HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI
Trình bày học thuyết Mác xít về hình thái kinh tế xã hội. Vận dụng để phân tích những sai
lầm khuyết điểm trong việc nhận thức và vận dụng học thuyết này trong thời kỳ trước đổi mới
và để phân tích phương hướng đổi mới sau đây của Đảng ta “Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ
TBCN tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả lĩnh vực là một sự nghiệp rất khó khăn
phức tạp cho nên phải trãi qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình
thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ”. (VK9 – Tr85)
Học thuyết Mác xít về hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở thế giới quan và là căn cứ khoa học
cho Cách mạng XHCN trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng. Trong thực tế hiện nay,
từ khi CNXH thế giới lâm vào thoái trào nhưng nước ta vẫn kiên trì khẳng định con đường phát
triển đất nước là xây dựng CNXH , vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, Đảng ta đã
xác định : “Xây dựng CNXH bỏ qua chế độ TBCN tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất
cả lĩnh vực là một sự nghiệp rất khó khăn phức tạp cho nên phải trãi qua một thời kỳ quá độ lâu
dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ”. (VK9
– Tr85). Để làm rõ luận điểm trên, chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích học thuyết Mác Xít về hình
thái kinh tế - xã hội và quá trình vận dụng của Đảng ta trong thực tế nhằm tiếp tục làm sáng tỏ
con đường đi lên CNXH ở nước ta và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Cách mạng Việt
Nam.
Theo quan điểm Mác xít thì “hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy
vật lịch sử, dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, với kiểu quan hệ sản xuất đặc
trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiểu
trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Hình thái kinh tế -
xã hội là sự khái quát dùng để chỉ xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nói cách khác
nó là một nấc thang của lịch sử xã hội, là sự khái quát dùng để phân biệt giữa giai đoạn lịch sử
này với giai đoạn lịch sử khác.
Cấu trúc của hình thái kinh tế - xã hội bao gồm 3 yếu tố cơ bản cấu thành đó là: lực lượng
sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng giữa các yếu tố cơ bản đó có quan hệ biện
chứng với nhau tạo thành các quy luật cơ bản chi phối sự vận động, phát triển của các hình thái
kinh tế - xã hội và trở thành tiêu chuẩn khách quan khoa học cho việc phân loại xã hội.
Một trong những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của hình thái KT-XH là
quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất . Quy luật
cơ sở kinh tế đã sinh ra nó. Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng có thể diễn
ra 2 khả năng sau đây : một là phù hợp với tính tất yếu kinh tế, với yêu cầu phát triển của lực
lượng sản xuất thì có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển; hai là do yếu kém và sai lầm của kiến
trúc thượng tầng tác động không phù hợp với quy luật kinh tế thì sẽ kìm hãm sự phát triển của
đời sống kinh tế. Trong những trường hợp đặc biệt, kiến trúc thượng tầng có thể tác động làm
đảo lộn nhanh chóng cơ sở hạ tầng nhưng suy đến cùng thì kiến trúc thượng tầng vẫn bị kinh tế
quyết định
Đấu tranh giai cấp cũng là một trong những động lực quan trọng của sự phát triển các hình
thái KT-XH khi xã hội có giai cấp đối kháng. Khi nghiên cứu phép biện chứng duy vật, nghiên
cứu quy luật mâu thuẫn ta thấy rằng mâu thuẫn nói chung là nguồn gốc, động lực cho sự phát
triển. Nói cách khác, động lực phát triển của xã hội nằm ngay trong chính phương thức SX với
việc giải quyết giữa LLSX và QHSX. Về mặt xã hội, mâu thuẫn này là mâu thuẫn giai cấp giữa
một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ đại diện cho lực lượng SX tiến bộ, phát triển và một bên
là giai cấp thống trị, phản động đại diện cho QHSX lạc hậu đang kìm hãm sự phát triển của lực
lượng sản xuất đấu tranh với nhau. Với ý nghĩa đó, đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã
hội phát triển, đồng thời là cũng là phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ SX. Tuy nhiên, trong XH có giai cấp thì đấu tranh giai cấp không phải là động lực
duy nhất mặc dù nó là động lực vô cùng quan trọng. Ngoài đấu tranh GC ra còn cò các động lực
khác mà vai trò vị trí của mỗi động lực như văn hóa, giáo dục, KHKT, tư tưởng đạo đức đều
phát huy tác dụng trong từng giai đọan lịch sử nhất định.
