Vai trò của tài chính vi mô trong xóa đói giảm nghèo - Pdf 18

AN SINH XÃ HỘI
Lời mở đầu
Như chúng ta đã biết đế đảm bảo an sinh xã hội, các nước trên thế giới đều xây dựng cho
mình các chương trình an sinh xã hội, tổ chức nhất định, mỗi chương trình, tổ chức thường hướng
đến một đối tượng nào đó trong xã hội. ví dụ như bảo hiểm xã hội hướng tới đối tượng là người lao
động, hội bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi Việt Nam hướng đến nhưng người tàn tật và trẻ em
mồ côi. Vậy các chương trình xóa đói giảm nghèo hướng tới đối tượng là những người nghèo trong xã
hội. nghèo là gì? Đói nghèo là tình trạng thiếu hụt những điều kiện cần thiết để đảm bảo mức sống tối
thiểu của một cá nhân hay một cộng đồng dân cư. Đói nghèo không chỉ là vấn đề của riêng những
người rơi vào cảnh đói nghèo, mà đó là một vấn đề xã hội lớn, cần tới sự quan tâm của toàn xã hội.
Chính vì vậy, xóa đói giảm nghèo là mục tiêu quan trọng của bất kỳ quốc gia nào bao gồm cả
Việt Nam nhằm hướng tới phát triển một xã hội công bằng và văn minh. Xóa đói giảm nghèo là một
phần quan trọng nằm trong chính sách ASXH của mỗi quốc gia và góp phần bảo đảm ASXH một cách
lâu dài và bền vững.
Có rất nhiều chương trình và tổ chức thực hiện mục tiêu này như chương trình 134, chương
trình 135, chương trình hỗ trợ các huyện nghèo( Nghị quyết 30a/2008/NQCP), chương trình Quốc gia
xây dựng trung tâm cụm xã miền núi, miền cao( giai đoạn 1997-2005)… và bên cạnh rất nhiều biện
pháp để thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo chúng ta không thể phủ nhận vai trò tài chính vi mô
trong công tác xóa đói giảm nghèo. Một số các mô hình thành công nhất thế giới gồm Grameen
Bank(Bangladesh), nhóm tự quản SHG( Ấn Độ), Ngân hàng Bank Rkyat Indonesia-BRI, TYM fund.
và hôm nay chúng tớ sẽ cùng các bạn thảo luận vấn đề này trong buổi học ngày hôm nay.
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 1
AN SINH XÃ HỘI
MỤC LỤC
1.1. Tổng quan về kinh tế vi mô
1.1.1 Khái niệm tổ chức tài chính vi mô.
1.1.2 Phân loại
1.1.3 Lịch sử hình thành.
1.1.4 Mối liên hệ giữa tài chính vi mô và công tác xóa đói giảm nghèo.
1.2 . Một số mô hình tài chính vi mô.
1.2.1 Mô hình ngân hàng Grameen Bank

+ Tổ chức tài chính vi mô phi chính thức: là các nhóm cho vây tương hỗ dưới hình thức phường,
họ, hụi, thậm chí cả vay nặng lãi.
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 3
AN SINH XÃ HỘI
1.1.3 Quá trình hình thành.
Lần đầu tiên, người ta biết đến TCVM là vào những năm đầu thế kỷ thứ 17 do Jonathan
Swift, một người Ailen, là cha đẻ của TCVM. Đến thế kỷ thứ 19, các hình thức cung cấp TCVM dưới
dạng bán chính thức mới ra đời do F.W.Raiffeisen, một người Đức thiết kế và áp dụng từ những năm
1860 cho lĩnh vực nông nghiệp. Theo phương pháp của F.W.Raiffeisen những nhóm tiết kiệm, vay
vốn hoạt động dựa trên nguyên tắc giúp đỡ nhau, bằng những nguồn lực về tài chính, kĩ thuật, tổ chức
của chính những thành viên trong nhóm. Những nguồn lực này nhằm giúp đỡ trước tiên cho các thành
viên là những nông dân, những nhà sản xuất nhỏ trong khu vực nông nghiệp. Qua đó, giúp cho các
thành viên không phải đối diện với các nguồn lực bên ngoài, được tính theo các điều kiện thị trường,
thường với mức lãi suất rất cao, và kèm thêm các điều kiện thế chấp về tài sản. Trong những nguồn lực
của nhóm, nguồn tài chính quan trọng nhất là sự tham gia đóng góp vốn của các thành viên. Những
nguồn vốn đóng góp là cơ hội để cho các thành viên
Mô hình của F.W.Raiffeisen được hình thành và phát triển không chỉ trong lĩnh vực nông
nghiệp, mà còn được nhân rộng trong cộng đồng của xã hội, ngay cả trong khu vực thành thị. Cách
thức tổ chức thành các nhóm tiết kiệm, vay vốn giúp cho nhiều người nghèo, đối tượng kinh doanh
nhỏ trong khu vực thành thị, được đáp ứng nhu cầu về vốn và các nguồn lực thiếu hụt khác, nhằm phát
triển sản xuất kinh doanh, tạo nguồn thu nhập ổn định. Thời gian gần đây, TCVM đã phổ biến rộng
hơn, nhờ mô hình Grameen Bank được phát triển của Giáo sư Muhammad Yunus, người Bangladesh,
mô hình đã có những tác động tích cực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nước này và trên thế
giới.
