Nghiên cứu mô hình Chaebol Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho tập đoàn kinh tế Việt Nam - Pdf 18

Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368
Nghiên cứu mô hình Chaebol Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho tập đoàn
kinh tế Việt Nam
Mục lục
Phần I. Hàn Quốc
I.Giới thiệu về Hàn Quốc
1.1. Đất nước - con người
1.2.Chính trị
1.3.Kinh tế
II.Mô hình Chaebol Hàn Quốc
2.1.Khái niệm
2.2.Lịch sử hình thành và phát triển của Chaebol
2.3. Đặc điểm Chaebol
III. Ưu nhược điểm và tác động của Chaebol tới nền kinh tế Hàn Quốc
3.1.Chế độ tập trung hoá và tính hình thức cao trong việc ra quyết định
3.2.Vị trí độc quyền trong nước
3.3.Khuynh hướng đa dạng hoá của Chaebol
IV. Đánh giá hoạt động của mô hình Chaebol từ sau khủng hoảng năm 1997
4.1.Những thành tựu đạt được sau cải tổ
4.1.1.Về cơ cấu kinh doanh
4.1.2.Về cơ cấu vốn
4.1.3.Về quản lý công ty
4.2.Những tồn tại chủ yếu
4.2.1.Trên phương diện vĩ mô
4.2.2.Trên phương diện vi mô
4.3.Tình hình hiện nay
4.3.1.Nguy cơ tan rã
4.3.2.Cơ cấu sở hữu thay đổi
4.3.3.Chaebol thâm nhập vào các ngành, lĩnh vực kinh doanh khác
1
Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368

Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368
Lời mở đầu
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự kiện Việt Nam gia nhập
tổ chức thương mại thế giới đã đánh dấu một bước mới quan trọng cho sự phát triển kinh tế
nước nhà. Cơ hội mở ra cho các doanh nghiệp trong nước là rất rộng lớn, nhưng bên cạnh đó
cũng đặt ra nhiều thách thức. Tham gia sân chơi chung, bản thân các doanh nghiệp phải nỗ
lực không ngừng, phải tự hoàn thiện mình chứ không thể trông chờ vào sự bảo hộ, giúp đỡ
từ phía nhà nước. Một thành phần kinh tế giữ vai trò quan trọng về phía các doanh nghiệp là
các tổng công ty lớn, mà hiện nay đa phần là tổng công ty nhà nước. Không nằm ngoài xu
hướng phát triển chung, các doanh nghiệp này muốn phát triển thành tập đoàn kinh tế lớn
mạnh thì phải học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước để cải cách có hiệu quả.
Hàn Quốc là một nước láng giềng xa của Việt Nam trong khu vực Châu Á nhưng
những bài học về cải tổ mô hình tập đoàn gia đình của họ - các Chaebol thì không hề xa lạ
với thực trạng tổng công ty của ta. Hàn Quốc hiện là một trong 30 nước OECD với thu nhập
bình quân đầu người cao ( hơn 16.000 USD) và tốc độ tăng trưởng khá ổn định ( 3 - 4%/
năm). Đạt được thành tựu ấy phải kể đến vai trò rất lớn của các Chaebol và một chính phủ
rất năng động. Sự kết hợp chặt chẽ hai yếu tố: doanh nghiệp và chính phủ mà chính phủ vẫn
giữ vai trò kiểm soát là biện pháp tỏ ra khá hữu hiệu để đưa nền kinh tế Hàn Quốc đi lên.
Nhìn vào thành công của Hàn Quốc và ngẫm lại thực trạng của mình là một điều cần thiết.
Để làm được những kỳ tích mà Hàn Quốc đã làm được, chính phủ Việt Nam, doanh nghiệp
Việt Nam còn phải học hỏi nhiều những kinh nghiệm của người đi trước. Thiết nghĩ, để tìm
ra lối đi cho các tổng công ty với mong ước phát triển thành tập đoàn lớn mạnh thì việc nên
làm là nghiên cứu mô hình Chaebol Hàn Quốc, tìm ra những ưu điểm và nét tương đồng để
vận dụng linh hoạt và tránh những nhược điểm mà họ đã mắc phải.
Nhận thấy tính cấn thiết của vấn đề, chúng em đã nghiên cứu đề tài " Nghiên cứu mô
hình Chaebol Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho các Tập đoàn kinh tế Việt Nam" nhằm
hiểu rõ hơn về các Chaebol Hàn Quốc và tổng công ty nước ta trong xu hướng toàn cầu hoá.
4

Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368

0,01%. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và của phụ sản giảm mạnh. Tuổi thọ trung bình của người
dân Hàn Quốc được cải thiện đáng kể. Năm 1960 tuổi thọ nam giới là 51, nữ giới là 54. Đến
năm 2000, tuổi thọ trung bình nam giới là 74,4 và của nữ giới là 81,2.Tuy nhiên tháp dân số
của Hàn Quốc có xu hướng hình chuông vì tỷ lệ sinh thấp và tuổi thọ trung bình kéo dài. Xu
hướng này giống với các nước phát triển.
Phần lớn người dân Hàn Quốc đều có tín ngưỡng tôn giáo. Trong số 51% những
người theo tôn giáo thì 49% theo đạo Phật, 49% theo Kitô giáo, 1% là tín đồ đạo Khổng, còn
lại là tôn giáo khác. Các giá trị đạo Khổng ngày nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống
thường ngày của người dân xứ Hàn, người con trai cả đảm nhận trách nhiệm trụ cột trong
gia đình. Thêm vào đó tâm lý trọng nam cũng vẫn khá phổ biến ở Hàn Quốc.
Trong thành phần dân cư Hàn Quốc thì người Triều Tiên chiếm đại đa số. Dân tộc
thiểu số duy nhất là bộ phận nhỏ người Hoa.
Nhờ kinh tế phát triển nên chể độ ăn uống và chăm sóc y tế đều được cải thiện. Trong
những năm gần đây, ngân sách dành cho Bộ Y Tế và Phúc lợi đã tăng lên. Năm 2005, ngân
sách Chính phủ dành cho Bộ Y Tế lên tới 8906 tỷ won ( tương đương 9,2 tỷ USD). Tỷ lệ
chi cho y tế trong chi tiêu toàn hộ gia đình cũng tăng theo. Năm 2003 chi tiêu cho y tế bình
quân đầu người là 840.133 won, tăng gần 10 lần so với chi năm 1985 chỉ là 85.000 won.
1.2.Chính Trị
Dù ngày nay là một nước cộng hoà nhưng suốt chiều dài lịch sử, Hàn Quốc đã trải qua
nhiều năm tháng dưới chế độ độc tài hay phi dân chủ. Chỉ mãi đến cuối thập niên 80 của thế
kỷ XX, các nguyên tắc dân chủ mới bắt đầu được tôn trọng. Người đứng đầu nước là tổng
thống do dân trực tiếp bầu ra năm năm một lần và chỉ được giữ một nhiệm kỳ duy nhất.
Tổng thống là người hoạch định chính sách và người làm luật chủ yếu. Tổng thống hiện nay
của Hàn Quốc là ông Roh Moo-hyun ( Lỗ Vũ Huyền).
1.3.Kinh tế
Nền kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế thị trường trong đó nhà nước đóng một
vai quan trọng.
Nếu cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với
với các nước nghèo ở Châu Phi và Châu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn
Quốc xếp thứ 10 trên thế giới. Năm 2005 GDP danh nghĩa của Hàn Quốc ước đạt khoảng


0
2
4
6
8
10
1980-
1984
1985-
1989
1990-
1994
1995-
1999
2000-
2005
T?c đ? tăngGDP
.
Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia
II.Mô hình Chaebol Hàn Quốc
2.1.Khái niệm :
Chaebol (hay Jaebol) là tên của các tổ hợp công nghiệp có quy mô lớn thuộc sở hữu
của gia đình hoặc nhóm gia đình ở Hàn Quốc. Đây là một hình thức khối kinh tế tư nhân của
Hàn Quốc. Tiếng Hàn Quốc có nghĩa là “khối kinh doanh” hoặc tơ rớt (như tơ rớt dầu),
thường được dùng với nghĩa “đại doanh nghiệp” (tiếng Anh là “big business”).
Các đại doanh nghiệp kiểu “gia đình trị” này đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế
Hàn Quốc từ những năm 1960, một số đã trở thành những tên tuổi nổi tiếng thế giới như
Samsung, Hyundai và LG… Mỗi Chaebol bao gồm từ 40-50 công ty không có liên quan với
nhau về mặt kinh tế kỹ thuật nhưng thuộc sở hữu của một gia đinh, dòng họ. Về kết cấu, các

