A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hóa với
mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơ bản trở
thành nước công nghiệp và hội nhập với cộng đồng quốc tế.
Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại
hoá và hội nhập quốc tế là con người, nguồn lực người Việt Nam được phát
triển trên cơ sở mặt bằng dân trí cao.
Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập với cộng đồng quốc tế,
đòi hỏi chúng ta phải đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết Đại hội Đảng X đã chỉ rõ về giáo dục và đào tạo: “Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo
của người học, khắc phục lối truyền thụ một chiều”.
Hiện nay, chúng ta đã, đang và sẽ thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông, từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục và đánh giá chất
lượng giáo dục.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và SGK
giáo dục phổ thông là tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Thực
hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh với sự tổ
chức và hướng dẫn của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạo,
góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu tự học; rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.
Ở trường THPT, môn hóa học có vị trí, vai trò rất quan trọng. Nó cung
cấp cho học sinh những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản về các chất, sự
biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môi trường và
con người. Những tri thức này, giúp học sinh có nhận thức khoa học về thế
giới vật chất, góp phần phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động,
hình thành nhân cách người lao động mới năng động, sáng tạo.
Những nghiên cứu về lý luận dạy học môn hoá học cho rằng: Học sinh
viết này, tôi xin đưa ra một kinh nghiệm nhỏ của bản thân trong giảng dạy là
“Hướng dẫn học sinh thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập
hóa học dạng kim loại phản ứng với dung dịch axit” .
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2
- Củng cố phương pháp giải bài tập hay. Rèn luyện khả năng tư duy
thông minh, tích cực sáng tạo nhằm tạo hứng thú học tập bộ môn hoá học của
học sinh THPT.
- Nghiên cứu xây dựng và sưu tập một số bài toán hướng dẫn học sinh
thiết lập và vận dụng công thức tính nhanh bài tập hóa học dạng kim loại phản
ứng với dung dịch axit”.
III. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nhiệm vụ
- Nghiên cứu khả năng sáng tạo của học sinh thông qua việc giải bài tập
hoá học.
- Sưu tập và xây dựng một số bài toán hoá học dạng kim loại phản ứng với
dung dịch axit để rèn luyện trí thông minh cho học sinh THPT.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm trong quá trình
dạy học trên lớp và hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà. Nghiên cứu lí
thuyết dựa vào: sách giáo khoa, sách bài tập hóa học phổ thông, các nội dung
lí thuyết và bài tập hóa học, định luật bảo toàn elctron, bảo toàn nguyên tố,
bảo toàn khối lượng làm cơ sở.
- Đánh giá hiệu quả phương pháp thông qua phương pháp thống kê so sánh
kết quả học tập của các lớp học: Lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
- Trao đổi kinh nghiệm, thảo luận với đồng nghiệp trong quá trình nghiên cứu.
- Thăm dò ý kiến của học sinh sau khi áp dụng phương pháp.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài được áp dụng ở các lớp học sinh thuộc Ban tự nhiên và Ban cơ
bản của trường THPT Triệu sơn 2 – Thanh Hóa:
2. Cơ sở thực tiễn
Trong chương trình môn hóa học ở trường phổ thông các dạng bài tập
rất phong phú và đa dạng, một trong các dạng phổ biến điển hình là bài toán
của kim loại tác dụng với axit. Mỗi dạng bài tập thường gắn với nhiều phương
pháp giải khác nhau ngoài cách giải thông thường còn có các cách giải
nhanh hơn. Đặc biệt khi vận dụng công thức giải nhanh bài toán hóa học để
đến đích sớm nhất và điều này rất có ý nghĩa với học sinh lớp 12 trong hình
thức thi trắc nghiệm hiện nay.
4
Nhưng vận dụng nó như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong quá
trình dạy học? Trong quá trình nghiên cứu tôi tìm câu trả lời cho các vấn đề
sau:
Thứ nhất: Bài tập kim loại tác dụng với dung dịch axit có thể phân thành
các dạng bài tập chính nào.
Thứ hai: Hướng dẫn học sinh thiết lập công thức tính số mol của kim loại,
hoặc số mol sản phẩm khử của axit, công thức tính số mol axit phản ứng,
công thức tính khối lượng muối tạo thành của bài toán kim loại tác dụng với
dung dịch axit.