Hiện nay, có khoảng 60 tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô ở Tây Âu, gần một nửa số đó
được thành lập năm 2000 hoặc muộn hơn, với hoạt động quy mô nhỏ là chủ yếu.Chỉ có một số ít có
tầm quốc gia như France Adie và Finland Finerva. 10 tổ chức có kế hoạch phát triển danh mục cho vay
để đầu tư khoảng 240% năm 2006. Chẳng hạn, Adie (Association pour le Droit à l‘Initiative
Economique), ra đời năm 1989, hiện đ. có khoảng 300 nhân viên, 700 t.nh nguyện viên. Adie cung cấp
dịch vụ cho những người thất nghiệp và những người nhận trợ cấp x. hội – nhóm này chiếm 50% số

AN SINH XÃ HỘI
1.1.4 Mối liên hệ giữa tài chính vi mô và công tác xóa đói giảm nghèo.
Như chúng ta đã biết đói nghèo làm tăng nhu cầu về tín dụng nông thôn và tài chính vi mô ở
Việt Nam. Hơn 75% người nghèo của Việt Nam hiện nay đang sống ở tại các vùng nông thôn và hơn
30% các hộ nông thôn nghèo sinh sống tại các vùng nghèo nhất cả nước. Đa số người nghèo ở nước ta
sống dựa vào nông nghiệp với đặc trưng là năng suất lao động tương đối thấp vì ít được tiêp cận với
các nguồn tài chính, đất đai và kiến thức. Người nghèo cũng rất dễ bị tổn thương do những rủi ro của
sức khỏe( đau ôm và tử vong) của các thành viên trong gia đình, do những biến động về giá cả thị
trường và thiên tai dịch bệnh. Vậy phát triển hệ thống tài chính nông thôn bền vững có thể có những
tác động đáng kể đến sự tăng trưởng kinh tế vá xóa đói giảm nghèo.
Như những gì chúng ta đã phát hiện ra thì một lượng lớn người nghèo, đặc biệt là những người
nghèo nhất thường loại bỏ khỏi vị trí khách hàng của tín dụng vi mô vì thiết kế hiện tại của thể chế
này. vì họ sẽ bị đẩy sâu thêm vào cảnh nợ nần và đói nghèo vì những món vay mà họ không thể trả
được.
Nhu cầu của người nghèo, đặc biệt nông thôn vùng sâu, vùng xa về dịch vụ tài chính vi mô là rất đa
dạng.
