TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động bán hàng bằng hình thức
thương mại điện tử ở Việt Nam
Giáo viên hướng dẫn : Mai Quỳnh Phương
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Quang Quỳnh
Lớp :
Hà Nội- 2013
2
MỤC LỤC
KÝ HIỆU VIẾT TẮT
TMĐT: Thương mại điện tử
CNTT: Công nghệ thông tin
B2B: Doanh nghiệp với doanh nghiệp
B2C: Doanh nghiệp với người tiêu dùng
C2C: Người tiêu dùng với người tiêu dùng
TTĐT: Thanh toán điện tử
Nguyễn Quang Quỳnh Page 2
3
LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã và đang đem lại những chuyển biến
mạnh mẽ trên toàn thế giới. Với sự phát triển nhanh như vũ bão. Việc áp dụng
công nghệ thông tin trong hoạt động kinh tế đem lại những lợi ích to lớn cho toàn
xã hội. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin thì Thương mại điện tử
cũng đã trở thành lĩnh vực hoạt động kinh tế không còn xa lạ với nhiều quốc gia
trên toàn thế giới. Con người đã tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc trong việc
mua sắm và các giao dịch kinh tế so với trước kia. Việc áp dụng thương mại điện
tử trong hoạt động kinh doanh là một xu thế tất yếu của thời đại. Và Việt Nam –
một đất nước đang phát triển và trong quá trình hội nhập không nằm ngoài xu
hướng phát triển đó. Tuy đây là một vấn đề con khá mới mẻ nhưng nó đã thu hút
nhiều tổ chức tham gia hoạt động về “thương mại điện tử”. Tuy rằng đã có các điều
luật về Thương mại điện tử, trong đó quy định rõ về trách nhiệm, công việc, quyền
hạn, các phương thức trao đổi, buôn bán, sử dụng thương mại điện tử nhưng việc
đưa ra một khái niệm chính xác và bao quát nhất về Thương mại điện tử thì vẫn
chưa có.
Hiểu theo nghĩa hẹp
Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp thương mại điện
tử trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất
là qua Internet và các mạng liên thông khác.
Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “Thương mại điện tử bao gồm
việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh
toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản
phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”.
Nguyễn Quang Quỳnh Page 5
6
Theo Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái
Bình Dương (APEC), “Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành
thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”.
Hiểu theo nghĩa rộng
Thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng là các giao dịch tài chính và thương
mại bằng phương tiện điện tử như: trao đổi dữ liệu điện tử, chuyển tiền điện tử và
các hoạt động như gửi/rút tiền bằng thẻ tín dụng.
Theo quan điểm này, có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm vi hoạt
động của Thương mại điện tử:
Luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hợp quốc về Luật
Thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: “Thuật ngữ thương mại
[commerce] cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ
mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan
hệ mang tính thương mại [commercial] bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các
giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc
kênh điện tử mà trong đó Internet hay ít nhất là các kỹ thuật và giao thức được sử
dụng trong Internet đóng một vai trò cơ bản và công nghệ thông tin được coi là
điều kiện tiên quyết. Một khía cạnh quan trọng khác là không còn phải thay đổi
phương tiện truyền thông, một đặc trưng cho việc tiến hành kinh doanh truyền
thống. Thêm vào đó là tác động của con người vào quy trình kinh doanh được
giảm xuống đến mức tối thiểu. Con người đã tiết kiệm đựợc nhiều thời gian hơn và
Nguyễn Quang Quỳnh Page 7
8
chi phí trong việc mua bán hàng hóa và điều này có lợi hơn cho cả người sản xuất
cà tiêu dùng.
1.1.2 Các đặc trưng của thương mại điện tử
Các bên tiến hành giao dịch trong thương mại điện tử không tiếp xúc trực
tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Tức là chúng ta tiếp xúc với
khách hàng của chúng ta thông qua các phương tiện điện tử. Chẳng hạn như :điện
thoại, fax hay email nhưng hiểu một cách thông dụng phổ biến nhất vẫn là thông
qua mạng internet với một máy tính nối mạng để tiếp xúc được với khách hàng để
quảng cáo thuyết phục với mục đích cuối cùng là bán được sản phẩm cho họ, đáp
ứng nhu cầu mà họ mong muốn.