Thứ ba: Sự vận dụng các công thức tính nhanh của học sinh vào các dạng
toán áp dụng, so sánh từ phía học sinh với cách giải thông thường về độ
chính xác và thời gian làm bài tập.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1. Thực trạng của vấn đề
Với việc đổi mới thi theo hình thức trắc nghiệm khách quan môn hóa học
thì trong mỗi đề thi số lượng câu hỏi nhiều, các dạng kiến thức khác nhau và
lượng kiến thức nhiều. Vì vậy mỗi câu hỏi chỉ giải trong một lượng thời gian
ngắn, nếu các em vẫn giải theo cách thông thường ( làm bài tự luận) thì không
đủ thời gan. Vì vậy buộc học sinh phải tiếp thu và vận dụng được phương
pháp giải nhanh mới đạt kết quả cao. Nhưng do nhiều học sinh không định
hướng được phương pháp giải nên kết quả học tập chưa cao, từ đó tạo ra tâm
quả nêu trên thì việc áp dụng các phương pháp giải nhanh bài toán hóa học là
rất cần thiết trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
Thực nghiệm sư phạm đã được thực hiện ở hai lớp 12B2 và 12B4, đều ban
tự nhiên – trường THPT Triệu Sơn 2, năm học 2011 – 2012. Lớp 12B2 là
lớp thực nghiệm, lớp 12B4 là lớp đối chứng. Sử dụng phương pháp thống kê
kết quả, tôi thấy lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp
đối chứng.
Năm học 2012 – 2013, tôi tiếp tục thử nghiệm đề tài trên hai lớp 12C6 và
12C9, đều ban cơ bản – trường THPT Triệu Sơn 2. Lớp 12C6 là lớp thực
nghiệm, lớp 12C9 là lớp đối chứng. Học sinh tại hai lớp 12C6 và 12C9 được
chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng về khả năng nhận thức,
tỉ lệ giới tính, dân tộc.
Về thành tích học tập của năm học 2011 – 2012: Cả hai lớp tương đương nhau
về điểm số của môn học.
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Năm 2011 – 2012: Tôi chọn lớp 12B2 là lớp thực nghiệm, lớp 12B4
là lớp đối chứng. Ở lớp thực nghiệm, tôi dạy theo cách hướng dẫn học sinh
6
thiết lập công thức và vận dụng công thức giải nhanh vào giải toán hoá học. Ở
lớp đối chứng, tôi dạy học sinh giải bài tập theo cách giải thông thường. Sử
dụng kết quả bài kiểm tra 1 tiết đầu học kì 2 môn hóa học làm bài kiểm tra
trước tác động. Tôi dùng phương pháp thống kê kết quả và so sánh. Sau khi
học xong chương “Đại cương của kim loại’’, tôi tiến hành kiểm tra 1 tiết ở hai
lớp tại cùng một thời điểm làm bài kiểm tra sau tác động.
- Năm 2012 – 2013: Tôi chọn lớp 12C6 là lớp thực nghiệm và lớp 12C9
là lớp đối chứng. Sử dụng kết quả bài kiểm tra 1 tiết đầu học kì 2 môn hóa
học làm bài kiểm tra trước tác động. Kết quả cho thấy điểm trung bình của hai
lớp có sự chênh lệch không đáng kể, hai lớp được coi là tương đương.
Bảng kiểm chứng để xác định các lớp tương đương
Lớp đối chứng 12C9 Lớp thực nghiệm 12C6
SO
4
loãng )
• Tính số mol kim loại phản ứng (hoặc số mol H
2
sinh ra)
Cho kim loại M hóa trị a vào dung dịch axit ( HCl, H
2
SO
4
) thu được n mol
khí H
2
.
Dựa vào phương pháp bảo toàn electron ta có:
M M
a+
+ ae
mol n
kl
>a.n
kl
2
H
+
+ 2e H
2
b
n
axit
>
2
H
n
=>
2
ax
2
it A H
n n n
b
= =
(2)
Trong đó: n
axit
là số mol axit phản ứng
n
A
là số mol của gốc axit trong muối
b là hóa trị của gốc axit
• Tính khối lượng muối tạo thành
Ta có:
muoi kl A
m m m
= +
Hay :
log
. 2
kl ha en
a n n
=
b. Dạng 2: Axit có tính oxi hóa mạnh
(Thường gặp: HNO
3
và H
2
SO
4
đặc)
Sơ đồ phản ứng 1:
KL + HNO
3
→
Muối nitrat + SP khử X + H
2
O
Trong đó: Sản phẩm khử có thể là:
+
4222
;;;; NHNONNONO
Sơ đồ phản ứng 2:
KL + H
2
; S;
H
2
S).