1.2 Một số mô hình điển hình.
1.2.1 Mô hình Grameen Bank
Ngân hàng Grameen là một TCTCVM khởi đầu tại Bangladesh với mục đích cho vay vốn nhỏ
(được gọi tín dụng vi mô) cho người nghèo mà không cần điều kiện bảo đảm. Hệ thống dựa trên ý
tưởng người nghèo có các kỹ năng mà không được tận dụng hết. Ngân hàng cũng nhận ký quỹ, cung
cấp các dịch vụ khác và kinh doanh trên các lĩnh vực, hướng phát triển bao gồm các công ty sản xuất,
điện thoại và năng lượng. Tổ chức này và người thành lập, Muhammad Yunus, được nhận giải thưởng
Nobel Hòa bình năm 2006 “vì những nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội từ
dưới lên." Có lẽ những ai hoạt động trong lĩnh vực TCVM đều biết đến cái tên Muhammad Yunus với
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 6
AN SINH XÃ HỘI
mô hình Ngân hàng Grameen nổi tiếng - ngân hàng cho người nghèo được trao giải Nobe Hòa bình
năm 2006.Ý tưởng:
Nạn đói khủng khiếp năm 1974 tại Bangladesh khiến hàng chục ngàn người thiệt mạng đã làm

trừ các giao dịch ngoại tệ, tiến hành quan sát, nghiên cứu và xuất bản số liệu thống kê về cải cách kinh
tế đối với người nghèo. Ngân hàng đảm bảo thu nhập từ các dự án sản xuất cho người nghèo, đầu tư
vào trái phiếu chính phủ, hướng dẫn người nghèo cách thức đầu tư vào các dự án kinh doanh nhỏ và
tiểu thủ công nghiệp.
Có 4 loại hình cho vay do ngân hàng đề ra: vay cơ bản, vay phát triển nhà, vay phát triển giáo
dục và cho vay hỗ trợ khó khăn.
Mô hình Grameen Bank là một khái niệm còn khá mới mẻ đối với đại đa số người dân Việt
Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay, việc vận dụng mô hình mới này để tạo ra những sản phẩm
thoả mãn nhu cầu của người dân nhất là những người nghèo là một vấn đề đáng quan tâm. Với những
đặc điểm riêng có cùng những nguyên tắc hoạt động không giống với mô hình ngân hàng truyền
thống, mô hình Grameen Bank sẽ là một mô hình lý tưởng trong chiến lược XĐGN của nước ta.
Mốt số số liệu liên quan đến ngân hàng Grameen Bank
Đặc điểm thể chế
Tên tổ chức tài chính
vi mô
Grameen Bank Grameen Bank Grameen Bank
Kim cương hàng năm 4 4 -
Tiền tệ USD USD USD
Năm tài chính 2010 2012
Giai đoạn ANN QTR
Tài sản 1,698,487,761 1,628,446,568 -
Số trụ sở văn phòng 2,566 2,565 2,567
Tổng số nhân viên - 22,128 -
CẤU TRÚC TÀI CHÍNH
Tỉ lệ vốn/ tài sản 6.14% 5.91% -
Tổng nợ phải trả / vốn 15.3 15.92 -
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 8
AN SINH XÃ HỘI
chủ sở hữu
Tiền đặt cọc cho các

AN SINH XÃ HỘI
Hoạt động tự cung tự cấp
DThu / (CPTC + lỗ thuần +
CPHĐ)
104.80% 102.64%
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
(TNHĐ thuần - Thuế) /
VCSHBQ
10.77% 6.82%
Chi phí hoạt động / danh
mục đầu tư cho vay
11.06% 10.03%
CÁC KHOẢN PHẢI THU
Dthu TC / tổng TS bình quân 15.86% 16.82%
Tỷ suất lợi nhuận 4.58% 2.57%
Năng suất trên tổng danh mục
đầu tư (danh nghĩa)
19.91% 19.99%
Năng suất trên tổng danh mục
đầu tư (thực tế)
10.89% 8.95%
CÁC KHOẢN PHẢI CHI
Tổng chi phí / tài sản 15.14% 16.39%
Chi phí tài chính / tài sản 8.53% 8.64%
Dự phòng giảm vay / tài sản 0.34% 2.02%
Chi phí hoạt động / tài sản 6.26% 5.73%
Chi phí quản lý / tài sản 1.98% 1.66%
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 10
AN SINH XÃ HỘI
RỦI RO VÀ TÍNH THANH KHOẢN

AN SINH XÃ HỘI
Sứ mệnh của CEP là hoạt động vì lợi ích của người nghèo và nghèo nhất, nhằm giúp họ đạt
được những cải thiện về an sinh lâu dài thông qua cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính một
cách bền vững, trung thực và hiệu quả. CEP hoạt động không vụ lợi, kiên trì và nhất quán với tôn chỉ
là phục vụ thành phần lao động nghèo khó.
