Chương I: MỞ ĐẦU
1
Chương I – MỞ ĐẦU
I.1 Lý do chọn đề tài
Tính đến 31/6/2006, cả nước có 134 KCN, KCX với tổng diện tích đất tự
nhiên là 27.745 ha, tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê là 18.561 ha. .
KCN trên cả nước bao gồm 19 dự án có vốn ĐTNN và 112 dự án trong nước với
tổng vốn đầu tư đạt hơn 1 tỷ USD và 33 nghìn tỷ đồng. Trong đó, các KCN do
doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm chủ đầu tư chiếm số lượng lớn nhất: 45 KCN
với tổng vốn đầu tư 15.673 tỷ đồng; 33 KCN được đầu tư theo cơ chế đơn vò sự
nghiệp có thu với tổng vốn đầu tư hạ tầng đạt trên 7.424 tỷ đồng, các KCN còn
lại do doanh nghiệp nhà nước làm chủ đầu tư với tổng vốn đầu tư hơn 9.835 tỷ
đồng (34 KCN). Đến cuối năm 2005, có 79 KCN, đã hoàn thành xây dựng cơ bản
và đi vào vận hành; 51 KCN còn lại đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt
bằng và xây dựng cơ bản.
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều kiện
tập trung các chất thải do các doanh nghiệp thải ra để xử lý, tránh tình trạng khó
kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp do phân tán về đòa điểm sản xuất.
KCN góp phần thực hiện mục tiêu di dời các cơ sở sản xuất từ nội đô; tạo
điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong
việc kiểm soát ô nhiễm và có biện pháp xử lý kòp thời đối với hành vi gây ô
nhiễm của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp ngoài KCN.
Thực tế cho thấy một số KCN thực hiện rất tốt và hài hoà mục tiêu thu hút
đầu tư với giải quyết vấn đề về môi trường, thực sự là những "công viên công
nghiệp", là mẫu hình để các KCN khác tiếp tục triển khai áp dụng, điển hình là
KCN Biên Hoà II, KCN Thăng Long.
Trong thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường trong KCN mặc dù đã
được chú trọng hơn nhưng đa số các KCN trên phạm vi cả nước còn chưa được cải
thiện nhiều và chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn môi trường theo quy đònh.
Chương I: MỞ ĐẦU
3
yêu cầu cần thiết. Vì vậy, đề tài“tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải
tập trung KCN Thụy Vân tỉnh Phú Thọ” đã được được lựa chọn để thực hiện đồ
án tốt nghiệp.
I.2 Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát và nghiên cứu thực trạng nước thải phát sinh tại KCN Thụy Vân
để tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải tập trung phù hợp.
I.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu bằng các phương pháp sau đây
- Khảo sát thực đòa KCN Thụy Vân
- Thu thập, phân tích tổng hợp dữ liệu để tính toán và thiết kế
- Nghiên cứu tư liệu: đọc và thu thập số liệu về tình hình nước thải của
KCN và các hệ thống xử lý nước thải tại các KCN khác
- Phương pháp so sánh: phương pháp này nhằm đánh giá hiệu quả xử lý
nước thải đầu vào và ra theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5945 – 1995,
TCVN 6980-2001).
- Phương pháp phân tích chi phí lợi ích: nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế
trong quá trình xử lý nước thải của các phương pháp xử lý.
I.4 Nội dung đề tài
Đồ án tập trung nghiên cứu những nội dung chính sau:
- Nghiên cứu tổng quan các phương pháp xử lý nước thải công nghiệp
- Tìm hiểu những vấn đề kinh tế và môi trường tại khu công nghiệp Thụy
Vân.
- Tính toán thiết kế hệ thống xử lý nước thải tập trung KCN Thụy Vân.
- Khái toán kinh phí đầu tư xây dựng công trình cho hệ thống xử lý nước thải
KCN Thụy Vân.
Chương I: MỞ ĐẦU
4
Song chắn rác là công trình xử lý sơ bộ để chuẩn bò điều kiện cho việc xử
lý nước thải sau đó. Nhằm giữ lại các vật thô như rác, giẻ, giấy, mẫu đất đá,
gỗ,…ở trước song chắn rác. Song làm bằng sắt tròn hoặc vuông.