Gọi a hoá trị cao nhất của kim loại M; c là tổng số electron nhận của N
+5
hoặc S
+6
tạo sản phẩm khử X.
Áp dụng định luật bảo toàn e ta có:
Ta có: M M
+a
+ a.e
n
kl
n
kl
a.n
kl
∑
N
+5
/S
+6
+ c.e. X
c.n
x
n
X
b.M
a+
+ a.A
b-
n
kl
n
A
9
.
kl
A X
a n
c
n n
b b
⇒ = =
Vậy :
A X
c
n n
b
=
(6)
Trong đó: n
A
2
O).
Tương tự ta có:
(7
’
)
2. Hệ thống bài tập hóa học và ứng dụng phương pháp
a. Dạng 1: Dạng axit chỉ có tính axit
Ví dụ 1. Hoà tan hoàn toàn 0,855gam hỗn hợp bột Al và Mg vào dung dịch
HCl thu được 1,68 lít H
2
(đkc). Phần % khối lượng của Al trong hỗn hợp là
Giải:
•
Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Đặt số mol Al là x mol, Mg là ymol.
Pư: 2Al + 6HCl
→
2AlCl
3
+ 3H
2
Mg + 2HCl
→
MgCl
2
+ H
2
Ta có: n
2
=
⇔
3.x + 2.y = 0,075 (1)
Dựa vào khối lượng hỗn hợp : 27.x + 24.y = 0,855 (2)
Từ (1) và (2) => x = 0,005 mol; y = 0,03 mol
=>
%79,15%100
855,0
27.005,0
%
==
Al
Ví dụ 2. Cho 11,9 gam hỗn hợp gồm Zn, Al tan hoàn toàn trong dung dịch
H
2
SO
4
loãng dư thấy có 8,96 lit khí (đkc) thoát ra. Khối lượng hỗn hợp muối
sunfat khan thu được là:
Giải:
•
Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Đặt số mol Al là x mol, Zn là ymol.
Pư: 2Al + 3H
2
SO
4
→
ZnSO
= 0,1 mol
m
muoi
= 0,1x342 + 0,1x 161 = 50,3 gam
•
Ở lớp thực nghiệm GV dạy vận dụng công thức giải nhanh.
nH
2
= 0,4 mol
Ta dùng công thức tính khối lượng muối :
2
2 2
. 11,9 .0,4.96 50,3( )
2
muoi kl H A
m m n M gam
b
= + = + =
Ví dụ 3 . Cho 1,67 gam hỗn hợp gồm hai kim loại ở 2 chu kỳ liên tiếp thuộc
nhóm IIA tác dụng hết với dung dịch HCl (dư), thoát ra 0,672 lít khí H
2
(ở
đktc). Hai kim loại đó là (Mg= 24, Ca= 40, Sr= 87, Ba = 137)
Giải:
11
•
Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Đặt công thức TB của hai kim loại là
M
A
=40 (Ca); M
B
=87 (Sr)
•
Ở lớp thực nghiệm GV dạy vận dụng công thức giải nhanh.
Ta có: n
2
H
= 0,3 mol
Ta dùng công thức :
2
. 2
kl H
a n n
=
=> n
hhkl
= 0,03 mol
=>
M
=
03,0
67,1
=55,67. đk M
A
<
M
<M
B
H
2
=> n
kl
= 2.0,015 =0,03 mol
=> M = 0.69/0,03 = 23 (Na)
Ví dụ 5. Cho 5,4 gam Al tác dụng hết với dung dịch H
2
SO
4
loãng thấy có V
lít khí (đktc) bay ra. Giá trị của V là
Giải:
Áp dụng công thức tính nhanh có thể giải nhanh bài toán như sau:
Ta dùng công thức :
2
. 2
kl H
a n n
=
n
Al
= 0,2 mol => 3.0,2 = 2. n
H
2
=> n
H
2
= 0,3 mol
M
=
a
6.0
mol
=>
19,2
. 32.
0,6
M a a
= =
=> a = 2, M = 64 , M là Cu
•
Ở lớp thực nghiệm GV dạy vận dụng công thức giải nhanh.
Ta dùng công thức : a.n
lk
= c.n
X
n
NO
= 0,2 mol
⇔
a. n
kl
= 3. 0,2 => n
kl
= 0,6/a mol
=>
19,2
3
)
2
+ 2NO +4H
2
O (1)
3 Zn +8 HNO
3
→
3Zn(NO
3
)
2
+ 2NO +4H
2
O (2)
Mg +4HNO
3
→
Mg(NO
3
)
2
+ 2NO
2
+ 2H
2
O (3)
Zn +4 HNO
3
2
+2H
2
O (6)
Đặt số mol của Mg, Zn trong pư 1, 2, 3, 4,5 6 lần lượt là x, y, z, t, a, b .