Mục đích của CEP: giúp người lao động nghèo tự tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh,
dịch vụ bằng số vốn nhỏ ban đầu do quỹ tài trợ và có hoàn lại; giúp người lao động nghèo tạo được
hay tăng thêm chỗ làm việc mới có thu nhập chính đáng bằng công sức và năng lực của chình cùng
những người lao động khác; góp phần giảm thiểu tình trạng thất nghiệp của người lao động thành phố
chỉ vì thiếu vốn hoạt động.
Đối tượng phục vụ: CEP ưu tiên phục vụ người nghèo, tập trung vào đối tượng nữ và cung cấp
tiếp các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho những khách hàng sinh sống và làm việc tại các cộng
đồng. Khách hàng của CEP được chia làm 3 nhóm: nghèo nhất, nghèo và tương đối nghèo. CEP tập
trung vào phục vụ người nghèo và những người dễ bị tổn thương, những khách hàng tương đối nghèo
được phục vụ ưu tiên thấp hơn.
Năm 2010 CEP có 24 chi nhánh gồm 17 chi nhánh tại Tp.HCM và 7 chi nhánh tại tỉnh Bình
Dương và Đồng Nai và các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long là Long An, Đồng Tháp và Tiền
Giang. Mỗi chi nhánh ngoại tỉnh được thành lập có thể giúp CEP mở rộng hoạt động tại các những
vùng nông thôn và kém phát triển của khu vực đồng bằng sông Cửu Long và phía Đông Nam Việt
Nam. Trong thời gian tới CEP sẽ tìm kiếm mở rộng hoạt động, cung cấp hỗ trợ và các dịch vụ tài
chính cho người nghèo nông thôn.
Sản phẩm và dịch vụ
+ Sản phẩm cho vay: gồm sản phẩm cho vay tạo thu nhập cơ bản, vay cải thiện nhà ở, vay cải
thiện môi trường, vay xây nhà cho người lao động tái định cư,…
+ Sản phẩm tiết kiệm: các thành viên vay vốn của CEP đều phải thực hiện tiết kiệm bắt buộc.
Ngoài ra CEP còn cung cấp cho khách hàng những sản phẩm tiết kiệm tự nguyện như là một nguồn
quỹ an toàn để khách hàng có thể sử dụng trang trải những chi phí lớn. Sản phẩm giảm thiểu rủi ro: sản
phẩm y tế tạo thuận lợi cho khách hàng CEP tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 13
AN SINH XÃ HỘI

+Vốn vay: thiết kế trên nguyên tắc cho vay không cần thế chấp, không tạo ra gánh nặng về hoàn
trả, bảo đảm cho người nghèo tập dượt kỹ năng quản lý, sử dụng vốn vào các hoạt động tăng thu nhập
và bảo đảm bù đắp các chi phí hợp lý cho hoạt động của TYM. Các loại vốn của TYM phát ra theo
vòng, các mức vay tăng dần từ nhỏ đến lớn (tối thiểu là 1 triệu đồng). Thời hạn vay từ 10 - 100 tuần.
Gốc và lãi hoàn trả hàng tuần. Hầu hết vốn vay được sử dụng cho các hoạt động tăng thu nhập, sửa
chữa nhà cửa. Ngoài ra, TYM còn cho vay vốn đa mục đích (vốn khẩn cấp) với mức vốn nhỏ hơn và
thời hạn ngắn hơn và có thể sử dụng cho tiêu dùng và các mục đích khác.
+Sản phẩm tiết kiệm: để xây dựng nguồn vốn tự có và giáo dục thói quen tiết kiệm, TYM yêu
cầu mọi khách hàng đóng tiết kiệm bắt buộc 3.000 đồng/tuần (0,19 USD). Tiết kiệm bắt buộc có lãi
suất và có thể rút ra sau khi đạt được số dư tối thiểu nhất định. Ngoài ra, TYM cũng khuyến khích
khách hàng gửi tiết kiệm tự nguyện, bắt đầu bằng số tiền nhỏ từ 5.000 đồng/tuần (1,30 USD).
+Quỹ Tương Trợ: được xây dựng nhằm mục đích xây dựng tinh thần tương thân tương ái giữa
các chị em trong TYM.
