Tính toán thiết kế trạm xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp Đông Nam, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh công suất 5000m3/ngày.đêm - Pdf 13

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 1

CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, nước ta đang trên đà phát triển hướng đến là một nước công nghiệp
đến năm 2020, với vị thế ưu tiên về khí hậu, nguồn lao động dồi dào thì nước ta có
nhiều ưu thế đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật và thu hút vốn đau tư từ nước ngoài.
Từ khi nước ta bắt đầu mở cửa thu hút đầu tư từ nước ngoài và thông lưu hàng hóa
với thế giới sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 – 1998, thì công nghiệp phát
triển mạnh mẽ đưa đất nước đi lên.
Đi đầu trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước là khu vực Đồng
Bằng Nam Bộ, với các tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình
Dương, là những tỉnh thành có nền công nghiệp phát triển mạnh với các dự án xây
dựng và sản xuất từ các nguồn vốn trong nước và nước ngoài.
Một trong những mục tiêu chính trong định hướng phát triển kinh tế xã hội
của TP Hồ Chí Minh là phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn gắn liền với tổng thể
phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Trong đó, KCN Đông Nam Củ
Chi được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Công nghiệp phát triển tạo
nhiều cơ hội việc làm cho nguồn lao động bản địa và nguồn lao động từ các địa
phương khác đến sinh sống và làm việc.
Xu hướng công nghiệp phát triển cần có các yếu tố từ khoa học – kinh tế – xã
hội, hiện nay huyện Củ Chi đang mở rộng và đầu tư thêm các khu công nghiệp để
đáp ứng được nhu cầu phát triển công nghiệp cũng như giải quyết vấn đề việc làm
cho người lao động. Nhưng bên cạnh sự phát triển về công nghiệp cũng mang lại
không ít mối quan tâm từ người dân và các nhà lãnh đạo. Sự phát triển công nghiệp
như hiện nay và các vấn đề về tài nguyên và môi trường đang đặt nỗi lo ngại cho các
nhà chức trách cũng như người dân. Để sản xuất cần phải có nguyên liệu và sản xuất
thì có phát thải. Sản xuất phát triển lâu dài thì hai yếu tố tài nguyên và môi trường

tiếp nhận để bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng.

1.3 Đối tượng và phạm quy nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 3
Công nghệ xử lý nước thải cho loại hình Khu Công nghiệp.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn trong việc tính toán thiết kế trạm xử lý nước thải tập trung cho
Khu Công nghiệp Đông Nam, Huyện Củ chi, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Nước thải đầu vào của hệ thống đã được xử lý sơ bộ đạt loại B (QCVN
24:2009/BTNMT) và được tập trung tại họng thu qua hệ thống cống dẫn từ các nhà
máy trong khu công nghiệp đến bể tiếp nhận của khu xử lý nước thải tập trung khu
công nghiệp Đông Nam. Nước thải phát sinh từ hoạt động sản xuất cũng như sinh
hoạt của các nhà máy trong khu công nghiệp Đông Nam.
Lượng nước mưa phát sinh sẽ được thoát trực tiếp ra sông theo hệ thống cống
dẫn riêng biệt. 1.4 Nội dung đề tài
Tìm hiểu về khu công nghiệp Đông Nam.
Xác định đặc tính nước thải: Lưu lượng, thành phần, tính chất nước thải, khả
năng gây ô nhiễm, nguồn xả thải.
Đề xuất dây chuyền công nghệ xử lý nước thải phù hợp với mức độ ô nhiễm
của nước thải đầu vào.
Tính toán thiết kế các công trình đơn vị trong hệ thống xử lý nước thải.
Dự toán chi phí xây dựng, thiết bị, hóa chất, chi phí vận hành trạm xử lý nước
thải.

