kinh nghiệm giáo dục đạo đức học sinh thông qua tiết sinh hoạt lớp chủ nhiệm ở thpt thọ xuân - Pdf 18

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT THỌ XUÂN 5
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH
THÔNG QUA TIẾT SINH HOẠT LỚP CHỦ NHIỆM
Người thực hiện: Lê Thị Hạnh
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Công tác Chủ nhiệm
THANH HÓA NĂM 2013
MỤC LỤC
I. Phần mở đầu 1
I.1. Lý do chọn đề tài 1
I.2. Đối tượng nghiên cứu 2
I.3. Phương pháp nghiên cứu 3
II. Phần nội dung 3
II.1. Cơ sở lý luận 3,4
II.2.Thực trạng 4
a) Thuận lợi- khó khăn 4,5
b) Các nguyên nhân, các yếu tố tác động đến đạo đức học sinh 5,6
c) Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra……6,7
II.3. Kinh nghiệm giáo dục đạo đức học sinh
thông qua tiết sinh hoạt lớp chủ nhiệm 8
a) Mục tiêu ………………………………… 8
b) Điểm mới trong đề tài…………………………….…………………8
c) Nội dung và cách thức tiến hành tiết sinh hoạt lớp ……….8,9,10,11
II.4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm và
giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu………………………….12,13,14
III.Kết luận, kiến nghị 14
III.1.Kết luận……………………………………………………………….14
III.2.Kiến nghị…………………………………………………………… 14
Phụ lục 1. Mẫu biên bản xếp loại thành viên trong tổ…………………… 15

trình của Bộ giáo dục – đào tạo ban hành. Thế nhưng, theo thói quen lâu nay
thông thường tâm trạng và ý nghĩ của thầy và trò, coi tiết sinh hoạt cuối tuần là
tiết không quan trọng, nội dung không rõ ràng, tính “linh hoạt” mỗi lớp một
cách, một chương trình, không khí tiết sinh hoạt trở nên nhàm chán, nặng nề,
ảnh hưởng đến tâm lí của thầy và trò muốn cho tiết sinh hoạt mau kết thúc. Nên
có lúc xảy ra tình trạng lớp ra trước lớp ra sau, dẫn đến tiết sinh hoạt lớp không
có hiệu quả và tác dụng thiết thực.
Là một giáo viên được phân công làm công tác chủ nhiệm, với sự ham học
hỏi kinh nghiệm của những đồng nghiệp đi trước, những giáo viên chủ nhiệm có
uy tín và kinh nghiệm tích luỹ được qua thực tế công việc, tôi xin được trao đổi
cùng các đồng nghiệp về “Kinh nghiệm giáo dục đạo đức học sinh thông qua
tiết sinh hoạt lớp chủ nhiệm” với mong muốn nâng cao hiệu quả của công tác
chủ nhiệm lớp, góp phần cùng nhà trường hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục
trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay.
1
I.2. Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 10a4, Trường THPT Thọ Xuân 5.
Học sinh lớp 11 b4, Trường THPT Thọ Xuân 5.
I.3. Phương pháp nghiên cứu.
Nhóm thứ nhất: Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và hình
thành kinh nghiệm ứng xử xã hội của học sinh. Nhóm này gồm:
Phương pháp đòi hỏi sư phạm.
Phương pháp tạo dư luận xã hội.
Phương pháp tập thói quen.
Phương pháp rèn luyện.
Phương pháp giao công việc.
Phương pháp tạo tình huống giáo dục.
Nhóm thứ hai: Nhóm các phương pháp hình thành ý thức (khái niệm,
phán đoán, niềm tin) cá nhân học sinh.Nhóm phương pháp này bao gồm:
Phương pháp đàm thoại.

còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân
văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này.
Theo kinh dịch:
Đạo đức theo quan niệm của người xưa là con đường, là năng lực phổ
biến điều hành mọi sự vận động và biến hóa không ngừng của vạn vật và sự
việc quanh ta.
Từ các khía cạnh trên đạo đức có thể định nghĩa:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các qui tắc, nguyên
tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao
cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong
quan hệ cá nhân với xã hội.
Khái niệm về giáo dục: Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức,
hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái
độ của người dạy và người học theo hướng tích cực. Nghĩa là góp phần hoàn
thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp
phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương
đại.
Theo từ "Giáo dục" tiếng Anh - "Education" - vốn có gốc từ tiếng La tinh
"Educare" có nghĩa là "làm bộc lộ ra". Có thể hiểu “giáo dục là quá trình, cách
thức làm bộc lộ ra những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục”.
3
Giáo dục bao gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như
là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, truyền
thụ sự hiểu biết. Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ
thế hệ này đến thế hệ khác. Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả
năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người.
Tư tưởng giáo dục của J.Comenxki “Con người muốn trở thành con người
thì phải có học vấn”, “Nhà trường chính là nơi đào tạo nên những con người
chân chính, là cái xưởng để chế tạo ra nhân đạo và hạnh phúc”. Ông còn nói:
“Người giàu có mà không có học vấn chẳng khác nào con lợn béo ị vì ăn cám;

đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ
thông tin đã hỗ trợ cho giáo viên và phụ huynh trong việc liên lạc, trao đổi, nắm
bắt nhanh những thông tin cần thiết trong phối hợp giáo dục; đồng thời hỗ trợ
4
tích cực cho hoạt động dạy của giáo viên trong những giờ lên lớp, trong những
hoạt động tập thể khiến học sinh thấy hứng thú hơn. Sự phối kết hợp giữa các tổ
chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường ngày càng trở nên chặt chẽ.
Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi kể trên, công tác chủ nhiệm lớp còn
gặp không ít những khó khăn, thách thức. Trong thời đại khoa học công nghệ và
kinh tế thị trường hiện nay, ngoài những tiện ích to lớn mà nó mang đến cho
nhân loại thì kèm theo đó là hàng loạt các tác động tiêu cực đến đối tượng học
sinh: xu hướng đua đòi chưng diện theo trang phục, mái tóc của các ca sĩ, diễn
viên trong phim ảnh không lành mạnh và đặc biệt là game online. Chính những
vấn đề này ảnh hưởng không ít đến việc học tập, việc hình thành nhân cách, đạo
đức của học sinh và gây ra rất nhiều khó khăn cho giáo viên chủ nhiệm trong
công tác giáo dục đạo đức học sinh.
b. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động đến đạo đức học sinh.
Ảnh hưởng từ gia đình:
Gia đình là nơi diễn ra những mối quan hệ xã hội đầu tiên của con người.
Những mối quan hệ trực tiếp giữa đứa trẻ và cha mẹ là những tác động qua lại
đầu tiên trong đời sống xã hội của đứa trẻ. Trong gia đình, các em nhận được
những kinh nghiêm và kỹ năng sống đầu tiên. Các hình thức giáo dục con cái
trong gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng giá trị nhân cách của học
sinh THPT.
Sự thiếu quan tâm chăm sóc của bố mẹ, gia đình và người thân. Một số
bậc phụ huynh cũng vì lo toan cuộc sống mưu sinh mà quên bẵng đi việc giáo
dục con cái, do đời sống gia đình khó khăn, quanh năm làm ăn lam lũ hoặc phải
đi làm ăn xa, hoặc các em thuộc gia đình có bố mẹ ly dị, thiếu sự chăm sóc của
bố hoặc mẹ, đôi khi thiếu cả hai, phải sống với ông bà cho nên không đủ điều
kiện chăm sóc, quản lý con cái, việc giáo dục con cái phó mặc cho Nhà trường.