Bên cạnh đó còn có sản phẩm phi tài chính như:
+Đào tạo nâng cao kiến thức và kĩ năng cho thành viên của TYM. Phương thức áp dụng cho vay
của TYM cũng tương tự như phương pháp Grameen: Các thành viên đến với TYM được tập trung
nhau lại thành những nhóm 5 người. Từ 5 – 6 nhóm hình thành nên một cụm. Cụm là đơn vị cơ sở của
TYM gồm từ 30 - 40 thành viên, do các cán bộ cụm lãnh đạo bao gồm: cụm trưởng, thư ký và thủ quỹ
cụm. Hàng tuần/hàng tháng, cụm tổ chức họp để trao đổi thông tin cũng như hoàn trả gốc, lãi vốn vay
và đóng tiết kiệm.
Tất cả các dịch vụ của TYM đều được cung cấp tại các buổi họp cụm hàng tuần/hàng tháng.
Đây là nơi xét duyệt đơn xin vay vốn, thu tiền hoàn trả và tiết kiệm. Cụm cũng là nơi để các khách
hàng trao đổi kinh nghiệm, thông tin về sản xuất kinh doanh; để cán bộ TYM và các chuyên gia bên
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 15
AN SINH XÃ HỘI
ngoài phổ biến, đào tạo kiến thức về gia đình, giới và các vấn đề khác; là nơi tiến hành các hoạt động
xã hội. Mạng lưới chi nhánh, cụm: tính đến tháng 12/2009, TYM đã phát triển được 41 chi nhánh tại
10 tỉnh/thành phố bao gồm Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Nam
Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ với 1.256 cụm với dư nợ cho vay đạt xấp xỉ 190 tỷ đồng.
Hạn chế của TYM

SẢN
5,494,168.65 4,495,064.67
Tài nguyên nợ 2,710,292.17 2,031,277.90
Các khoản vay ngắn
hạn
III.5 2,022,486.97 1,813,217.75
iết kiệm bắt buộc và tự
nguyện trách nhiệm
III.6 71,377.48 60,956.63
Quỹ tương hỗ III.7 275,176.08 157,103.52
Khoản phải trả, phải
nộp ngắn hạn khác
III.8 341,251.65
Khoản vay dài hạn
Vốn chủ sở hữu 2,783,876.48 2,463,786.77
Nguồn kinh phí và quỹ
Khoản quyên góp quỹ 1,914,624.20 1,902,035.79
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 17
AN SINH XÃ HỘI
Lợi nhuận giữ lại 926,488.44 764,206.57
Tài nguyên trong tài sản cố định 79,619.95 14,674.62
Quỹ khác thuộc vốn chủ sở hữu 160,759.90 79,888.45
Quỹ khen thưởng và phúc lợi 54,707.05 53,100.56
Ảnh hưởng của chênh lệch tỷ giá
ngoại tệ
352,323.06) (350,119.22)
TỔNG CỘNG NGUỒN 5,494,168.65 4,495,064.67
1.2.3 Tổ chức tài chính vi mô M7.
Ngày 05/07/2006, thành phố Điện Biên Phủ, Mạng lưới TCVM Quốc gia - nhóm M7 được thành
lập, gồm 7 chương trình TCVM hợp thành “Mạng lưới M7”.Mục đích hoạt động của các thành viên

Chúng ta có thể thấy một số địa phương như tại huyện Uông Bí - Quảng Ninh, TCTCVM nằm
trong mạng lưới M7 với tên gọi "Quỹ khuyến khích phụ nữ phát triển" đã thu hút sự tham gia của trên
7.000 thành viên là phụ nữ. Trong số đó, đã có gần 1000 thành viên thoát nghèo. Tham gia tổ chức
này, chị em không chỉ được vay vốn làm kinh tế với lãi suất thấp mà còn được hướng dẫn cách tiết
kiệm tín dụng, làm kinh tế cải thiện thu nhập. Riêng Quỹ hỗ trợ phụ nữ ở Ninh Phước, sau 3 năm triển
khai, chương trình đã giúp trên 35% số hộ thoát nghèo đói, cuộc sống của rất nhiều hộ dân trong vùng
được cải thiện.
Cơ cấu tổ chức tài chính vi mô M7
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 19
AN SINH XÃ HỘI
 Mô
hình Grameen Bank đã hoạt động và đạt được những thành quả nhất định ở hầu hết các nhóm
nước trên thế giới. Phương pháp Grameen cũng khẳng định được vai trò tích cực của mình tại
thị trường Việt Nam thông qua 3 TCTCVM bán chính thức là CEP, TYM, M7. Đặc biệt
phương pháp này đã khắc phục được một số nhược điểm của các TCTCVM trong việc cho vay
người nghèo. Thực tế cho thấy, các TCTCVM nói chung và các TCTCM áp dụng phương pháp
Grameen nói riêng vẫn chưa đáp ứng được hầu hết nhu cầu TCVM của người dân Việt Nam.