Trong đấu tranh giai cấp, vai trò của N/N là hết sức quan trọng. N/N là một trong những
yếu tố cấu thành của kiến trúc thượng tầng, nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự ra đời của N/N là từ
kinh tế, từ sự phát triển của LLSX, nguồn gốc trực tiếp về KT-XH dẫn đến sự ra đời và tồn tại
của N/N là do có chế dộ tư hữu và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. N/N là một tổ
chức của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các
chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự XH, thực hiện những mục đích để bảo vệ lợi ích
của giai cấp thống trị trong xã hội. Trong sự vận động và phát triển của các hình thái KT-XH
thì N/N có tác động rất lớn trong cuộc cách mạng xã hội, thay thế một hình thái kinh tế xã hội
này bằng một hình thái kinh tế xã hội khác.
Học thuyết Mác cũng chỉ ra rằng động lực của sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã
với đất nước ta một quốc gia chưa trãi qua thời kỳ phát triển TBCN thì để đi tới CNXH, Đảng
ta đã chọn lựa con đường phát triển rút ngắn - hay nói theo cách của Lênin phát triển không
phải trãi qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên do trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ, nhận thức của Đảng và N/N ta về quá
trình “phát triển rút ngắn” chưa đầy đủ, toàn diện cộng với bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội
nên việc vận dụng “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” đã có nhiều sai lầm, muốn rút
ngắn thật nhanh quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội nên đã “bỏ qua” quá giới hạn, vi phạm các
quy luật khách quan khi muốn tạo ra những bước nhảy vọt về kinh tế trong khi điều kiện chưa
cho phép. Văn kiện ĐH Đảng lần VI đã nêu “Do chưa nhận thức đầy đủ rằng thời kỳ quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường và
do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết , Đại hội IV chưa
xác định những mục tiêu của chặng đường đầu tiên”
Việc sai lầm do “bỏ qua những bước đi cần thiết” được thể hiện trong các chủ trương chính
sách lớn của Đảng trong thời kỳ trước đổi mới. Trước nhất đó là việc bỏ qua bước trung gian
quá độ kinh tế hàng hóa TBCN, phủ nhận các hình thức, bước đi mang tính quá độ từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lớn - nội dung mà trước đây CNTB ra đời nó đã từng thể hiện. Chính vì vậy,
việc phát triển lực lượng SX không được chú trọng , đã để kéo dài quá lâu trình độ SX thấp, thủ
công, đầu tư công nghiệp nặng không đúng hướng, đầu tư dàn đều, tràn lan không chú ý chiều
sâu. Trong việc đề ra chủ trương, chính sách, Đảng và N/N ta đã bỏ qua không chú ý vận dụng
những thành tựu khoa học kỹ thuật, những quy luật của SX hàng hóa đang tồn tại khách quan
vàp việc chế định các chủ trương, chính sách kinh tế.
Trang 3
Cũng trong thời kỳ này, Đảng và N/N ta do chủ quan, nóng vội muốn cải tạo nhanh quan
hệ SX nên đã áp đặt một mô hình quan hệ sản xuất “cao hơn” trình độ lực lượng sản xuất. Nó
thể hiện qua việc “nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi XHCN” để chỉ còn
lại 2 thành phần kinh tế : quốc doanh và tập thể. Trong việc tổ chức hình thức sản xuất, chúng
ta đã có xu hướng tổ chức quá nhanh mô hình sản xuất, tập đoàn, hợp tác xã … với quy mô lớn
mà không tính đến khả năng trang bị kỹ thuật, trình độ quản lý và năng lực của cán bộ. Đồng
thời việc xác lập quan hệ SX cũng không đồng bộ “về nội dung cải tạo, thường nhấn mạnh việc
thay đổi quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mà không coi trọng giải quyết các vấn đề tổ chức
lượng SX kém phát triển nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế là rất lớn cho nên phải tập trung sức
phát triển LLSX. Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, với tốc
độ phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ sản xuất, trình độ sản xuất, kỹ năng lao
động, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của con người được tăng lên đáng kể. Điều đó cho
phép chúng ta có thể rút ngắn các giai đoạn phát triển hay hình thức công nghệ của sự phát triển
lực lượng sản xuất
Đồng thời với việc tạo ra sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất qua con đường
CNH-HĐH, Đảng cũng đã xác định việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần trong giai đoạn
quá độ là một tất yếu khách quan, đây là bước đi tuần tự trong việc phát triển Các chủ trương
Trang 4
chính sách của Đảng và N/N ta từ sau Đại hội VI đến nay đã khẳng định : các thành phần kinh
tế là những bộ phận cấu thành phần kinh tế thống nhất, được phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh
tranh lành mạnh với nhau. Trong xu hướng vận động chung, thành phần kinh tế N/N phải giữ
vai trò chủ đạo, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển. .