cứng nhắc, chưa lôi cuốn, chưa cảm hóa và thuyết phục được học sinh. Khoảng
cách vô hình giữa thầy cô và học sinh còn quá lớn. Có nhiều vấn đề khó khăn
trong cuộc sống, trong học tập, học sinh không thể tâm sự chia sẽ với thầy cô
của mình, để lâu ngày bị dồn nén, bột phát thành nhiều hành động xấu, khó kiểm
soát.
Lứa tuổi này, tâm sinh lí của các em đang phát triển mạnh, các em ngày
càng có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu, đua đòi, thích
sự khẳng định mình , trong khi kiến thức về xã hội, gia đình, sự hiểu biết về
pháp luật còn hạn chế, nên chiều hướng học sinh hư, lười học, hiện tượng bỏ
giờ, trốn tiết, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức ngày càng nhiều.
c) Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra.
Đối với gia đình:
Gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn các giá trị của các em,
trước hết là nhân cách của bố mẹ, anh chị em, cách thức giáo dục và chăm sóc
của bố mẹ, lối sống của gia đình. Do vậy, việc xây dựng một lối sống, sự quan
tâm đúng mực của gia đình và sự gương mẫu của bố mẹ là điều kiện cần thiết để
hình thành định hướng giá trị nhân cách đúng đắn của các em. Chúng ta cần tôn
trọng những quan điểm, nhu cầu và mong muốn chính đáng của các em, sẽ là sai
lầm nếu chúng ta chỉ nhìn các em như là những đứa trẻ còn non nớt. Các hình
thức giáo dục con cái trong gia đình cần được bố mẹ và các thành viên trong gia
đình chú ý đặc biệt, tránh sử dụng các hình thức giáo dục thiếu tích cực và đặc
biệt là các hình thức giáo dục roi vọt, xâm phạm thể chất và tinh thần của con
em mình.
Gia đình cần kết hợp với nhà trường, xã hội trong việc giáo dục giá trị cho
các em, không nên phó mặc trách nhiệm giáo dục giá trị con em mình cho nhà
trường và xã hội.
Đối với sự phát triển xã hội và bùng nổ công nghệ thông tin.
Sự tìm tòi, bắt chước, thích giao lưu, đua đòi, thích sự khẳng định mình ở
lứa tuổi THPT là phổ biến. Cần có sự giáo dục kết hợp giữa gia đình và nhà
trường nhằm định hướng cho các em văn hóa sử dụng công nghệ thông tin. Cần

mang tính hình thức, hiệu quả tiết sinh hoạt còn thấp, học sinh ít hứng thú. Đôi
lúc nội dung sinh hoạt chỉ 10-15 phút, thời gian còn lại là nói chuyện, hát….
Không biết làm gì cho hết thời gian, lúc đó cả thầy và trò ngồi chờ tiếng trống.
Vì thế tiết sinh hoạt lớp nhiều lúc bị coi thường, hiểu quả thấp.
Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Mỗi cá nhân chịu
trực tiếp tác động theo nhiều chiều của môi trường mà cá nhân đó sống và sinh
hoạt. Giáo dục học sinh không thể tách các em ra khỏi xã hội và đưa vào một
môi trường giáo dục thật tinh khiết để ở đó các em chỉ được tác động bởi những
nhân tố tích cực. Tuy nhiên ta hoàn toàn có thể xây dựng nhà trường trở thành
trung tâm văn hóa của địa phương, ở đó các em dễ nhận thấy những giá đạo đức
và văn hóa đồng thời phải giáo dục các em ngay trong lòng xã hội, giúp các em
nhận thức, phân biệt được cái tốt cái xấu, điều nên làm, điều nên tránh, có sức đề
kháng với sự lôi kéo, cám dỗ của các trò chơi vô bổ, độc hại của tệ nạn xã hội.
7
Từ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, qua thực tế công tác bản thân, tôi
xin đề suất kinh nghiêm giáo dục đạo đức học sinh thông qua tiết sinh hoạt lớp
được trình bày trong phẩn ( II.3. Kinh nghiệm giáo dục đạo đức học sinh
thông qua tiết sinh hoạt lớp chủ nhiệm).
II.3. Kinh nghiệm giáo dục đạo đức học sinh thông qua tiết sinh hoạt lớp
chủ nhiệm.
a. Mục tiêu.
Tiến hành thực hiện đề tài này, bản thân tôi mong muốn mình sẽ hiểu biết
nhiều hơn đời sống tâm lí của học sinh trong lớp chủ nhiệm; nắm bắt được
những nguyện vọng, hiểu được những khó khăn mà các em gặp phải trong quá
trình quản lí và học tập để có những giải pháp kịp thời nhằm điều chỉnh việc tự
quản, động viên, giúp đỡ và giáo dục các em.
Thông qua tiết sinh hoạt, học sinh vi phạm sẽ nhìn nhận những sai trái và
có hướng điều chỉnh, hiểu nhiều hơn nguyện vọng mà giáo viên muốn gửi tới
các em; học sinh tự quản; ban cán sự được rèn luyện cách thức quản lí.
b. Điểm mới trong đề tài.