Thị trường TCVM Việt Nam đầy tiềm năng sẽ tạo những cơ hội lớn cho mô hình Grameen
Bank phát triển nhưng cũng còn không ít những thách thức đòi hỏi mô hình này ngày càng hoàn
thiện nhằm phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam. Sau đây chúng tôi sẽ đưa ra những giải
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 20
AN SINH XÃ HỘI
pháp và một số kiến nghị nhằm cải tiến và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho mô hình Grameen
Bank phát triển tại Việt Nam
1.3.Thực trạng của hệ thống tài chính vi mô trong công tác xóa đói giảm
nghèo.
1.3.1 Kết quả đạt được của một số chương trình.
1.3.1.1 Một số dự án tài trợ của ngân hàng thế giới.
Gần đây Ngân hàng Thế giới đã triển khai một dự án tài trợ các hình thức đầu tư vào khu
vực nông thôn cho 445.000 hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ, giúp tăng thu nhập ròng trung bình

Quỹ Cho vay Tài chính Vi mô đã cấp khoảng 275.000 khoản vay với giá trị trung bình khoảng
350U đô la Mỹ mỗi khoản vay, hầu hết được kỳ vọng đã được cấp cho những người nghèo. Trong số
những khoản vay đó, 32% vốn vay được phân bổ cho khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc là khu
vực nghèo nhất Việt nam. 43% còn lại được phân bổ cho những người còn khá nghèo tại khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm một số lượng lớn các hộ gia đình nghèo mặc dù tỷ lệ nghèo tại
khu vực này thấp hơn đáng kể. Khoảng 37% khoản vay được cấp cho phụ nữ, trong đó tỷ lệ cho vay
của các tổ chức tài chính tham gia đạt khoảng 10-50% đối với Quỹ Phát triển Nông thôn I và 13-67%
đối với Quỹ Cho vay Tài chính Vi mô Chúng ta có thể nhận thấy mặt tích cực cũng như mặt tiêu cực
của vấn đề này. Một mặt có thể thấy lượng khách hàng của Ngân hàng chính sách xã hội là hộ nghèo
đang giảm dần. Chứng tỏ, chính sách XĐGN của nhà nước đang ngày càng phát huy tác dụng. Số hộ
nghèo đang ngày càng giảm. Như phần phân tích tình hình nghèo chúng tôi đã có nêu, tỷ lệ hộ nghèo
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 22
AN SINH XÃ HỘI
đã giảm từ 18.1% (năm 2006) xuống còn 14.75% (năm 2007) và 12.1% (năm 2008) và khoảng 11%
vào cuối năm 2009. Nhưng mặt khác, tỷ trọng dư nợ cho vay hộ nghèo giảm là do chúng ta vẫn dùng
chuẩn nghèo cũ, nhiều hộ nghèo thoát nghèo nhưng vẫn không đủsống và đời sống khó khăn, tuy
nhiên vẫn không tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng.
1.3.1.2Kết quả hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội.
Tính đến ngày 30/6/2008, tổng nguồn vốn của NHCSXH đạt 45.000 tỷ đồng, tăng gấp 5 lần so
với năm 2002. Tổng dư nợ đạt 42.200 tỷ đồng. Trong đó, 90% nguồn vốn được đầu tư cho 4 chương
trình: hộ nghèo, vùng khó khăn, HSSV và giải quyết việc làm. Đến đầu tháng 2/2009, tổng dư nợ của
NHCSXH đạt 52.647 tỷ đồng, tăng 136 tỷ đồng so với thời điểm cuối năm 2008, trong đó cho vay hộ
nghèo đạt 27.428 tỷ đồng, xuất khẩu lao động 797 tỷ đồng, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
3.603 tỷ đồng, hộ gia đình sản xuất kinh doanh 6.245 tỷ đồng, giải quyết việc làm 3.496 tỷ đồng.