1.5 Phương pháp thực hiện


Hình 2.1. Bản đồ qui hoạch KCN Đông Nam – Huyện Củ Chi

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 6

2.1.2. Vị trí địa lý của Dự án
Dự án nằm về phía Đông Nam thị trấn Củ Chi – Huyện Củ Chi với quy mô xây dựng
342,53 ha. Ranh giới khu đất được xác định như sau:
 Phía Bắc : Giáp Tỉnh lộ 8;
 Phía Nam : Giáp Đường Võ Văn Bích và Tỉnh lộ 9;
 Phía Đông Nam : Giáp Tỉnh lộ 9 và một phần rạch;
 Phía Tây Bắc : Giáp đường Bến Than.

2.1.3. Nội dung chủ yếu của Dự án
2.1.3.1. Phạm vi và lĩnh vực hoạt động của Dự án
a) Đối với khu công nghiệp
Dự án đầu tư xây dựng KCN Đông Nam là KCN đa ngành với 03 loại hình công
nghiệp không hoặc ít gây ô nhiễm, bao gồm: cơ khí chế tạo máy; điện tử công nghệ
thông tin; sản xuất các sản phẩm hoá dược, thảo dược và thuốc y tế, các sản phẩm
hoá chất công nghiệp nhựa, cao su kỹ thuật cao cấp.
b) Đối với khu dân cư
Bên cạnh sự hình thành KCN Đông Nam Củ chi, chủ đầu tư cũng sẽ xây dựng khu
dân cư phục vụ công nghiệp theo hướng khu dân cư đô thị để phục vụ tái định cư
trong công tác giải phóng mặt bằng và công tác bồi thường hỗ trợ tái định cư cho
người dân, cung cấp nhà ở cho chuyên gia, công nhân của KCN, tạo thêm quỹ nhà ở
Thành phố.

2.1.3.2. Quy mô xây dựng, quy hoạch sử dụng đất
a) Khu công nghiệp

 Khu kho bãi và nhà xưởng tiêu chuẩn;
 Trung tâm điều hành, dịch vụ;
 Các công trình đầu mối hạ tầng kỹ thuật (trạm cấp nước, điện, khu xử lý);
 Tổ chức cây xanh;
 Khu dân cư phục vụ công nghiệp…

b) Tổ chức quản lý điều hành KCN và KDC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 8
Tổ chức quản lý điều hành KCN và KDC phục vụ công nghiệp bao gồm:
 Quản lý KCN;
 Quản lý hành chính và pháp lý;
 Quản lý quy hoạch và xây dựng;
 Quản lý sở hữu và sử dụng;
 Tổ chức quản lý và kinh doanh cơ sở hạ tầng.

c) Nhu cầu lao động và nguồn nhân lực
Nhu cầu lao động
Khi KCN đi vào hoạt động, dự kiến thu hút khoảng 25.000 người làm việc tại KCN.
Nguồn cung cấp lao động
Nguồn lao động làm việc tại KCN dự kiến bao gồm các nguồn sau:
 Lao động địa phương;
 Lao động từ khu dân cư phục vụ công nghiệp;
 Lao động tại khu vực TP HCM, Bình Dương và một số tỉnh thành khác.

Vốn và nguồn vốn
Dựa trên cơ sở tính toán chi tiết xây dựng các hạng mục công trình trong KCN, vốn
đầu tư dự kiến 1.242 tỷ đồng và được phân bố như sau:
 Chi phí xây dựng hạ tầng kỹ thuật và dự phòng : 1.057 tỷ đồng;
 Chi phí xây dựng nhà máy XLNT : 50 tỷ đồng;

Đặc tính khí hậu
Khu vực Dự án thuộc đặc trưng khí hậu của TP HCM là vùng nhiệt đới gió mùa cận
xích đạo.