Hiệu quả thao tác ít hay nhiều, đều phụ thuộc vào kích thước khe song, ta có thể
chia thành:
- Song chắn rác tinh, khoảng cách nhỏ hơn 10mm.
- Song chắn rác trung bình, khoảng cách từ 10 đến 40mm.
- Song chắn rác sơ bộ, khoảng cách lớn hơn 40mm.
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
6
Hình 2.1: Song chắn rác tinh Hình 2.2: Song chắn rác thô
II.1.2 Lưới lọc
Sau chắn rác, để loại bỏ tạp chất rắn có kích cỡ nhỏ hơn, mòn hơn ta có thể
đặt thêm lưới lọc. Ngoài ra, lưới lọc còn giữ nhiệm vụ loại bỏ một phần đáng kể ô
nhiễm dưới dạng huyền phù và có thể khôi phục lại giá trò của nó.
Lưới lọc gồm các loại:
- Lưới lọc lõm tự động rửa sạch.
- Các tang quay có lưu lượng tới 1.500m
3
/h.
II.1.3 Lắng cát
Dựa vào nguyên lý trọng lực, dòng thải được cho chảy qua “bẫy cát”. Bẫy
cát là các loại bể, hố, giếng…cho nước thải chảy vào theo nhiều cách khác nhau:
theo tiếp tuyến, theo dòng ngang, theo dòng từ trên xuống và tỏa ra xung
8
Hình 2.4: Bể tách dầu mỡ
II.1.5 Lọc cơ học
Lọc trong xử lý nước thải để tách các tạp chất phân tán nhỏ khỏi nước mà
bể lắng không làm được. Trong các loại phin lọc thường có loại phin lọc dạng tấm
và loại hạt. Vật liệu dạng tấm có thể làm bằng tấm thép có đục lỗ hoặc lưới bằng
thép, không gỉ, nhóm, niken, đồng thau…và các loại vải khác nhau (thủy tinh,
amiăng, bông, len, sợi tổng hợp). Tấm lọc cần có trở lực nhỏ, đủ bền và dẻo cơ
học, không bò trương nở và bò phá hủy trong điều kiện lọc.
Các phin lọc làm việc sẽ tách các phần tử tạp chất phân tán hoặc lơ lửng
khó lắng nước. Các phin lọc làm việc không hoàn toàn dựa vào nguyên lý cơ học.
Do vậy, ngoài tác dụng tách các phần tử tạp chất phân tán ra khỏi nước, các màng
sinh học cũng đã biến đổi các chất hòa tan trong nước thải nhờ quần thể vi sinh
vật có trong màng sinh học.
Chất bẩn và màng sinh học sẽ bám vào bề mặt vật liệu lọc, dần dần bít các
khe hở của lớp lọc làm cho dòng chảy bò chậm lại hoặc ngừng chảy. Trong quá
trình làm việc, người ta phải rửa phin lọc, lấy bớt màng bẩn phía trên và cho nước
rửa đi từ dưới lên trên để tách màng bẩn ra khỏi vật liệu lọc.
Trong xử lý nước thải thường dùng thiết bò lọc chậm, lọc nhanh, lọc kín, lọc
hở. Ngoài ra, còn dùng loại lọc ép khung bản, lọc quay chân không, các máy vi
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
9
lọc hiện đại. Đặc biệt là đã cải tiến các thiết bò trước đây thuần túy là lọc cơ học
thành lọc sinh học, trong đó vai trò của màng sinh học được phát huy nhiều hơn.
II.2 Phương pháp hóa học và hóa lý
Cơ sở của phương pháp hóa học là các phản ứng hóa học, các quá trình hóa
lí diễn ra giữa các chất bẩn với hóa chất cho thêm vào. Các phương pháp hóa học
là oxi hóa, trung hòa, đông keo tụ. Thông thường các quá trình keo tụ thường đi
được. Ta có thể làm tăng kích thước các hạt nhờ tác dụng tương hỗ giữa các hạt
phân tán liên kết vào các tập hợp hạt để có thể lắng được. Muốn vậy, trước hết
cần trung hòa điện tích của chúng, kế tiếp là liên kết chúng với nhau. Quá trình
trung hòa điện tích các hạt được gọi là quá trình đông tụ, còn quá trình tạo thành
các bông lớn từ các hạt nhỏ gọi là quá trình keo tụ.