các nguồn: Sổ đầu bài, thầy cô bộ môn và cán bộ lớp. Cần nắm và phân loại các
thông tin trong giờ học và ngoài giờ học: Tiến bộ, sa sút, yếu có cố gắng, thiếu
tập trung… và việc thực hiện nội quy của tập thể lớp cũng như cá nhân học
sinh trong lớp.
Trao đổi, định hướng trước với cán bộ lớp về nhiệm vụ của tiết sinh hoạt
chuẩn bị thực hiện và kế hoạch tuần tiếp theo (dựa trên chủ đề hoạt động và
các công tác đột xuất của nhà trường và ban thi đua đoàn trường).
Chuẩn bị của học sinh:
Các tổ trưởng theo dõi thi đua của từng thành viên và cả tổ trong tuần làm căn
cứ xếp loại thi đua Từng thành viên.
Trên cơ sở của điều lệ trường trung học và quy chế 40 của Bộ giáo dục về
đánh giá xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT.
Trên cơ sở thực tiển nhà trường và địa phương, căn cứ nhiệm vụ năm học nhà
trường xây dựng hệ thống các văn bản quy định một cách cụ thể.
Quy định về xếp loại hạnh kiểm học sinh của nhà trường.(Thông tư
số 58/2011/TT-BGDĐT ngày 15/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
quy chế đánh giá, xếp loại học sinh THCS và học sinh THPT).
Quy định về xếp loại thi đua của đoàn trường.
Quy định về xếp loại thi đua của tập thể lớp.
Mẫu biên bản theo dõi xếp loại thi đua từng thành viên trong tổ.( Mẫu A-
phụ lục 1).
Cờ đỏ báo cáo tình hình thực hiện nền nếp.
Hoạt động 2: Tổng kết và đánh giá hoạt động trong tuần.
Đây là giờ sinh hoạt tự quản, giờ các em thực hiện phê và tự phê , tự đánh
giá các hoạt động của cá nhân và tập thể trong suốt tuần học. GVCN tiếp tục
nắm bắt tình hình lớp qua đó bổ sung thêm thông tin về sự tiến bộ hoặc sa sút
của mỗi học sinh trong lớp để động viên hay uốn nắn kịp thời.
Lớp Trưởng điều khiển lớp.
Các tổ trưởng báo cáo kết quả theo dõi thi đua của từng thành viên và cả
tổ trong tuần làm căn cứ xếp loại thi đua Từng thành viên.