Sự phát triển của LLSX đòi hỏi phải có quan hệ SX phù hợp. Đại hội 9 đã xác định : “Phát
triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất trên cả 3 mặt : sở hữu,
quản lý và phân phối”
Đại hội Đảng lần VII đã nêu : để phù hợp với sự phát triển của LLSX, chúng ta phải thiết
lập từng bước quan hệ SX XHCN từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu, phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của N/N. Như vậy, từ việc phát triển kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta đã
thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu về tư liệu SX và các loại hình tổ chức kinh tế
gắn liền với các hình thức sở hữu đó do lịch sử để lại, phù hợp với từng thành phần kinh tế.
Chính điều này đã tạo ra sức sống động cho sự phát triển kinh tế, tạo ra được nhiều sản phẩm
do khơi dậy tiềm năng, sức sản xuất và năng động vốn có của các thành phần kinh tế. Văn kiện
Đại hội IX cũng đã xác định việc xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu không
thể xác lập nhanh chóng ồ ạt như trước đây mà phải là một quá trình kinh tế - xã hội lâu dài,
qua nhiều bước, nhiều hình thức từ thấp đến cao …
Song song với sự đổi mới về kinh tế là sự đổi mới về kiến trúc thượng tầng bắt đầu từ việc
đổi mới về chính trị , văn kiện Đaị hội 8 đã chỉ rõ “kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế
vào tự nhiên, cải biến các dạng vật chất cho đời sống XH, SXVC là nền tảng của toàn bộ đời
sống XH, là Csở để Hì/thành nên tất cả các hình thức Q/hệ XH khác và cũng là Csở cho sự tiến
bộ XH, quyết định sự vận động, sự vận động Ph/triển XH. PTSX thống trị trong mỗi XH như
thế nào thì tính chất của chế độ XH như thế ấy, các GC, kết cấu GC và tính chất của các mối
Q/hệ giữa các GC cũng như các Q/điểm về Ch/trị, pháp quyền, đạo đức… tất cả đều do phương
thức sản xuất quyết định. CNDVLS Kh/định rằng: PTSX là cách thức con người tiến hành
SXVC của con người trong G/đoạn Lsử nhất định. PTSX là chỉnh thể thống nhất bởi 2 mặt của
quá trình SXVC: đó là LLSX và QHSX.
LLSX là biểu hiện Q/hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình SXVC. LLSX là sự kết
hợp thống nhất giữa người L/động với TLSX (trước hết là công cụ L/động) để tạo thành sức SX
XH. Ngày nay, khi Kh/học ph/triển mạnh mẽ và nó được V/dụng nhanh chóng, rộng rãi, trực
tiếp vào trong quá trình SX thì cùng với công nghệ hiện đại nó đã trở thành một thành tố mới
trong LLSX, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của LLSX của nhân loại và quy định N/dung mới của
sức SX XH trong thời đại ngày nay. Chính vì lẽ đó mà Đảng ta quan niệm “cùng với giáo dục,
đào tạo Kh/học công nghệ phải được coi là quốc sách hàng đầu “.