Trong 5 năm, đã có hơn 9.1 triệu lượt hộ nghèo vay vốn, 1.4 triệu hộ vượt qua ngưỡng nghèo; tạo
thêm 1.9 triệu việc làm mới; hơn 750.000 HSSV có hoàn cảnh khó khăn được vay vốn; xây dựng hơn
820.000 công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn… Nhìn chung, sau 5 năm, NHCSXH
đã tổ chức có hiệu quả việc chuyển tải nguồn vốn các chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến
các đối tượng thụ hưởng, góp phần XĐGN. NHCSXH tạo cơ hội cho người nghèo và các đối tượng
chính sách khác tiếp cận với dịch vụ dụng Nhà nước; đồng thời khẳng định chủ trương tập trung các

Ngân hàng Grameen đã cho vay hơn 8 tỉ đô la từ năm 1983 cho khoảng hơn 8 triệu người
nghèo trong đó 97% là phụ nữ. Ông Yunus cho biết, tỷ lệ hoàn trả của ngân hàng là trên 98%. Ðến
tháng 3/1995, sau 18 năm thí nghiệm ở làng Jobra, Ngân hàng Grameen đã đạt tới con số tiền cho vay
là một tỷ đôla Mỹ. Hai năm sau, năm 1997, con số này đã gấp đôi, lên tới 2 tỷ đôla Mỹ. Lúc đầu,
Grameen được Chính phủ góp vốn đầu tư, nhưng từ năm 1995 Ngân hàng Grameen hoàn toàn tự túc.
Ðến nay, 94% số cổ phần là do các nông dân nghèo làm chủ. Theo Giáo sư Muhammad Yunus thì đến
cuối năm 2004 trên thế giới đã có 3.100 tổ chức có mô hình giống như Ngân hàng Grameen ở nhiều
VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Page 24
AN SINH XÃ HỘI
quốc gia, từ những nước nghèo như Uganda đến những thành phố giàu có như New York, Chicago ở
Mỹ. Các tổ chức này đã tiếp cận với 92 triệu người vay tiền, trong số đó gần 67 triệu là những người
nghèo nhất, được vay món tiền đầu tiên từ một ngân hàng thương mại. Từ năm 1983 đến 2006, riêng ở
Bangladesh Ngân hàng Grameen đã cho vay tổng cộng gần 6 tỷ đôla Mỹ cho 6.6 triệu khách hàng.
Mỗi năm, ngân hàng cho vay khoảng 500 triệu đôla Mỹ, trung bình mỗi món vay là 100 đô la Mỹ.
Ngân hàng ngày nay tiếp tục mở rộng phạm vi biên giới và vẫn cung cấp tín dụng cho người nghèo
nông thôn. Vào giữa năm 2006, số lượng chi nhánh Ngân hàng Grameen Bank vượt qua con số 2.100.
Thành công của nó truyền cảm hứng cho các dự án tương tự trên thế giới. Hiện tại trên thế giới có
khoảng 168 bản sao của Grameen Bank tại 44 quốc gia. Mỗi tuần, một bản sao mới của Grameen Bank
lại được ra đời ở một nơi nào đó. Tham vọng của Grameen là cho vay tín dụng cho khoảng 1.3 tỷ
người nghèo nhất thế giới cho đến năm 2025.
1.3.3 Sự đóng góp của TYM vào công cuộc xóa đói giảm nghèo.
Tính đến cuối tháng 11/2005, TYM đã có 21.186 thành viên với tổng số vốn phát ra gần 355.4
tỷ đồng, dư nợ vốn đạt trên 51 tỷ đồng. Tỷ lệ hoàn trả luôn đạt trên 99.9%. Số tiền tiết kiệm huy động
được từ thành viên là 24 tỷ đồng. Năm 2006, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam quyết định chuyển Quỹ
Tình Thương thành đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động vì mục đích xã hội phi lợi nhuận. Điều này đã
tạo điều kiện để TYM có thể tiếp cận với nguồn vốn trong và ngoài nước nhằm mở rộng hoạt động
phục vụ thêm nhiều phụ nữ nghèo. Chính bước chuyển đổi này đã giúp TYM phát triển nhanh chóng.
Từ 21.186 thành viên năm 2005, sau 4 năm TYM đã thu hút được hơn 40.000 thành viên tăng gần 2
lần so với số lượng thành viên tính đến 2005
1.3.4 Sự đóng góp của M7 vào công tác xóa đòi giảm nghèo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status