sử
dụng(người)
Daewoo 65.160,2 468,3 73091,6 186.314
Sunkyong 44.031,0 313,0 30.170,0 33.299
Samsung 34.286,5 64,7 11.211,8 11.904
Hyundai 27.278,5 7,7 1693,1 707
Samsung
Electronics
24.710,3 135,3 25.937,1 37.5
Samsung Life
Insurrance
17.530,0 52,2 33.941,1 9.853
LG
International
17.311,1 26.9 1644,8 3.836
LG
Electronics
14.765,5 36,5 16.662,1 65.284
Hyundai
Motor
14.491,2 65,8 10.131,1 47.174
(Nguồn: theoUNSTAD,1998)
2.2.Lịch sử hình thành và phát triển của Chaebol
Giữa thế kỷ XX, nền kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế nhỏ và dựa vào nông
nghiệp là chủ yếu. Tuy nhiên, vào năm1961, các chính sách của Tổng thống Park Chung
Hee đã thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá mau lẹ thông qua hoạt động kinh doanh quy mô
lớn. Chính sách công nghiệp hoá của chính phủ đề ra theo hướng đầu tư mới, nghĩa là
chaebol được bảo đảm vay vốn từ khu vực ngân hàng. Nhờ đó, chaebol đã đóng vai trò chủ
đạo trong việc phát triển các ngành công nghiệp, thị trường mới và sản xuất hàng xuất khẩu,
góp phần quan trọng đưa Hàn Quốc trở thành một trong những con hổ Đông Á.

nước ngoài. Chính phủ đảm bảo sự đền đáp mà một công ty nên làm đối với các chủ nợ
nước ngoài của mình. Các khoản vốn vay bổ sung luôn sẵn sàng được huy động từ các ngân
hàng trong nước. Vào nửa cuối thập niên 80, Chaebol đã chi phối ngành công nghiệp và đặc
biệt thịnh hành trong các lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và công nghiệp nặng.
Sự phát triển mạnh mẽ của Chaebol bắt đầu từ đầu những năm 1960, gắn liền với
việc mở rộng xuất khẩu của Hàn Quốc. Tính đa dạng hoá của sản phẩm là nhân tố quyết
định sự phát triển của Chaebol, các yếu tố như đổi mới, sẵn sàng phát triển dòng sản phẩm
mới giữ vai trò then chốt. Trong những năm 1950-1960, Chaebol tập trung vào hàng dệt
may; đến giữa thập niên 70- 80, công nghiệp nặng, hoá chất và quốc phòng chiếm ưu thế,
sang thập niên 90, sự phát triển thực sự diễn ra trong công nghiệp điện tử và công nghiệp kỹ
thuật cao. Chaebol cũng là nguyên nhân của sự thay đổi từ thâm hụt thương mại năm 1985
thành thặng dư thương mại năm 1986. Tuy nhiên, cán cân tài khoản vãng lai đã giảm từ hơn
14 tỷ USD năm 1988 xuống còn 5 tỷ USD năm 1989.Cuối thập niên 80, Chaebol đã độc lập
và vững mạnh về tài chính nên không cần sự hỗ trợ và bảo đảm tín dụng của chính phủ nữa.
10
Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368
Đến thập niên 1990, Hàn Quốc là một trong các NICs lớn mạnh nhất, tự hào về mức sống có
thể so sánh với các nước công nghiệp.
Tổng thống Kim Young-sam đã bắt đầu thử thách Chaebol nhưng cho đến cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 thì những hạn chế của hệ thống này mới bộc lộ rõ
nét. Trong số 30 Chaebol lớn nhất thì 11 đã sụp đổ từ giữa tháng 7 năm 1997 đến tháng 6
năm 1999. Chaebol được đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất hướng tới xuất khẩu, bỏ
qua thị trường trong nước và đặt nền kinh tế trước mọi sự suy sụp của thị trường nước
ngoài. Trong quá trình cạnh tranh lẫn nhau, các Chaebol đã tạo ra công suất vượt quá khả
năng chống chịu của mình: vào thời kỳ tiền khủng hoảng Hàn Quốc với số dân xếp thứ 26
trên thế giới đã có 7 nhà máy sản xuất ô tô lớn.
Nhiều Chaebol đã mắc nợ chồng chất do rót vốn mở rộng hoạt động của mình,
không chỉ các ngân hàng công nghiệp nhà nước mà cả các ngân hàng độc lập và các chi
nhánh cung cấp dịch vụ tài chính thuộc sở hữu của các ngân hàng đó. Hậu quả của khủng
hoảng khi các Chaebol không trả được nợ làm cho các ngân hàng không thể thu lại nợ và