Các giao dịch thương mại truyền thông được thực hiện với sự tồn tại của
khái niệm biên giới quốc gia. TMĐT xóa nhòa yếu tố này cả về không gian và thời
gian. Giờ đây khoảng cách địa lý không còn là vấn đề quan trọng nữa. Thương mại
điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham gia của ít nhất
3 chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ
mạng các cơ quan chứng thực.
Đối với thương mại điện tử truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là
phương tiện để trao đổi dữ liệu còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông
tin chính là thị trường.
1.1.3. Những phương tiện kĩ thuật trong thương mại điện tử
1.1.3.1. Điện thọai
10
hay nhiều mạng nối kết với nhau tạo ra một cộng đồng điện tử liên công ty
(Enterprise Electronic Community).
1.1.3.4. Internet và web.
Internet là mạng cho các mạng máy tính. Một máy tính có địa chỉ internet
trước tiên được nối vào mạng LAN, rồi đến mạng WAN (Với vai trò như các
SUBNET) rồi vào Backbone (trung tâm của các đường nối kết và các phần cứng
nối kết dùng để truyền dữ liệu với tốc độ cao) như vậy là máy tính đó đã giao tiếp
với Internet. Thông qua Internet, thông tin được trao đổi với các máy tính các
mạng với nhau. Các nối kết này được xây dựng trên cơ sở giao chuẩn TCP/IP
(Transmission Control Protocol/ Internet Protocol): TCP giữ vai trò đảm bảo việc
truyền gửi chính xác dữ liệu từ người sử dụng tới máy chủ (Serve) ở nút mạng. IP
đảm nhận việc chuyển các gói dữ liệu (Packet of Data) từ nút nối mạng này sang
nút nối mạng khác theo địa chỉ Internet (IP number: Địa chỉ 4 byte đã đăng ký khi
nối máy vào Internet có dạng xx.xx.xx.xx thập phân thì sẽ còn số trong dãy số từ 1
đến 255);
Công nghệ Web (World Wide Web hay còn ký hiệu là WWW) là công
nghệ sử dụng các liên kết siêu văn bản (Hyperlink, Hypertext) tạo ra các văn bản
chứa nhiều tham chiếu tới các văn bản khác, cho phép người sử dụng chuyển từ
một cơ sở dữ liệu này sang một cơ sở dữ liệu khác, bằng cách đó mà truy nhập vào
các thông tin thuộc các chủ đề khác nhau và dưới nhiều hình thức khác nhau như:
văn bản, đồ hoạ, âm thanh, phim…Như vậy Web được hiểu như là một công cụ
hay nói đúng hơn là một dịch vụ thông tin toàn cầu của Internet nhằm cung cấp
những dữ liệu thông tin viết bằng ngôn ngữ HTML (Hyperlink Markup Language:
Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản) hoặc các ngôn ngữ khác được kết hợp với
HTML và truyền đến mọi nơi trên cơ sở các giao thức chuẩn quốc tế như: HTTP
(Hypertext Tranfer Protocol: Giao thức chuẩn truyền tệp), POP (Giao thức truyền
Nguyễn Quang Quỳnh Page 10
11
thư tín), SMTP (Simple Massage Tranfer Protocol: Giao thức truyền thông điệp
mua hàng điện tử nhưng phổ biến nhất là thanh toán thông qua thẻ tín dụng. Đây là
một hình thức thanh toán phổ biến và tương đối rộng rãi trên thế giới.
1.1.4.3. Trao đổi dữ liệu điện tử
Trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange, gọi tắt là EDI) là
việc trao đổi dữ liệu dưới dạng “có cấu trúc” (structured form) từ máy tính điện tử
này sang máy tính điện tử khác, giữa các doanh nghiệp giao nhận đã thỏa thuận với
nhau một cách tự động mà không cần có sự can thiệp của con người (gọi là dữ liệu
có cấu trúc, vì các bên đối tác phải thỏa thuận từ trước khuôn dạng cấu trúc của các
thông tin). Theo Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
định nghĩa pháp lý sau đây: “Trao đổi dữ liệu điện tử” (EDI) là việc chuyển giao
thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện
điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được thỏa thuận để cấu trúc thông tin. EDI
được sử dụng từ trước khi có Internet, trước tiên người ta dùng “mạng gia tăng giá
trị” (Value added network: VAN) để liên kết các đối tác EDI với nhau. Cốt lõi của
VAN là một hệ thống thư tín điện tử cho phép các máy tính điện tử liên lạc được
với nhau và hoạt động như một phương tiện lưu trữ và tìm tính điện tử nằm ở mọi
nơi trên thế giới. Ngày nay VAN được xây dựng chủ yếu trên nền Internet.