2.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội khu vực Dự án
2.2.2.1. Hiện trạng kiến trúc và tình hình dân cư tại khu vực
a) Hiện trạng công trình sản xuất
Trong khu vực Dự án có một số trại heo, gà, vịt của tư nhân, một số trại được xây
dựng nhà cấp IV và một số được xây dựng liều tạm.
Hiện trạng dân cư và điều kiện kinh tế các hộ dân
Trong khu vực Dự án có 89 hộ dân, với dân số là 623 người. Trong tổng số hộ dân ở
trên, có 6 căn nhà là nhà cấp III chiến 6,7%; 60 căn nhà là nhà cấp IV chiếm 67,4%
và 13 căn nhà cấp V, chiếm 2,59%.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 10
Nhà ở phân bố không điều, tập trung nhiều nhất ở khu vực xã Hoà Phú gần tỉnh lộ 8
và các tuyến đường mòn. Nhà ở xây dựng trong khu đất quy hoạch dạng nhà tạm và
cấp IV nằm thưa thớt, rải rác theo quy mô nhỏ, các điều kiện hạ tầng còn thiếu nên
việc sinh hoạt của người dân còn nhiều khó khăn. Các hộ dân cư này dự kiến sẽ được
tái định cư phía Đông Bắc của KCN Đông Nam.

b) Hiện trạng công trình công cộng
Trong khu vực Dự án không có công trình công cộng, chỉ có vài lô đất thổ cư, chủ
yếu là công trình nhà cấp IV. Đây là một trong các lý do thích hợp để chuyển đổi
mục đích sử dụng đất tại khu vực.

c) Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật
Hiện trạng giao thông đường bộ
Các tuyến đường giao thông chính kết nối Dự án với các khu vực bên ngoài như:
 Nối kết với TP HCM, cảng biển Vũng Tàu và khu kinh tế cửa khẩu quốc tế

 Vệ sinh môi trường
Hiện nay, tại khu vực Dự án chưa có hệ thống thu gom chất thải rắn. Rác thải sinh
hoạt từ các hộ dân được đổ ra ruộng, xuống rạch, tự chôn, đốt…

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 12
CHƯƠNG 3
TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI VÀ CÁC PHƯƠNG
PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO KHU CÔNG NGHIỆP
ĐANG ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1 Các thông số ô nhiễm đặc trưng của nước thải
3.1.1 Các thông số vật lý
a) Hàm lượng chất rắn lơ lửng
Các chất rắn lơ lửng trong nước ((Total) Suspended Solids – (T)SS - SS) có thể có

Theo định nghĩa, nhu cầu oxy hóa học là lượng oxy cần thiết để oxy hóa các chất
hữu cơ trong nước bằng phương pháp hóa học (sử dụng tác nhân oxy hóa mạnh). Về
bản chất, đây là thông số được sử dụng để xác định tổng hàm lượng các chất hữu cơ
có trong nước, bao gồm cả nguồn gốc sinh vật và phi sinh vật.
Trong môi trường nước tự nhiên, ở điều kiện thuận lợi nhất cũng cần đến 20 ngày để
quá trình oxy hóa chất hữu cơ được hoàn tất. Tuy nhiên, nếu tiến hành oxy hóa chất
hữu cơ bằng chất oxy hóa mạnh (mạnh hơn hẳn oxy) đồng thời lại thực hiện phản
ứng oxy hóa ở nhiệt độ cao thì quá trình oxy hóa có thể hoàn tất trong thời gian rút
ngắn hơn nhiều. Đây là ưu điểm nổi bật của thông số này nhằm có được số liệu
tương đối về mức độ ô nhiễm hữu cơ trong thời gian rất ngắn.
COD là một thông số quan trọng để đánh giá mức độ ô nhiễm chất hữu cơ nói chung
và cùng với thông số BOD, giúp đánh giá phần ô nhiễm không phân hủy sinh học
của nước từ đó có thể lựa chọn phương pháp xử lý phù hợp.
c) Nhu cầu oxy sinh học (Biochemical Oxygen Demand - BOD)
Về định nghĩa, thông số BOD của nước là lượng oxy cần thiết để vi khuẩn phân hủy
chất hữu cơ trong điều kiện chuẩn: 20
o
C, ủ mẫu 5 ngày đêm, trong bóng tối, giàu oxy
và vi khuẩn hiếu khí. Nói cách khác, BOD biểu thị lượng giảm oxy hòa tan sau 5
ngày. Thông số BOD
5
sẽ càng lớn nếu mẫu nước càng chứa nhiều chất hữu cơ có thể
dùng làm thức ăn cho vi khuẩn, hay là các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học
(Carbonhydrat, protein, lipid )
BOD là một thông số quan trọng:
 Là chỉ tiêu duy nhất để xác định lượng chất hữu cơ có khả năng phân huỷ sinh
học trong nước và nước thải.
 Là tiêu chuẩn kiểm soát chất lượng các dòng thải chảy vào các thuỷ vực thiên
nhiên.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN

Đất. Nito là thành phần cấu thành nên protein có trong tế bào chất cũng như các acid
amin trong nhân tế bào. Xác sinh vật và các bã thải trong quá trình sống của chúng là
những tàn tích hữu cơ chứa các protein liên tục được thải vào môi trường với lượng
rất lớn. Các protein này dần dần bị vi sinh vật dị dưỡng phân hủy, khoáng hóa trở
thành các hợp chất Nito vô cơ như NH
4
+
, NO
2
-
, NO
3
-
và có thể cuối cùng trả lại N
2

cho không khí.
Như vậy, trong môi trường đất và nước, luôn tồn tại các thành phần chứa Nito: từ các
protein có cấu trúc phức tạp đến các acid amin đơn giản, cũng như các ion Nito vô cơ
là sản phẩm quá trình khoáng hóa các chất kể trên:
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 15
Các hợp chất hữu cơ thô đang phân hủy thường tồn tại ở dạng lơ lửng trong nước, có
thể hiện diện với nồng độ đáng kể trong các loại nước thải và nước tự nhiên giàu
protein.
 Các hợp chất chứa Nito ở dạng hòa tan bao gồm cả Nito hữu cơ và Nito vô cơ
(NH
4
+
, NO

Nhiều vi sinh vật gây bệnh có mặt trong nước thải có thể truyền hoặc gây bệnh cho
người. Chúng vốn không bắt nguồn từ nước mà cần có vật chủ để sống ký sinh, phát
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 16
triển và sinh sản. Một số các sinh vật gây bệnh có thể sống một thời gian khá dài
trong nước và là nguy cơ truyền bệnh tiềm tàng, bao gồm vi khuẩn, virus, giun sán.
* Vi khuẩn
Các loại vi khuẩn gây bệnh có trong nước thường gây các bệnh về đường ruột, như
dịch tả (cholera) do vi khuẩn Vibrio comma, bệnh thương hàn (typhoid) do vi khuẩn
Salmonella typhosa
* Virus
Virus có trong nước thải có thể gây các bệnh có liên quan đến sự rối loạn hệ thần
kinh trung ương, viêm tủy xám, viêm gan Thông thường sự khử trùng bằng các quá
trình khác nhau trong các giai đoạn xử lý có thể diệt được virus.
* Giun sán
Giun sán là loại sinh vật ký sinh có vòng đời gắn liền với hai hay nhiều động
vật chủ, con người có thể là một trong số các vật chủ này. Chất thải của người và
động vật là nguồn đưa giun sán vào nước. Tuy nhiên, các phương pháp xử lý nước
hiện nay tiêu diệt giun sán rất hiệu quả.
Nguồn gốc của vi trùng gây bệnh trong nước là do nhiễm bẩn rác, phân người và
động vật. Trong người và động vật thường có vi khuẩn E.coli sinh sống và phát triển.
Đây là loại vi khuẩn vô hại thường được bài tiết qua phân ra môi trường. Sự có mặt
của E.Coli chứng tỏ nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi phân rác và khả năng lớn tồn tại
các loại vi khuẩn gây bệnh khác, số lượng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào mức độ nhiễm
bẩn. Khả năng tồn tại của vi khuẩn E.coli cao hơn các vi khuẩn gây bệnh khác. Do
đó nếu sau xử lý trong nước không còn phát hiện thấy vi khuẩn E.coli chứng tỏ các
loại vi trùng gây bệnh khác đã bị tiêu diệt hết. Mặt khác, việc xác định mức độ nhiễm
bẩn vi trùng gây bệng của nước qua việc xác định số lượng số lượng E.coli đơn giản
và nhanh chóng. Do đó vi khuẩn này được chọn làm vi khuẩn đặc trưng trong việc
xác định mức độ nhiễm bẩn vi trùng gây bệnh của nguồn nước.