Hoạt động 4: GVCN góp ý ,nhận xét và đánh giá.
GVCN cần đánh giá góp ý phương pháp làm việc của cán bộ lớp, uốn nắn
điều chỉnh để rèn luyện kỷ năng tự quản cho lớp.
Cần phát hiện và tuyên dương, động viên kịp thời các học sinh đã có sự
cố gắng phấn đấu trong tuần.
Cần phê bình nhẹ nhàng nhưng cương quyết những cá nhân sai phạm,
chây lười, lơ là trong học tập và thiếu tính thần trách nhiệm với tập thể. Phát
hiện và ngăn chặn kịp thời hiện tượng học sinh cá biệt.
Thưởng, phạt công minh đảm bảo được tính thuyết phục, thu hút và ràng
buộc học sinh. Tiếp tục rút kinh nghiệm với những kết quả đạt được đồng thời
góp ý bổ sung kế hoạch hoạt động theo định hướng giáo dục đã có.
Hoạt động 5: Hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Để tránh sự nhàm chán, căng thẳng của tiết sinh hoạt ngoài thái độ nhẹ
nhàng GVCN cần định hướng cho lớp có những tiết mục văn nghệ thư giãn
như: hát, kể chuyện vui, tấu hài, những trò chơi nhỏ… cũng có thể tổ chức tặng
quà sinh nhật cho các em có ngày sinh thuộc tháng hoặc tuần đang sinh hoạt,
đan xen hợp lý, linh hoạt giữa các hoạt động. Có như thế giúp các em cảm thấy
nhẹ nhàng và thích thú tăng thêm hiệu quả giờ sinh hoạt lớp.
Mục tiêu hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi THPT
như: Kỹ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa; Kỹ năng tổ chức quản lý và tham gia
các hoạt động tập thể với tư cách là chủ thể hoạt động; Kỹ năng tự học tập, tự
đánh giá kết quả học tập và rèn luyện, định hướng nghề nghiệp…phát triển toàn
diện về nhân cách của học sinh.
10
Yêu cầu khi tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp:
Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp(HĐNGLL) phải phù hợp với yêu
cầu, nguyện vọng và khả năng của học sinh; phát huy tính chủ động, sáng tạo và
tham gia tích cực của học sinh ; đảm bảo tính thực tiển, đa dạng hóa các hình
thức tổ chức, hoạt động trên cách tiếp cận kỹ năng sống.

của HS được hình thành và phát triển, hiệu quả giáo dục đạo đức của GVCN
trong tiết sinh hoạt được nâng cao. Tạo cho HS không còn mặc cảm đối với tiết
sinh hoạt, không còn tình trạng bỏ tiết trong ngày thứ bảy. Học sinh thấy được
tiết sinh hoạt là một tiết học không phải là một tiết kiểm điểm.
Muốn làm được điều này, GVCN phải nhiệt tình, năng động, ý thức được
tầm quan trọng của tiết sinh hoạt. Các hình thức và nội dung của tiết sinh hoạt
cuối tuần có thể rất phong phú và đa dạng, tuỳ từng trường, từng địa phương có
11
thể triển khai linh hoạt hơn để phù hợp với đặc điểm của học sinh trường mình,
góp phần giáo dục toàn diện đối với học sinh.
II.4.Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu
Nội dung của đề tài này đã được chính tác giả của đề tài thực hiện ở những
lớp chủ nhiệm của mình qua các năm học 2011– 2012 ở lớp 10 A4, năm học
2012– 2013 ở lớp 11 B4 đã đem lại những kết quả khá khả quan.
Cụ thể :
Năm học 2011– 2012 ở lớp 10 A4.
Đặc điểm của lớp
Thuận lợi:
Các em có ý thức xây dựng tập thể.
Luôn được nhà trường và các thầy cô giáo quan tâm, tânh tâm trong công
tác giảng dạy.
Đa phần phụ huynh quan tâm tới việc học tập, rèn luyện của con.
Khó khăn:
Không thuộc lớp định hướng của nhà trường đa phần học sinh có điểm
đầu vào thấp, lực học trung bình, hạnh kiểm trung bình, khá.
Một số phụ huynh đi làm xa, gửi con cho ông bà, bác… thiếu sự quan tâm
sát sao tới con cái.
Một số bộ phận học sinh có thói quen ham chơi từ cấp II, nên khi có điều
kiện học xa nhà có xu hướng buông thả trong học tập.

Hạnh kiểm
Tốt Khá TB Yếu
Sl % Sl % Sl % Sl %
10A4 48 48 25 52.1 19 39.6 3 6.3 1 2.1
12
Kết quả đạt được:
Lớp
SS
báo
cáo
KT
Hạnh kiểm
Tốt Khá TB Yếu
Sl % Sl % Sl % Sl %
10A4 48 48 26 54.2 20 41.7 2 4.2 0 0.0
Năm học 2012 – 2013 ở lớp 11B4
Đặc điểm của lớp
Thuận lợi:
Các em có ý thức xây dựng tập thể, đa phần cùng một xã(Xuân
Bái) có điều kiện kinh tế khá giả.
Luôn được nhà trường và các thầy cô giáo quan tâm, tận tâm trong
công tác giảng dạy.
Khó khăn:
Lớp không thuộc lớp định hướng của nhà trường đa phần học sinh
có lực học trung bình, hạnh kiểm trung bình chuyển từ các lớp về.
Phụ huynh một số xã (Xuân Bái) bận rộn buôn bán, ít quan tâm đến
con cái.
Một số phụ huynh đi làm xa, gửi con cho ông bà, bác… thiếu sự
quan tâm sát sao tới con cái.
Áp dụng phương pháp giáo dục trên, kết quả đạt được ở các kỳ học