Các chất đông tụ thường dùng trong mục đích này là các muối sắt hoặc
muối nhôm hoặc hỗn hợp của chúng. Các muối nhôm gồm có: Al
2
(SO
4
)
3
.18H
2
O,
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
10
FeCL
3
, FeSO
4
, …trong đó phổ biến nhất là Al
2
(SO
4
)
3
.18H2O vì chất này hòa tan
tốt trong nước, giá rẽ và hiệu quả đông tụ cao ở pH = 5.0 – 7.5.
đứng trước hoặc sau bể lắng, đồng thời có thể ở giai đoạn xử lý bổ sung sau xử lý
cơ bản.
Bể tuyển nổi có thể tròn hoặc hình chữ nhật. Dạng chữ nhật dành cho xử lý
nước dân dụng. Về mặt thủy lực và đặc biệt xử lý nước có nồng độ lớn các chất
huyền phù, bể tuyển nổi tròn có ưu điểm hơn so với bể tuyển nổi hình chữ nhật: ở
cùng một dung tích, khoảng cách giữa chiều cao của phòng trộn nước/bọt khí và
nơi thấp của thành ống xi phông rất nhỏ và sự phân bố bọt gần giống nhau được
duy trì trên toàn bộ tiết diện ngang của bể.
Hình 2.5: Bể tuyển nổi
II.2.5 Trao đổi ion
Thực chất của phương pháp trao đổi ion là một quá trình trong đó các ion
trên bề mặt của chất rắn trao đổi ion có cùng điện tích trong dung dòch khi tiếp
xúc với nhau. Các chất này gọi là ionit (chất trao đổi ion). Chúng hoàn toàn
không tan trong nước.
Phương pháp này được dùng làm sạch nước nói chung trong đó có nước
thải, loại ra khỏi nước các ion kim loại như Zn, Cu, Cr, Ni, Hg, Pb, Cd, Mn… Cũng
như các hợp chất có chứa asen, phosphor, xianua và cả chất phóng xạ. Phương
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
12
pháp này được dùng phổ biến để làm mềm nước, loại ion Ca
2+
và Ma
3+
ra khỏi
nước cứng.
Thiết bò trao đổi ion là các chất vật liệu hạt không hòa tan có trong cấu
trúc phân tử các gốc axit hay bazo có thể thay thế được mà không thay đổi tính
chất vật lí của chúng và cũng không làm biến mất hoặc hòa tan. Các ion dương
động là các thiết bò khuấy cơ học hoặc khí nén. Nhờ vậy, mức độ hiếu khí trong
hồ sẽ mạnh hơn, điều độ và độ sâu của hồ cũng lớn hơn. Tải trọng BOD của hồ
khoảng 400kg/ha.ngay. Thời gian lưu nước trong hồ khoảng 1 – 3 ngày có khi dài
hơn.
II.3.2 Ao hồ kỵ khí
Ao hồ kỵ khí là loại ao sâu, ít có hoặc không có điều kiện hiếu khí. Các vi
sinh vật hoạt động sống không cần oxy không khí. Chúng sử dụng oxy ở dạng các
hợp chất như nitrat, sulfat… để oxy hóa các chất hữu cơ thành các axit hữu cơ, các
loại rượu và khí CH
4
, H
2
S, CO
2
…và nước.
Ao hồ kỵ khí thường dùng để lắng và phân hủy cặn lắng ở vùng đáy. Loại
ao hồ này có thể tiếp nhận loại nước thải có độ nhiễm bẩn lớn, tải trọng BOD cao
và không cần vai trò quang hợp của tảo. Nước thải lưu ở hồ kỵ khí thường sinh ra
mùi hôi thối khó chòu.
II.3.3 Ao hồ hiếu – kỵ khí
Loại ao này rất phổ biến trong thực tế. Đó là loại kết hợp hai quá trình
song song: phân hủy hiếu khí các chất hữu cơ hòa tan có ở trong nước và phân
hủy kỵ khí cặn lắng ở vùng đáy.