Ta có các pt: (2/3)x + (2/3)y = n
NO
=0,1 => x+ y = 0,15 (1)
2z+ 2t = n
NO
2
=0,1 => z + t = 0,05 (2)
a + b = n
SO
2
=0,1 (3)
13
24( x+z+ a) + 65(y+ t + b) = 12,9 (4)
Khối lượng của muối:
m
muoi
= m
Mg(NO
3
)
2
+ m
MgSO
4
+ m
muoi KL goc axit muoi KL X X X
c
m m m m c n c n n
= + = + + +
12,9 (3 0,1 1 0,1)62 1 0,1 96 47,3( )
muoi
m gam
= + × + × + × × =
Ví dụ 3. Hoà tan hoàn toàn hỗn hợp A gồm Fe, Al, Cu trong 100 ml dung
dịch HNO
3
(vừa đủ), thu được 0,015 mol NO, 0,005 mol N
2
O và dung dịch D.
Tính nồng độ mol/lít của dung dịch HNO
3
.
Giải:
•
Ở lớp đối chứng giáo viên dạy theo cách giải thông thường
Pư: Al +4 HNO
3
→
Al(NO
3
)
3
+ NO +2H
2
O (1)
2
O (4)
8Fe+30 HNO
3
→
8Fe(NO
3
)
3
+ 3N
2
O +15H
2
O (5)
4Cu +10HNO
3
→
4Cu(NO
3
)
2
+ N
2
O + 5H
2
O (6)
Đặt số mol của khí NO, N
2
O trong pư 1, 2, 3, 4,5 6 lần lượt là x, y,z,a, b, c .
Ta có các pt: x+ y + z =n
c b
n n
b
+
=
14
Xaxitpu
n
b
bc
n
2
+
=
3 2
3
1 2
. 2.
3 1 4 1
.0,015 2. 0,005 0,11
1 1
HNO NO N O
HNO
c b c b
n n n
b b
n mol
+ +
= +
+ +
Phần 1: ta có a.n
kl
= 2.nH
2
= 2. x
Phần 2: ta có a.n
kl
= c.n
x
= 8.y
=> do cung khối lượng của 1 kim loại hóa trị không đổi nên:
2.x = 8.y => x = 4y
Ví dụ 5. : Hoà tan m gam Al vào dung dịch HNO
3
rất loãng chỉ thu được hỗn
hợp khí gồm 0,015 mol N
2
O và 0,01 mol NO. Giá trị của m là
Giải:
Ta dùng công thức : a.n
lk
= c.n
X
⇔
3.n
Al
= 8.0,015 + 3.0,01 => n
Al
= 0,05 mol
đặc, nóng (dư), sinh ra V lít khí
SO
2
(sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là
A. 4,48. B. 6,72. C. 3,36. D. 2,24.
Câu 6. Hoà tan m gam Al bằng dung dịch HCl (dư), thu được 3,36 lít H
2
(ở
đktc). Giá trị của m là
A. 4,05. B. 2,70. C. 5,40. D. 1,35.
Câu 7. Hoà tan 5,6 gam Fe bằng dung dịch HNO
3
loãng (dư), sinh ra V lít khí
NO (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của V là
A. 6,72. B. 4,48. C. 2,24. D. 3,36.
Câu 8. Cho 10 gam hỗn hợp gồm Fe và Cu tác dụng với dung dịch H2SO4
loãng (dư). Sau phản ứng thu được 2,24 lít khí hiđro (đktc), dung dịch X và m
gam chất rắn không tan. Giá trị của m là (Cho H = 1, Fe = 56, Cu = 64)
A. 6,4 gam. B. 3,4 gam. C. 5,6 gam. D. 4,4 gam.
Câu 9. Cho 20 gam hỗn hợp bột Mg và Fe tác dụng hết với dung dịch HCl
thấy có 1 gam khí H
2
bay ra. Lượng muối clorua tạo ra trong dung dịch là bao
nhiêu gam ?