Sl % Sl % Sl % Sl %
11B4 35 35 17 48.6 15 42.9 3 8.6 0 0.0
13
Kết quả đạt được:
Lớp
SS
báo
cáo
KT
Hạnh kiểm
Tốt Khá TB Yếu
Sl % Sl % Sl % Sl %
11B4 35 35 21 60.0 13 37.1 1 2.9 0 0.0
III. Phần kết luận, kiến nghị
III.1. Kết luận
Trên đây là kinh nghiệm của bản thân tôi trong việc giáo dục đạo đức học
sinh trong giờ sinh hoạt lớp. Khi thực hiện đề tài này tôi rất băn khoăn bởi vì kết
quả của việc giáo dục đạo đức theo hình thức này đôi khi không thể nhận thấy
ngay được. Với sự học hỏi của các đồng nghiêp nhiều năm làm công tác chủ
nhiệm, và kinh nghiệm bản thân tôi đã thực hiện kiên trì phương pháp trên và
nhận thấy hạnh kiểm cũng như thái độ ứng xử của tất cả học sinh ở lớp 10 a4
11 b4 đã thay đổi theo chiều hướng tốt hơn ở mức độ rõ rệt.
Chúng ta không thể giáo dục học sinh một cách rập khuôn, mà tùy theo
những bối cảnh cụ thể để tác động đúng cách, phù hợp với từng tình huống, từng
lứa tuổi. Đặc biệt là phải hiểu rõ được tâm, sinh lý của đối tượng cần giáo dục
mới có thể mong đem lại kết quả cao trong công tác giáo dục đạo đức. Đó là tất
cả những gì tôi muốn thể hiện qua đề tài này. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi
những thiếu sót trong đề tài, mong quý thầy cô, các bạn đồng nghiệp cùng đóng
góp bổ sung ý kiến để đề tài này được hoàn chỉnh hơn và có thể áp dụng được ở
tất cả các lớp.

Có mặt… ….vắng… có phép……không phép….…
GVCN ………………………………………………………………
Kết quả xếp loại hạnh kiểm:
TT Họ và tên
Xếp loại
Ghi chú
(Căn cứ xếp loại)
Tốt Khá TB Yếu
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
15
(Mẫu B- phụ lục 2)
Trường THPT Thọ Xuân 5 Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Lớp: 11 b4 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN SINH HOẠT LỚP
Tuần:…… - Học kỳ:……… - Năm học 2012 – 2013

TỔ 1 TỔ 2 TỔ 3 TỔ 4
Đi trễ
Nghỉ không
phép
Vi phạm
tác phong
Không thuộc
16
bài
Không chuẩn
bị bài
4.2 Các học sinh đạt thành tích tốt:
Thành
tích
Tên HS đạt thành tích tốt
TỔ 1 TỔ 2 TỔ 3 TỔ 4
Điểm tốt
Tích cực
xây dựng
bài
4.3 Xếp loại thi đua tổ: Tổ 1…… ….Tổ 2…….….Tổ 3…… ….Tổ 4………
5. GVCN tuyên dương, khen thưởng, nhắc nhở, phê bình:
5.1 Tuyên dương:
- Các HS có thành tích tốt:… ……………………………………………………
- HS đạt thành tích xuất sắc:…………………………… Tổ xuất sắc:………….
5.2 Nhắc nhở, phê bình:
STT HỌ TÊN HỌC SINH HÌNH THỨC XỬ LÝ
II. TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG TUẦN TỚI:
III. SINH HOẠT CHUYÊN ĐỀ:
Buổi sinh hoạt kết thúc vào lúc……….… giờ……… phút cùng ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status