Đặc điểm của ao hồ này gồm có 3 vùng xét theo chiều sâu: lớp trên là
vùng hiếu khí, vùng giữa là vùng kỵ khí tùy tiện và vùng phía đáy sâu là vùng kỵ
khí.
II.3.4 Cánh đồng tưới và bãi lọc
Việc xử lý nước thải bằng cánh đồng tưới và bãi lọc dựa trên khả năng giữ
các cặn nước ở trên mặt đất, nước thấm qua đất như đi qua lọc, nhờ có oxy trong
các lỗ hổng và mao quản của lớp đất mặt, các vi sinh vật hiếu khí hoạt động phân
ngoài, vi sinh sống gần bề mặt giá thể nhiều hay ít tùy thuộc vào tải trọng hữu cơ
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
15
và tải trọng thủy lực. Tải trọng hữu cơ ảnh hưởng đến tốc độ trao đổi chất trong
màng nhầy. Tải trọng thủy lực ảnh hưởng đến rửa trôi màng. Phương pháp này có
thể sử dụng trong điều kiện hiếu khí hoặc trong điều kiện yếm khí.
II.3.6 Bùn hoạt tính
Nguyên lý chung của quá trình bùn hoạt tính là oxy hóa sinh hóa hiếu khí
với sự tham gia của bùn hoạt tính.
Bùn hoạt tính là loại bùn xốp chứa nhiều vi sinh có khả năng oxy hóa và
khoáng hóa các chất hữu cơ chứa trong nước thải.
Ngày nay, trong xử lý nước thải công nghiệp, người ta thường sử dụng: bể
Aeroten va bể phản ứng sinh học từng mẻ liên tục (SBR).
Trong bể Aeroten diễn ra quá trình oxy hóa sinh hóa các chất hữu cơ trong
nước thải. Vai trò ở đây là nhữg vi sinh vật hiếu khí, chúng tạo thành bùn hoạt
tính. Bùn hoạt tính và nước thải tiếp xúc với nhau được tốt và liên tục, người ta
khuấy trộn bằng máy khí nén hoặc các thiết bò cơ giới khác. Để các vi sinh vật
khoáng hóa sống và hoạt động bình thường phải thường xuyên cung cấp oxy vào
bể, oxy sẽ được sử dụng trong các quá trình sinh hóa. Sự khuếch tán tự nhiên qua
mặt thoáng của nước trong bể không đảm bảo đủ lượng oxy cần thiết, vì vậy phải
bổ sung lượng không khí thiếu hụt bằng phương pháp nhân tạo: thổi khí nén vào
hoặc tăng diện tích mặt thoáng.
Trong thực tế, người ta thường thổi không khí nén vào bể vì như vậy sẽ
đồng thời giải quyết tốt hai nhiệm vụ: vừa khuấy trộn bùn hoạt tính với nước thải
vừa bảo đảm chế độ oxy cần thiết trong bể. Bùn hoạt tính là tập hợp những vi
sinh vật khoáng hóa có khả năng hấp thụ và oxy hóa các chất hữu cơ có trong
nước thải với sự có mặt của oxy. Để bùn hoạt tính tiếp xúc với nhau được tốt và
liên tục, chúng có thể được khuấy trộn bằng khí nén hoặc các thiết bò cơ giới
khác. Các chất hữu cơ hòa tan, các chất keo phân tán nhỏ sẽ được chuyển hóa và
SBR và nó bắt đầu các chất ô nhiễm sinh học bò thối rữa
- Giai đoạn “sục khí”: các phản ứng sinh hóa hoạt động nhờ vào việc cung
cấp khí, sinh khối tổng hợp BOD, aniniac và nito hữu cơ.
- Giai đoạn “lắng”: sau khi oxy hóa sinh học xảy ra, bùn được lắng và nước
nổi trên bề mặt tạo lớp màng phân cách bùn, nước đặc trưng.
- Giai đoạn “xả nước”: nước nổi trên bề mặt sau thời gian lắng (nước đầu ra
đã xử lý) được tháo ra khỏi bể SBR mà không có cặn cào nào theo sau.