(khối lượng riêng và tải trọng tính theo chất rắn lơ lửng), tải trọng thủy lực, sự keo tụ
các chất rắn, vận tốc, dòng chảy trong bể, sự nén bùn đặc, nhiệt độ nước thải và kích
thước bể lắng. c) Bể vớt dầu mỡ
Cơng trình này thường được ứng dụng khi xử lý nước thải cơng nghiệp, nhằm
loại bỏ các tạp chất có khối lượng riêng nhỏ hơn nước, chúng gây ảnh hưởng xấu tới
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 18
các công trình thoát nước (mạng lưới và các công trình xử lý). Vì vậy phải thu hồi
các chất này trước khi đi vào các công trình phía sau. Các chất này sẽ bịt kín lỗ hổng
giữa các hạt vật liệu lọc trong các bể sinh học và chúng cũng phá hủy cấu trúc bùn
hoạt tính trong bể Aerotank, gây khó khăn trong quá trình lên men cặn.

d) Lọc qua lớp vật liệu lọc
Bể lọc có tác dụng tách các chất ở trạng thái lơ lửng kích thước nhỏ bằng cách
cho nước thải đi qua lớp vật liệu lọc, công trình này áp dụng chủ yếu cho 1 số loại
nước thải công nghiệp.
Phương pháp xử lý nước thải bằng cơ học có thể loại bỏ khỏi nước thải được
60% các tạp chất không hòa tan và 20% BOD.
Hiệu quả xử lý có thể đạt tới 75% theo hàm lượng chất lơ lửng và 30-35%
theo BOD bằng các biện pháp làm thoáng sơ bộ hoặc đông tụ sinh học.
Nếu điều kiện vệ sinh cho phép, thì sau khi xử lý cơ học nước thải được khử
trùng và xả vào nguồn, nhưng thường thì xử lý cơ học chỉ là giai đoạn xử lý sơ bộ
trước khi cho qua xử lý sinh học
3.2.2 Phương pháp hóa lý
Bản chất của quá trình xử lý hóa lý là áp dụng các quá trình vật lý và hóa
học để đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó để gây tác động với các tạp chất
bẩn, biến đổi hóa học, tạo thành các chất khác dưới dạng cặn hoặc chất hòa tan

+ HOH

Me(OH)
+
+ H
+
Me(OH)
+
+ HOH

Me(OH)
3
+ H
+

Me
3+
+ 3HOH

Me(OH)
3
+ 3 H
+Chất đông tụ thường dùng là muối nhôm, sắt hoặc hoặc hỗn hợp của chúng.
Việc chọn chất đông tụ phụ thuộc vào thành phần, tính chất hoá lý, giá thành, nồng
độ tạp chất trong nước, pH .
Các muối nhôm được dùng làm chất đông tụ: Al
2

).2H
2
O, Fe(SO
4
)
3
.3H
2
O,
FeSO
4
.7H
2
O và FeCl
3
. Hiệu quả lắng cao khi sử dụng dạng khô hay dung dịch 10 -
15%.
Phương pháp keo tụ
Keo tụ là quá trình kết hợp các hạt lơ lửng khi cho các chất cao phân tử vào
nước. Khác với quá trình đông tụ, khi keo tụ thì sự kết hợp diễn ra không chỉ do tiếp
xúc trực tiếp mà còn do tương tác lẫn nhau giữa các phân tử chất keo tụ bị hấp phụ
trên các hạt lơ lửng .
Chất keo tụ thường dùng có thể là hợp chất tự nhiên và tổng hợp chất keo tự
nhiên là tinh bột, ete, xenlulozơ, dectrin (C
6
H
10
O
5
)

