: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
I. Mục tiêu cần đạt:
- Kiến thức: Nắm được cách làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
+ Nội dung, yêu cầu của dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.
17
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
+ Cách thức triển khai nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Kĩ năng: Biết vận dụng các kiến thức và kĩ năng về nghị luận xã hội để
bình luận, đánh giá một hiện tượng đời sống.
- Thái độ: Có nhận thức, tư tưởng, thái độ và hành động đúng trước những
hiện tượng đời sống hằng ngày.
II. Chuẩn bị của thầy và trò:
- GV: SGK, SGV, bài soạn
+ Hiện tượng Nguyễn Hữu Ân là một hiện
tượng sống đẹp, thế hệ ngày nay cần có nhiều
tấm gương như Nguyễn Hữu Ân.
+ Bên cạnh đó, còn một số người có lối sống
ích kỉ, vô tâm, đáng phê phán, “lãng phí chiếc
bánh thời gian vào những việc vô bổ”.
18
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
- Bài viết sẽ sử dụng những
dẫn chứng nào?
- Cần vận dụng những thao
tác lập luận nào?
- Phần mở bài cần nêu lên
những gì? Giới thiệu về hiện
tượng như thế nào?
- Phần thân bài có những ý
chính nào? Tại sao?
- Hiện tượng Nguyễn Hữu Ân
có ý nghĩa gì, tiêu biểu cho
phẩm chất nào của thanh niên
+ Bài học: Tuổi trẻ cần dành thời gian tu
dưỡng, lập nghiệp, sống vị tha để cuộc đời
ngày một đẹp hơn.
- Dẫn chứng:
+ Một số việc làm có ý nghĩa của thanh niên
ngày nay tương tự như Nguyễn Hữu Ân: dạy
học ở các lớp tình thương, giúp đỡ người tàn
Ân?
- Những hiện tượng nào cần
phê phán?
- Em rút ra được bài học gì
cho những thanh niên, học
sinh ngày nay?
- Phần kết bài nêu lên điều
gì?
- Nghị luận đời sống là gì?
Nam đã và đang phát huy truyền thống Lá
lành đùm lá rách, tinh thần tương thân tương
ái, giúp đỡ lẫn nhau của cha ông xưa.
+ Hiện tượng Nguyễn Hữu Ân tiêu biểu cho
lối sống đẹp, tình yêu thương con người của
thanh niên ngày nay.
+ Một số tấm gương tương tự.
- Bình luận:
+ Đánh giá chung về hiện tượng:
Đa số thanh niên Việt Nam có ý thức tốt với
việc làm của mình, có hành vi ứng xử đúng
đắn, có tấm lòng nhân đạo, bao dung. Không
chỉ vì một số ít thanh niên có thái độ và việc
làm không hợp lí mà đánh giá sai toàn bộ
thanh niên.
+ Phê phán:
Một vài hiện tượng tiêu cực “lãng phí chiếc
bánh thời gian” vào những việc vô bổ, không
làm được gì cho bản thân, gia đình, bạn bè,
những người cần được quan tâm, chia sẻ.
+ Kêu gọi:
GV hướng dẫn, gợi ý cho HS
giải bài tập.
- - Lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc bàn về hiện tương gì
trong đời sống?
- - Tác giả đã sử dụng
những thao tác lập luận nào?
Nêu dẫn chứng và phân tích
tác dụng của chúng?
II. Luyện tập:
Bài tập 1:
a. Trong văn bản trên, bàn về hiện tượng
nhiều thanh niên, sinh viên Việt Nam du học
nước ngoài dành quá nhiều thời gian cho việc
chơi bời, giải trí mà chưa chăm chỉ học tập,
rèn luyện để khi trở về góp phần xây dựng đất
nước.Hiện tượng ấy diễn ra vào những năm
đầu của thế kỉ XX.
b. Tác giả đã sử dụng các thao tác lập luận:
+ Phân tích: Thanh niên du học mãi chơi bời,
thanh niên trong nước “không làm gì cả”, họ
sống “già cỗi”, thiếu tổ chức, rất nguy hại cho
tương lai đất nước
+ So sánh: nêu hiện tượng thanh niên, sinh
21
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
- - Nghệ thuật diễn đạt
+ Kêu gọi mọi người tránh xa các tệ nạn xã
hội.
3. Củng cố: Cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống.
4. Hướng dẫn tự học:
- Thế nào là nghị luận về một hiện tượng đời sống?
- Cách làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống?
22
Sáng kiến kinh nghiệm môn ngữ văn
“ Phát huy hiệu quả của phương pháp đàm thoại trong dạy học ngữ văn 12 THPT “
KẾT QUẢ KHẢO SÁT SAU KHI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI
Với những kinh nghiệm trong việc sử dụng linh hoạt phương pháp đàm thoại
trong quá trình dạy học hai bài nghị luận xã hội là nghị luận về một tư tưởng,
đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống đối tượng là học sinh lớp 12A
2
và12A
3
trường THPT Nguyễn Thị Lợi năm học 2012-2013 cho thấy học sinh
đều hứng thú học bài, hăng say phát biểu, tự tin thể hiện sự hiểu biết của mình
trước tập thể và dám tranh luận trước tập thể để bảo vệ ý kiến của mình. Kết quả
chấm trả bài viết số 1 và bài viết số 2 nghị luận xã hội như sau:
Lớp
Bài
viết
số
Sĩ
số
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
Điểm
pháp giảng dạy, đặc biệt sử dụng phương pháp đàm thoại để dạy những bài nghị
luận xã hội nói riêng và dạy môn ngữ văn nói chung. Rất mong được sự quan
tâm chia sẻ, góp ý của đồng nghiệp.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hoá, ngày 5 tháng 6 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác
Người viết
Trịnh Thị Bích Hằng
24