- Giai đoạn “nghỉ”: thời gian nghỉ trong khi đợi nạp mẻ mới.
Cấp nước
Sục khí
Lắng
Xả nước
Nghỉ
Hình 2.8: Chu trình hoạt động của bể SBR
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
18
II.3.7 Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học là công trình trong đó nước thải được lọc qua lớp vật liệu
có kích thước hạt lớn. Bề mặt các hạt vật liệu đó được bao bọc bởi một màng sinh
vật do loại vi sinh vật hiếu khí tạo thành.
cao cho phép vi sinh vật bám dính và nước thải đi qua. Môi trường lọc có thể là
đá, kích thước thay đổi từ 25 – 100mm đường kính, chiều sâu lớp đá tùy theo thiết
kế nhưng thông thường từ 0.9 –2.0m trung bình là 1.8m. Lọc sinh học có thể dùng
vật liệu lọc cải tiến là plastic, có thể hình vuông hoặc hình khác với chiều sâu
thay đổi từ 9 – 12m. Bể lọc hình tròn được phân phối trên bằng thiết bò phân phối
quay.
Chất hữu cơ trong nước thải được phân hủy bởi quần thể sinh vật bám dính
và chất liệu lọc. Chất hữu cơ trong nước thải được hấp phụ lên màng sinh học
hoặc lớp nhầy. lớp ngoài của lớp màng nhầy sinh học (0.1 – 0.2mm), chất hữu
cơ sẽ được phân hủy hiếu khí. Khi sinh vật tăng trưởng thì lớp màng nhầy tăng
lên, và oxy khuếch tán được tiêu thụ trước khi nó có thể thấm và chiều sâu lớp
màng nhầy. Do đó, môi trường kỵ khí sẽ nằm gần bề mặt lớp vật liệu lọc.
Khi độ dày màng nhầy tăng, các chất hữu cơ hấp phụ được chuyển hóa
trước khi nó tiếp xúc với vi sinh vật gần bề mặt vật liệu. Kết quả vi sinh vật gần
bề mặt vật liệu phải hô hấp nội bào do không có nguồn chất dinh dưỡng thích hợp
của chất hữu cơ nước thải, và do đó mất khả năng bám dính. Sau đó màng nhầy
này bò rửa trôi, màng nhầy mới được hình thành.
Hình 2.9: Bể lọc sinh học
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
20
II.3.8 Bể lọc khô
Bể lọc thô là bể lọc sinh học được thiết kế đặc biệt để vận hành ở tải trọng
thủy lực cao. Lọc thô được dùng chủ yếu để loại bỏ chất hữu cơ bằng quá trình
xuôi dòng.
Các loại bể lọc thô hiện nay sử dụng vật liệu lọc tổng hợp hay gỗ gõ với
độ sâu trung bình 3.7 – 12m. cũng như quá trình lọc sinh học khác, lọc thô rất
nhạy cảm với nhiệt độ. Lọc thô được dùng để loại bỏ một phần chất hữu cơ, làm
tăng quá trình Nitrate hóa xuôi dòng.
II.3.9 Roatating Biological Cotactor ( RBC)
Cấu tạo: sân phơi bùn chia thành nhiều ô, kích thước mỗi ô phụ thuộc vào
cách bố trí đường xe vận chuyển bùn ra khỏi sân phơi và độ xa khi xúc bùn từ ô
phơi lên xe.
Đáy và thành ô phơi bùn thường làm bằng bêtong cốt thép hay xây gạch
đảm bảo cách ly hoàn toàn dung dòch bùn với môi trường đất xung quanh.
Trên đáy ô phơi đổ một lớp sỏi cỡ hạt: 8 – 10 mm dày 200mm, trong lớp
sỏi đặt hệ thống ống khoan lỗ D8 – D10 mm hình xương cá để rút nước về hố thu,
đáy ô phơi bùn phải cao hơn mực nước ngầm để dễ thu nước.