giảm nồng độ chất hoạt động bề mặt và các chất dễ bị oxi hóa.
Quá trình tuyển nổi được thực hiện bằng cách sục các bọt khí nhỏ (thường là
không khí) vào pha lỏng. Các khí đó kết dính với các hạt và khi lực nổi của tập hợp
các bóng khí và hạt đủ lớn sẽ kéo theo hạt cùng nổi lên bề mặt, sau đó chúng tập hợp
lại với nhau thành các lớp bọt chứa hàm lượng các hạt cao hơn trong chất lỏng ban
đầu.
Hiệu suất của quá trình tuyển nổi phụ thuộc kích thước và số lượng bọt khí.
Kích thước tối ưu của chúng nằm trong khoảng 15 - 30µm. Trong quá trình tuyển
nổi, việc ổn định kích thước bọt khí có ý nghĩa quan trọng. Để đạt được mục đích
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 21
này, đôi khi người ta bổ sung vào nước các chất tạo bọt có tác dụng làm giảm năng
lượng bề mặt phân pha như dầu bạch dương, phenol, natri ankylsilicat, cresol…
Tùy thuộc vào khối lượng riêng của vật liệu, quá trình tuyển nổi sẽ đạt hiệu
suất cao đối với các hạt có kích thước từ 0,2 – 1,5mm. Điều kiện tốt nhất để tách các
hạt trong quá trình tuyển nổi là khi tỷ số giữa lượng pha khí và pha rắn
G
k
/G
r
= 0,01 ÷ 0,1.
3.2.3 Phương pháp hóa học
Thực chất của phương pháp xử lý hoá học là đưa vào nước thải chất phản ứng
nào đó để gây tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hoá học và tạo cặn lắng hoặc
tạo dạng chất hoà tan nhưng không độc hại, không gây ô nhiễm môi trường.
Phương pháp xử lý hoá học thường được áp dụng để xử lý nước thải công
nghiệp. Tuỳ thuộc vào điều kiện địa phương và điều kiện vệ sinh cho phép, phương
pháp xử lý hoá học có thể hoàn tất ở giai đoạn cuối cùng hoặc chỉ là giai đoạn sơ bộ
ban đầu của việc xử lý nước thải.


2
O HCl +HOCl
Kết quả của phản ứng là cho ta axit clohydrit và axit hypoclorơ. Sự có mặt
của ion hypocloro và đặc biệt là ion OCl
-
tạo môi trường axit tiêu diệt vi khuẩn.mặt
khác axit hypocloro rất yếu dễ phân hủy thành axit clohydrit và oxy nguyên tử tự do.
Oxy nguyên tử này sẽ oxy hóa vi khuẩn. Ngoài ra trong quá trình clo hóa nước thải,
thì bản chất clo trực tiếp tác động lên tế bào vi sinh vật và biến đổi liên kết với các
chất thuộc thành phần nguyên sinh tế bào đưa đến cái chết của vi khuẩn.
Khử trùng bằng ozon
Độ hòa tan của ozon vào nước gấp 13 lần độ hòa tan của oxy. Khi vừa mới
cho ozon vào nước, tác dụng khử trùng rất ít, nhưng khi ozon hòa tan đủ liều lượng
ứng với hàn lượng đủ để oxy hóa chất hữu cơ và vi khuẩn có trong nước, lúc đó tác
dụng khử trùng của ozon mạnh và nhanh hơn gấp 3100 lần so với clo và thời gian
khử trùng xảy ra trong khoảng 3 – 8 giây.
Liều lượng ozon cần để khử trùng nước thải sau khi lắng ở bể lắng đợt 2
thường dao động từ 5 – 15 mg/l tùy thuộc vào chất lượng nước đã xử lý. Ozon có tác
dụng tiêu diệt virut rất mạnh khi thời gian tiếp xúc đủ daì, khoảng 5 phút.
3.2.4 Phương pháp sinh học
Phương pháp xử lí sinh học là sử dụng khả năng sống, hoạt động của vi sinh
vật để phân huỷ các chất bẩn hữu cơ có trong nước thải. Quá trình phân hủy các chất
hữu cơ nhờ vi sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa. Phương pháp xử lý sinh
học có thể thực hiện trong điều kiện hiếu khí ( với sự có mặt của oxy) hoặc trong
điều kiện kỵ khí( không có oxy).
Phương pháp xử lý sinh học có thể ứng dụng để làm sạch hoàn toàn các loại
nước thải chứa chất hữu cơ hoà tan hoặc phân tán nhỏ. Do vậy phương pháp này
thường được áp dụng sau khi loại bỏ các loại tạp chất thô ra khỏi nước thải có hàm
lượng chất hữu cơ cao.
3.2.4.1 Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học trong điều kiện

bổ sung cho nước nguồn.
3.2.4.2 Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học trong điều kiện
nhân tạo.