Nguyễn Quang Quỳnh Page 12
13
1.1.5 Mô hình hoạt động thương mại điện tử
1.1.5.1. B2B
Doanh nghiệp với doanh nghiệp(B2B): là viết tắt của thuật ngữ Business To
Business – mô hình kinh doanh thương mại điện tử trong đó giao dịch xảy ra trực
tiếp giữa các doanh nghiệp với nhau. Giao dịch của các công ty với nhau thường
được bắt đầu từ các giao tiếp điện tử, trong đó có giao tiếp qua các sàn giao dịch
điện tử.Dễ thấy đây là loại hình giao dịch có số lượng giao dịch nhỏ nhất nhưng
giá tri giao dịch lớn nhất.
1.1.5.2. B2C
Giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng (B2C): mục đích cuối cùng là dẫn
tới việc người tiêu thụ có thể mua hàng mà không cần tới cửa hàng truyền thống
Hoạt động bán hàng bằng hình thức thương mại điện tử cũng như thương
mại truyền thống bao gồm:
- Nghiên cứu thị trường
- Vấn đề trung gian và hoạt động phân phối
- Vấn đề quảng cáo và xúc tiến bán hàng
- Tổ chức nghiệp vụ bán hàng
- Đánh giá kết quả
Nguyễn Quang Quỳnh Page 14
15
Tuy nhiên, TMĐT vẫn chứa trong nó đặc thù so với thương mại truyền
thống: khả năng tạo ra một cửa hàng ảo (Virtual store) trên Internet ngày càng
giống như thật, với thời gian thật. Nó được hoạt động 24/24 giờ trong một ngày,
7/7 ngày trong 1 tuần, 365/365 ngày trong 1 năm, không có ngày nghỉ (Death of
Time). Có khả năng đến mọi nơi, khoảng cách địa lý không bị ràng buộc trong
thương mại điện tử (Death of Distance). Không cần phải tiến hành giao dịch qua
trung gian (Death of Intermediary), khách hàng và nhà cung cấp có thể giao dịch
trực tiếp. Tạo một kênh marketing trực tuyến (Online Marketing), đồng thời có thể
thực hiện thống kê trực tuyến. TMĐT đặc biệt thích hợp với việc cung cấp hàng
trực tuyến đối với một số dung liệu (Hàng hoá đặc biệt), hay dịch vụ như phim
ảnh, âm nhạc, sách điện tử, phần mềm, tư vấn… Tất nhiên, TMĐT không chỉ thuần
tuý đem lại lợi ích cho hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Trong quá trình
nghiên cứu chúng ta sẽ chỉ ra những bất lợi và những lưu ý cần thiết đối với các
doanh nghiệp.
1.1.7 . Lợi ích của thương mại điện tử:
1. Lợi ích đối với các tổ chức
a. Mở rộng thị trường: Với chi phí đầu tư nhỏ hơn nhiều so với thương mại
truyền thống, các công ty có thể mở rộng thị trường, tìm kiếm, tiếp cận người cung
cấp, khách hàng và đối tác trên khắp thế giới. Việc mở rộng mạng lưới nhà cung
cấp, khách hàng cũng cho phép các tổ chức có thể mua với giá thấp hơn và bán
được nhiêu sản phẩm hơn.
k. Thông tin cập nhật: Mọi thông tin trên web như sản phẩm, dịch vụ, giá
cả đều có thể được cập nhật nhanh chóng và kịp thời.
l. Chi phí đăng ký kinh doanh: Một số nước và khu vực khuyến khích bằng
cách giảm hoặc không thu phí đăng ký kinh doanh qua mạng. Thực tế, việc thu phí
nếu triển khai cũng gặp rất nhiều khó khăn do đặc thù của Internet.
m. Các lợi ích khác: Nâng cao uy tín, hình ảnh doanh nghiệp; cải thiện chất
lượng dịch vụ khách hàng; đối tác kinh doanh mới; đơn giản hóa và chuẩn hóa các
quy trình giao dịch; tăng năng suất, giảm chi phí giấy tờ; tăng khả năng tiếp cận
thông tin và giảm chi phí vận chuyển; tăng sự linh hoạt trong giao dịch và hoạt
động kinh doanh.