QHSX dùng để chỉ Q/hệ Ktế giữa người với người trong quá trình SXVC của XH. Nó là
một chỉnh thể thống nhất của 3 Q/hệ: Mối Q/hệ giữa người với người trong việc sở hữu đối với
TLSX (gọi tắt là Q/hệ sở hữu), Q/hệ giữa người với người trong việc tổ chức Q/lý SX vào trao
đổi cho nhau trong SX (gọi tắt là Q/hệ Q/lý), Q/hệ giữa người với người trong việc phân phối
S/phẩm XH (gọi tắt là Q/hệ phân phối). Trong chỉnh thể QHSX, Q/hệ sở hữu giữ vai trò quyết
định đối với các Q/hệ khác, nó chính là mặt pháp lý của QHSX, nhưng Q/hệ Q/lý và phân phối
cũng rất quan trọng, vai trò của nó biểu hiện ở chỗ nó có thể củng cố Q/hệ sở hữu nhưng cũng
có thể làm xói mòn, đổ vỡ Q/hệ sở hữu. Vì vậy, Nh/thức QHSX trong Q/hệ với LLSX phải thấy
rõ tính chỉnh thể của nó, K0 được có Q/điểm thiếu đồng bộ.
Trang 6
Khi CN duy vật Lsử Kh/định rằng : PTSX là nhân tố quyết định sự tồn tại và ph/triển của
XH thi điều đó có nghĩa là phải Nh/thức sự tác động biện chứng giữa LLSX và QHSX. Mối
Q/hệ cơ bản và biện chứng giữa 2 yếu tố này Hì/thành nên Q/luật KT-XH tất yếu, phổ biến,
quyết định sự vận động và ph/triển của các hình thái KT-XH. Đó là Q/luật “về sự phù hợp của
QHSX với trình độ ph/triển của LLSX
Việc Hì/thành các khối liên kết Ktế quốc tế và khu vực, các hình thức công tất yếu đa quốc gia,
xuyên quốc gia hay việc điều chỉnh ở những phạm vi, mức độ nhất định của QHSX trong các
nước tư bản ph/triển đều thể hiện đúng yêu cầu của Q/luật QHSX phù hợp với trình độ của
LLSX trong Đ/kiện quốc tế hiện nay.
Mặc dù Kh/định LLSX là yếu tố quyết định đối với QHSX, Triết học Mác Lênin cũng chỉ
ra rằng QHSX K0 hoàn toàn phụ thuộc một cách thụ động vào LLSX, nó có vai trò độc lập
tương đối trong sự tác động trở lại LLSX. Sự tác động của QHSX đối với LLSX diễn ra theo 2
hướng: phù hợp hoặc K0 phù hợp, điều này do QHSX mang tính ổn định tương đối và biến đổi
chậm hơn so với LLSX, mặt khác còn do trình độ năng lực của chủ thể SX, do Q/hệ Lsử GC
chi phối
Sự tác động của QHSX gọi là phù hợp với LLSX nghĩa là QHSX sau khi Hì/thành và tồn
tại, nó đáp ứng đúng đòi hỏi tất yếu của LLSX và sau đó nó có vai trò tạo ra sự liên kết, kết hợp
Trang 7
có hiệu quả hơn giữa các yếu tố cấu thành LLSX, làm cho tất cả các yếu tố ấy phát huy tất cả
tiềm năng, sức mạnh vốn có của nó, nhờ vậy tiềm năng của người L/động và TLSX được khai
thác tốt hơn, tạo ra năng suất L/động cao hơn. Với ý nghĩa đó, QHSX là hình thức ph/triển, là
địa bàn rộng lớn, là động lực ph/triển thúc đẩy sự ph/triển của LLSX.
Ngược lại, nếu QHSX tác động K
0
phù hợp với đòi hỏi tất yếu của LLSX thì nó sẽ kìm
hãm, phá hoại sự ph/triển của LLSX dẫn đến những hậu quả KT-XH nghiêm trọng. Biểu hiện
của sự K
0
phù hợp thể hiện ở 2 khía cạnh : một là khi QHSX đã lỗi thời, lạc hậu so với trình độ
mới của LLSX, hai là trường hợp chú thể dùng ý chí chủ quan của mình áp đặt một “mô hình”
QHSX”, “cao hơn” trình độ LLSX. Cả 2 trường hợp này đều kìm hãm sự ph/triển của LLSX,
nhưng K0 có nghĩa là LLSX đứng im tại chổ với LLSX thì nó sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại
đối với LLSX. Tình hình đó làm cho SX có thể bị đình đốn, có khi dẫn đến khủng hoảng KT-
XH nghiêm trọng.