a) Bể lọc sinh học
Bể lọc sinh học là công trình nhân tạo, trong đó nước thải được lọc qua vật
liệu rắn có bao bọc một lớp màng vi sinh vật. Bể lọc sinh học gồm các phần chính
như sau: phần chứa vật liệu lọc, hệ thống phân phối nước đảm bảo tưới đều lên toàn
bộ bề mặt bể, hệ thống thu và dẫn nước sau khi lọc, hệ thống phân phối khí cho bể
lọc.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH: TÀI THANH KHẢO Trang 24
Quá trình oxy hóa chất thải trong bể lọc sinh học diễn ra giống như trên cánh
đồng lọc nhưng với cường độ lớn hơn nhiều. Màng vi sinh vật đã sử dụng và xác vi
sinh vật chết theo nước trôi khỏi bể được tách khỏi nước thải ở bể lắng đợt 2. Để
đảm bảo quá trình oxy hoá sinh hóa diễn ra ổn định, oxy được cấp cho bể lọc bằng
các biện pháp thông gió tự nhiên hoặc thông gió nhân tạo. Vật liệu lọc của bể lọc
sinh học có thể là nhựa Plastic, xỉ vòng gốm, đá Granit…
b) Bể hiếu khí bùn hoạt tính – Bể Aerotank
Là bể chứa hỗn hợp nước thải và bùn hoạt tính, khí được cấp liên tục vào bể
để trộn đều và giữ cho bùn ở trạng thái lơ lửng trong nước thải và cấp đủ oxy cho vi
sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ có trong nước thải. Khi ở trong bể, các chất lơ lửng
đóng vai trò là các hạt nhân để cho các vi khuẩn cư trú, sinh sản và phát triển dần lên
thành các bông cặn gọi là bùn hoạt tính. Vi khuẩn và các vi sinh vật sống dùng chất
nền (BOD) và chất dinh dưỡng (N, P) làm thức ăn để chuyển hoá chúng thành các
chất trơ không hòa tan và thành các tế bào mới. Số lượng bùn hoạt tính sinh ra trong
thời gian lưu lại trong bể Aerotank của lượng nước thải ban đầu đi vào trong bể
không đủ làm giảm nhanh các chất hữu cơ do đó phải sử dụng lại một phần bùn hoạt
tính đã lắng xuống đáy ở bể lắng đợt 2, bằng cách tuần hoàn bùn về bể Aerotank để
đảm bảo nồng độ vi sinh vật trong bể. Phần bùn hoạt tính dư được đưa về bể nén bùn

- Làm giảm thể tích và độ ẩm của cặn
- Ổn định cặn
- Khử trùng và sử dụng lại cặn cho các mục đích khác nhau
Rác (gồm các tạp chất không tan kích thước lớn: cặn bã thực vật, giấy, giẻ
lau…) được giữ lại ở song chắn rác có thể chở đến bãi rác (nếu lượng rác không lớn)
hay nghiền rác và sau đó dẫn đến bể mêtan để tiếp tục xử lý.
Cát từ bể lắng được dẫn đến sân phơi cát để làm ráo nước và chở đi sử dụng
vào mục đích khác.
Để giảm thể tích cặn và làm ráo nước có thể ứng dụng các công trình xử lý
trong điều kiện tự nhiên như: sân phơi bùn, hồ chứa bùn, hoặc trong điều kiện nhân
tạo: thiết bị lọc chân không, thiết bị lọc ép dây đai, thiết bị ly tâm cặn…). Độ ẩm của
cặn sau xử lý đạt 55-75%.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status