Trên lớp sỏi và lớp cát cỡ hạt 0.5 – 2mm, dày 150 – 200mm. Làn khô bùn
trên sân phơi xảy ra theo hai giai đoạn, giai đoạn 1: lọc hết nước qua lớp cát, sỏi;
giai đoạn 2: làm khô bằng bốc hơi nước tự nhiên trên bề mặt rộng. Cặn đã xử lý
ổn đònh có chu kỳ phơi khô ngắn hơn cặc chưa xử lý ổn đònh.
Sân phơi bùn có thể có máy che hay không có máy che, nếu không có máy
che về mùa mưa sân phơi không làm việc được.
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
22
Hình 2.10: Sân phơi bùn
II.4.2 Máy lọc cặn chân không
Máy lọc chân không là thiết bò làm khô bùn có thể giảm độ ẩm của bùn từ
99% xuống 70 – 85% tùy thuộc vào tính chất của cặn và tốc độ quay của máy
(thời gian làm khô). Loại thiết bò này thường được áp dụng nhiều trong thời gian
trước, mười năm gần đây do có nhiều loại thiết bò có hiệu suất cao hơn, chi phí
đầu tư và chi phí quản lý rẻ hơn nhiều lần, lại có quá trình vận hành đơn giản
hơn, nên thiết bò lọc chân không đã không được sử dụng.
II.4.3 Máy lọc ép băng tải
Máy làm khô cặn bằng lọc ép trên băng tải được dùng phổ biến hiện nay
vì quản lý dơn giản, ít tốn điện, hiệu suất làm khô cặn chấp nhận được.
trùng gây bệnh, nhưng không loại trừ khả năng tồn tại một vài loài vi khuẩn gây
bệnh nào trong nước thải ra nguồn cấp nước, hồ bơi, hồ nuôi cá thì khả năng lan
truyền bệnh sẽ rất cao, do đó phải có biện pháp tiệt trùng nước thải trước khi xảy
ra nguồn tiếp nhận. Các biện pháp tiệt trùng nước thải phổ biến hiện nay là:
- Dùng Clo hơi qua thiết bò đònh lượng Clo.
- Dùng Hypoclorit – canxi dạng bột – Ca(ClO)
2
– hòa tan trong thùng dung
dòch 3 – 5% rồi đònh lượng vào bể tiếp xúc.
- Dùng Hydroclorit – natri, nước zavel NaClO.
Chương II: TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP XỨ LÝ NƯỚC THẢI
24
NaOClo
Nước vào
Nước ra
- Dùng Ozon, Ozon được sản xuất từ không khí do máy tạo Ozon đặt trong
nhà máy xử lý nước thải. Ozon sản xuất ra được dẫn ngay vào bể hòa tan
và tiếp xúc.
- Dùng tia cực tím (UV) do đèn thủy ngân áp lực thấp sinh ra. Đèn phát tia
cực tím đặt ngập trong mương có nước thải chảy qua.
- Từ trước đến nay, khi tiệt trùng nước thải hay dùng Clo hơi và các hợp chất
của Clo vì Clo là hóa chất được các ngành công nghiệp dùng nhiều, có sẵn
trên thò trường, giá thành chấp nhận được, hiệu quả tiệt trùng cao. Nhưng
những năm gần đây các nhà khoa học đưa ra khuyến cáo hạn chế dùng Clo
để tiệt trùng nước thải vì:
+ Lượng Clo dư 0.5mg/l trong nước thải để đảm bảo sự an toàn và ổn đònh cho
quá trình tiệt trùng sẽ gây hại đến cá và các sinh vật nước có ích khác.
+ Clo kết hợp với Hydrocacbon thành hợp chất có hại cho môi trường sống.
Trong quá trình xử lý nước thải, công đoạn khử khuẩn thường đặt ra ở cuối
Đến cuối tháng 12/2005, cả nước đã có 131 KCN, được Thủ tướng Chính
phủ quyết đònh thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 26.986 ha, trong đó diện
tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 18.044 ha.
Các KCN được phân bố trên 47 tỉnh thành trên cả nước theo hướng vừa tập
trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp ở các vùng có lợi thế và tiềm năng, vừa
tạo điều kiện để các đòa phương có ít lợi thế hơn, có động lực thúc đẩy chuyển
dòch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.