A. 40,5g. B. 45,5g. C. 55,5g. D. 60,5g.
Câu 10. Cho m gam hỗn hợp X gồm Al, Cu vào dung dịch HCl (dư), sau khi
kết thúc phản ứng sinh ra 3,36 lít khí (ở đktc). Nếu cho m gam hỗn hợp X trên
vào một lượng dư axit nitric (đặc, nguội), sau khi kết thúc phản ứng sinh ra
6,72 lít khí NO2 (sản phẩm khử duy nhất, ở đktc). Giá trị của m là
A. 15,6. B. 10,5. C. 11,5. D. 12,3.
dư thì thu được 560 ml lít khí N
2
O (đktc, sản phẩm khử duy nhất) bay ra.
Khối lượng (gam) muối nitrat tạo ra trong dung dịch là:
A. 40,5 B. 14,62 C. 24,16 . D. 14,26
Đáp án
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15
B C D B D B C D C D B C B A D
IV. KIỂM NGHIỆM
1. Năm học 2011 – 2012
Kết quả thống kê điểm kiểm tại 2 lớp 12B2(lớp thực nghiệm) và 12B4
(lớp đối chứng), hai lớp đều thuộc ban tự nhiên cho kết quả như sau:
Lớp
Sĩ
số
Thống kê điểm kiểm tra trước tác động với ban học tự nhiên
0 → < 3 3 → < 5 5 → < 7 7 → < 9 9 → 10
ĐTB
SL % SL % SL % SL % SL %
12B
2
46 0 0% 5
10,9
%
27
58,7
%
12
26,1
%
12B2 46 0 0% 0 0% 16
34,8
%
25
54,3
%
5
10,9
%
7,8
12B
4
48 0 0% 5
10,4
%
28
58,3
%
13
27,1
%
2 4,2% 6,4
Bài kiểm tra sau tác động của 2 lớp 12B2 và 12B4: Điểm trung bình chênh
lệch nhau nhiều, độ chênh lệch là 7,8 – 6,4 = 1,4. Kết quả cao nghiêng về phía
lớp thực nghiệm. Như vậy, việc dạy hướng dẫn học sinh thiết lập và áp dụng
công thức tính nhanh nâng cao chất lượng dạy học đối với HS lớp thực
nghiệm 12B2.
2. Năm học 2012 – 2013:
Sử dụng kết quả bài kiểm tra một tiết đầu học kì II môn Hóa học làm bài
kiểm tra trước tác động. So sánh kết quả thống kê điểm kiểm tại 2 lớp 12C6
2,1
%
6
12,8
%
32
68,1
%
8
17,0
%
2
4,1
%
5,1
Độ chênh lệch kết quả ở 2 lớp không cao, độ chênh lệch điểm trung
bình trước tác động là 5,1 – 4,9 = 0,2. Kết quả thu được của hai lớp gần như
tương đương. Nhưng kết quả cao hơn nghiêng về phía lớp đối chứng 12C9.
Lớp
Sĩ
số
Thống kê điểm kiểm tra sau tác động với ban học cơ bản
0 → < 3 3 → < 5 5 → < 7 7 → < 9 9 → 10
ĐTB
SL % SL % SL % SL % SL %
12C6 49 0 0% 4 8,2% 32 65,3% 11 22,4% 2 4,1% 6,6
18
12C9 47 0 0% 5 10,6% 33 70,2% 7 15,0% 2 4,2% 5,5
Bài kiểm tra sau tác động của 2 lớp 12C6 và 12C9: Điểm trung bình
chênh lệch nhau nhiều, độ chênh lệch là 6,6 – 5,5 = 1,1. Kết quả cao nghiêng
Qua thực tế giảng dạy và đúc rút kinh nghiệm bước đầu, tôi có một vài
kiến nghị và đề xuất với các cấp quản lí giáo dục nói chung và BGH Trường
THPT Triệu Sơn 2 nói riêng như sau:
- Triển khai tạo điều kiện cho giáo viên trong tổ thường xuyên được trao đổi,
rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học.
- Giúp đỡ, tạo điều kiện cho các giáo viên khi áp dụng, thử nghiệm các
PPDH mới bằng nhiều hình thức.
- Tôi rất mong muốn được nhà trường và các cấp quản lí giáo dục quan tâm,
giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi có thể mở rộng nghiên cứu, áp dụng, thử nghiệm
kinh nghiệm này cho các lớp học khác, khoá học khác, cũng như các bài khác
trong chương trình hóa học phổ thông, góp phần cùng toàn trường, toàn ngành
và toàn xã hội nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Người viết SKKN
Lê Đình Lâm
20
MỤC LỤC
Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 01
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 01
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 02
III. NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 03
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 03
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ 04
4