chặt chẽ và đẳng cấp này đã đưa Chaebol trở thành một “nền cộng hoà” riêng, chi phối và
ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc gia.
-Về sở hữu, các Chaebol duy trì theo chế độ sở hữu “huyết thống”, tức là thường do
các cá nhân sáng lập ra nó kiểm soát và tuân thủ theo truyền thống cha truyền con nối. Các
thành viên trong gia đình theo thứ tự (thường là con trai cả của gia đình thay cha nắm quyền
kiểm soát và quản lý tài sản để kế tục sự nghiệp của cha ông để lại). Theo “Uỷ ban buôn bán
công bằng Hàn Quốc” thì phần sở hữu của các gia đình trong 30 Chaebol lớn nhất tăng từ
43,8% (1995) lên 44,1 % (1996).
Cơ cấu sở hữu của các Chaebol Hàn Quốc được phân thành 3 loại:
+ Loại thứ nhất: Cơ cấu sở hữu trực tiếp (mô hình của Han Jin Group)
Chủ sở hữu (Công ty mẹ)
Các chi nhánh (Công ty chi nhánh)
12
Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368
+ Loại thứ hai: Cơ cấu Công ty cổ phần (mô hình của Daewoo Group)
Chủ sở hữu (Công ty
mẹ)
Công ty cổ phần
Chi nhánh hay công ty chi
nhánh
+ Loại thứ ba : Cơ cấu sở hữu hỗn hợp (mô hình của Samsung Group)
Chủ sở hữu (Công ty
mẹ)
Công ty cổ phần
Các tổ chức trung gian
Chi nhánh hay công ty chi
nhánh
-Về cơ cấu quyền lực trong chính quyền cũng như trong kinh doanh, các TNC hoàn
toàn nhất quán với các giáo lý của Khổng Tử và các giá trị truyền thống Hàn Quốc. Vì vậy,
mô hình này dường như chỉ thực hiện được trong một nền chuyên chế độc tài. Tất cả mọi

những nhược điểm.
3.1.Chế độ tập trung hoá và tính hình thức cao trong việc ra quyết định.
Đây là một đặc trưng khác biệt của các Chaebol Hàn Quốc so với các tập đoàn kinh
tế ở một số nước khác như Đức, Nhật Bản, Mỹ. Ở phận lớn các Chaebol Hàn Quốc, quyền
sở hữu và quyền quản lý không được chia sẻ giữa các cổ đông mà tập trung trong tay người
sáng lập hoặc các thành viên trong gia đình họ. Chế độ gia quyết định là chế độ tập trung
hoá cao độ. Quyền quyết định cao nhất thuộc chủ sở hữu hay người sáng lập. Các cổ đông
thiểu số bên ngoài thường không có quyền tham gia hoặc cử đại diện của mình tham gia vào
việc gia quyết định. Các nhà quản lý chuyên nghiệp được thuê từ bên ngoài có rất ít quyền
lực và những quyền lực này không được bảo vệ về mặt pháp lý. Các quyết định khác, đặc
biệt là những quyết định liên quan đến chi phí được thực hiện thông qua thủ tục thảo luận và
tư vấn với những người quản lý ở các cấp dưới và người lao động. Quá trình này về cơ bản
giống như chế độ ringgi ở các công ty Nhật Bản nhưng nó có khác biệt so với các công ty
Nhật Bản ở tính hình thức cao. Việc phê chuẩn quyết định được xem như là công cụ thể hiện
quyền lực và sự kiểm soát nhiều hơn là sự tham gia của những người quản lý cấp dưới. Do
ảnh hưởng của đạo Khổng, chế độ gia trưởng và lòng trung thành mà trong hệ thống ra
quyết định của Chaebol không có sự chống đối của nhà quản lý cấp dưới. Các quyết định
thường đạt được sự nhất trí cao.
Sự tập trung hoá quyền lực cho phép các nhà quản lý cấp cao ở các Chaebol có thể
ra quyết định một cách nhanh chóng, giảm thiểu các chi phí và phân bổ nguồn lực giữa các
công ty chi nhánh đạt được hiệu quả hơn. Tuy nhiên nó cũng tạo ra mâu thuẫn gay gắt về lợi
14
Website : http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel ( : 0918.775.368
ích giữa cổ đông nắm quyền kiểm soát và các cổ đông nhỏ khác. Ví dụ: cổ đông nắm quyền
kiểm soát đều muốn đa dạng hoá kinh doanh, tái đầu tư lợi nhuận vào các lĩnh vực kinh
doanh cơ bản, trong khi các cổ đông nhỏ lại muốn đa dạng hoá thông qua thị trường vốn.
Nhiều cổ đông lớn và các chủ tịch tập đoàn sử dụng tài sản của tập đoàn vào mục đích riêng
như mục đích chính trị làm ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông nhỏ. Các cổ đông nhỏ
cũng phải gánh chịu khoản chi phí bất hợp lý này.
3.2. Vị trí độc quyền trong nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status