2. Lợi ích đối với người tiêu dùng
a. Vượt giới hạn về không gian và thời gian: Thương mại điện tử cho phé
khách hàng mua sắm mọi nơi, mọi lúc đối với các cửa hàng trên khắp thế giới.
b. Nhiều lựa chọn về sản phẩm và dịch vụ: Thương mại điện tử cho phép
người mua có nhiều lựa chọn hơn vì tiếp cận được nhiều nhà cung cấp hơn
c. Giá thấp hơn: Do thông tin thuận tiện, dễ dàng và phong phú hơn nên
khách hàng có thể so sánh giá cả giữa các nhà cung cấp thuận tiện hơn và từ đó tìm
được mức giá phù hợp nhất
Nguyễn Quang Quỳnh Page 17
18
d. Giao hàng nhanh hơn với các hàng hóa số hóa được: Đối với các sản
phẩm số hóa được như phim, nhạc, sách, phần mềm việc giao hàng được thực
hiện dễ dàng thông qua Internet
e. Thông tin phong phú, thuận tiện và chất lượng cao hơn: Khách hàng có
thể dễ dàng tìm được thông tin nhanh chóng và dễ dàng thông qua các công cụ tìm
kiếm (search engines); đồng thời các thông tin đa phương tiện (âm thanh, hình ảnh)
f. Đấu giá: Mô hình đấu giá trực tuyến ra đời cho phép mọi người đều có thể
tham gia mua và bán trên các sàn đấu giá và đồng thời có thể tìm, sưu tầm những
món hàng mình quan tâm tại mọi nơi trên thế giới.
g. Cộng đồng thương mại điện tử: Môi trường kinh doanh TMĐT cho phép
USD).
Công ty nghiên cứu trên dự kiến trong năm 2013, châu Á-Thái Bình Dương
dự kiến sẽ trở thành khu vực có mức tăng trưởng cao nhất (30%), với doanh thu
ước đạt 433 tỷ USD. Riêng Trung Quốc có thể sẽ vươn lên vị trí thứ hai, với mức
tăng trưởng 65% và doanh thu dự kiến đạt 181 tỷ USD. Song, Mỹ vẫn sẽ ở vị trí
đầu bảng, với doanh thu ước đạt 384 tỷ USD, dù tốc độ tăng trưởng thấp hơn
Nguyễn Quang Quỳnh Page 19
20
(12%).EMarketer đánh giá số lượng người mua hàng qua mạng tại Trung Quốc sẽ
tăng gấp đôi trong giai đoạn từ năm 2012-2016.
Các số liệu được eMarketer sử dụng gồm doanh số về bán lẻ, bán hàng du
lịch, lượng tải về thông qua các trang mạng, nhưng không bao gồm vé xem các sự
kiện và cá cược.
Tại Việt Nam, những rắc rối của MB24, Nhóm Mua, Deal Sốc là điển hình
cho khó khăn của thương mại điện tử năm 2012. Dù vậy, các chuyên gia vẫn nhận
định năm 2013 sẽ xuất hiện thời cơ tốt để lĩnh vực này "cất cánh".
1.2.2. Giới thiệu một số công ty thực hiện thương mại điện tử thành công
trên thế giới
Đó trước hết là Amazon books có địa chỉ: WWW.Amazon.Com được quảng
cáo là: “hiệu sách lớn nhất thế giới” với doanh thu 3 triệu USD/ngày. Với 50% thị
phần sách ảo. Amazon được khai trương vào năm 1995, đến năm 1996 họ đã bán
được lượng sách trị giá 15,7 triệu USD.vừa công bố báo cáo kết quả kinh doanh
quý I/2012 của công ty. Sau 3 tháng hoạt động đầu năm, Amazon đạt doanh thu
bán hàng là 13.18 tỷ USD, lợi nhuận công ty đạt 130 triệu USD, giảm 35% so với
con số 201 triệu USD ghi nhận 1 năm trước đó. Kết quả kinh doanh này không
hoàn toàn làm vừa lòng giới đầu tư hay các nhà phân tích kinh tế, tuy nhiên vẫn có
những số liệu tích cực chứng tỏ sự tăng trưởng của Amazon. Giám đốc điều hành
Jeff Bezos cho biết Amazon hiện nắm giữ hơn 130.000 cuốn sách mới, hay tương
đương khoảng 16/100 sách bán chạy nhất trên mạng là có bản quyền dành riêng
cho kho ứng dụng Kindle Store. Ngoài ra, máy tính bảng vẫn tiếp tục là sản phẩm
những tỷ phú giàu nhất Trung Quốc, năm ngoái từng phát biểu ông dự báo giá trị
giao dịch của website Taobao trong năm 2012 sẽ đạt 1 nghìn tỷ nhân tệ.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG BẰNG HÌNH THỨC THƯƠNG
MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Nguyễn Quang Quỳnh Page 22
23
2.1 Lịch sử phát triển TMĐT ở Việt Nam.
2.1.1 Sự hình thành thương mại điện tử ở Việt Nam
Bạn hiểu biết về Thương mại điện tử, khắp nơi trên thế giới nói về lợi ích to
lớn mà Thương mại điện tử đem lại… Nhưng đôi khi ta không biết Thương mại
điện tử được hình thành từ đâu, từ khi nào?.Sau đây tôi xin cung cấp một số thông
tin giúp bạn biết về lịch sử hình thành Thương mại điện tử.
Trước khi nói về lịch sử hình thành của thương mại điện tử nói chung và lịch
sử hình thành thương mại điện tử nói riêng. Chúng ta sẽ nói về lịch sử hình thành
của internet.
- Tiền thân của mạng Internet ngày nay là mạng ARPANET. Cơ quan quản
lý dự án nghiên cứu phát triển ARPA thuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết 4 địa điểm
đầu tiên vào tháng 7 năm 1969 bao gồm: Viện nghiên cứu Stanford, Đại học
California, Los Angeles, Đại học Utah và Đại học California, Santa Barbara. Đó
chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network – WAN) đầu tiên được xây dựng.
- Năm 1991, Tim Berners Lee ở Trung tâm nghiên cứu nguyên tử châu Âu
(CERN) phát minh ra World Wide Web (WWW) dựa theo một ý tưởng về siêu văn
bản được Ted Nelson đưa ra từ năm 1985. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng
trên Internet vì người ta có thể truy cập, trao đổi thông tin một cách dễ dàng.
- Từ khi có các trang web, doanh nghiệp thấy mình có thể đưa thông tin lên
web tất cả những thông tin mà mình muốn để cho cả thế giới có thể đọc,xem xét và
cảm nhận. Ban đầu chỉ là những dòng chữ đơn thuần, càng về sau công nghệ càng
phát triển, những trang www đã trở nên đẹp hơn, kiểu dữ liệu, thông tin phức tạp
hơn, có thể là hình, là âm thanh, là video, là flash v.v… doanh nghiệp.Doanh
nền kinh tế quốc gia trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa. Nắm bắt được tình hình
đó, đảng và chính phủ đã tạo những điều kiện để triển khai hệ thống thương mại
điện tử.
Trong nghị quyết 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ có nêu rõ: “Mục
tiêu xây dựng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta đến năm 2000 là: xây
dựng những nền móng bước đầu vững chắc cho một kết cấu hạ tầng về thông tin
trong xã hội, có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản về thông tin trong quản lý
nhà nước và trong các hoạt động kinh tế-xã hội…”. Một trong những kết cấu hạ
tầng đó là: hệ thống các đường truyền tin thông minh, hệ thống các thiết bị đầu
cuối và các phần mềm kèm theo dùng để trao đổi, xử lý thông tin. Mục tiêu hàng
đầu trong kế hoạch tổng thể đến năm 2000 của chương trình quốc gia về công nghệ
thông tin nêu rõ: “Xây dựng hệ thống các máy tính và các phương tiện truyền
thông được liên kết với nhau trong các mạng với những công cụ phần mềm đủ
mạnh, các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu có khả năng phục vụ các hoạt động
quản lý nhà nước và các hoạt động huyết mạch của nền kinh tế”. Mặt khác nhu cầu
của xã hội về thông tin đang phát triển rất nhanh. Trước tình hình đó, tổng công ty
bưu chính- viễn thông đã xây dựng kế hoạch tổng thể về phát triển mạng và dịch
vụ truyền số liệu tới năm 2000 nhằm tạo ra một kết cấu hạ tầng vững mạnh về
mạng số liệu của Việt Nam.
Ngày 19/11/1997 Việt Nam chính thức nối mạng với Internet toàn cầu và
mở ra con đường mới cho sự bắt đầu hình thành và phát triển thương mại điện tử ở
Việt Nam. Nếu cuối năm 2003 số người truy cập internet ở Việt Nam là khoảng 3,2
triệu người thì đến cuối năm 2004 con số này tăng lên gần gấp đôi tức khoảng 6,2
Nguyễn Quang Quỳnh Page 25