Tóm lại, thực chất của Q/luật là lưc lượng SX đòi hỏi QHSX phải luôn phù hợp với tính
QHSX. Trong việc tổ chức hình thức sản xuất, chúng ta đã có xu hướng tổ chức quá nhanh mô
hình sản xuất, tập đoàn, hợp tác xã … với quy mô lớn mà K0 tính đến khả năng trang bị kỹ
thuật, trình độ Q/lý và năng lực của cán bộ. “Về N/dung cải tạo, thường nhấn mạnh việc thay
Trang 8
đổi Q/hệ sở hữu về TLSX mà K0 coi trọng giải quyết các vấn đề tổ chức Q/lý và chế độ phân
phối”. Mặt khác chúng ta cũng K0 thừa nhận nền Ktế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ. Do đó K0 chấp nhận Ktế thị trường, đa dạng hoá hình thức sở hữu, Q/lý phân phối. K0
thấy được đòi hỏi của LLSX đang ở trong tình trạng đan xen những trình độ, tính chất khác
nhau để mà xác lập QHSX. Bỏ qua TBCN nhưng lại K0 thấy tính chất quá độ là đan xen tồn tại
lâu dài của cả LLSX, QHSX và kiến trúc thượng tầng. Một sai lầm thiếu sót khác là ta đã duy
trì quá lâu cơ chế Q/lý Ktế quan liêu bao cấp vào QHSX vốn đã xác lập K0 phù hợp với LLSX,
do đó cơ chế này đã làm ngưng động tính sáng tạo của người L/động, kìm hãm LLSX và đã coi
thường tính tất yếu Ktế của SX nhỏ đang chuyển sang SX lớn, nghĩa là thông qua SX hàng hoá
thị trường mới đi lên được
Cương lĩnh XD đất nước đã nêu rõ : “Trong CM XHCN Đảng ta đã có nhiều cố gắng
nghiên cứu, tìm tòi, XD đường lối xác định đúng mục tiêu và Ph/hướng XHCN. Nhưng Đảng
đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm Q/luật khách quan, nóng vội cải tạo XHCN, xóa
bỏ ngay nền KT nhiều thành phần, có lúc đẩy mạnh quá mức việc XD công nghiệp nặng, duy
trì quá lâu, cơ chế Q/lý KT tập trung quan liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải
cách giá cả, tiền tệ, tiền lương. Công tác tư tưởng và tổ chức các bộ phạm nhiều khuyết điểm
nghiêm trọng”.
Từ những sai lầm đó đã dẫn đến khủng hoảng Ktế - XH trầm trọng, lạm phát đạt đến mức
khủng khiếp 774%, sản xuất bị đình trệ. Qua thực tiễn cuộc sống, Đảng ta đã rút ra được những
bài học thấm thía là K0 thể nóng vội, làm trái với Q/luật khách quan.
Để khắc phục những sai lầm trên và V/dụng hiệu quả Q/luật này, Đại hội 6 của Đảng đã đề
xuất Q/điểm Đ/mới toàn diện, trong đó đặc biệt chú ý Đ/mới Nh/thức và V/dụng các Q/luật
khách quan, trong đó Q/luật QHSX phù hợp với trình độ Ph/triển của LLSX. Q/điểm ấy đã
được ĐH IX tiếp tục Kh/định “Ph/triển LLSX hiện đại gắn liền với XD QHSX trên cả 3 mặt :
sở hữu, Q/lý, phân phối” ”
Như vậy, từ Đại hội VI đến nay, Đảng đã căn cứ vào thực trạng LLSX hiện có của đất nước
thấp đến cao … Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả XD QHSX theo định hướng XHCN là
thúc đẩy Ph/triển LLSX, cải thiện đời sống Nh/dân, Th/hiện công bằng XH.
Về Q/lý, văn kiện Đại hội VI và Đại hội IX cũng đã nêu Ch/sách Ph/triển nền Ktế thị
trường theo định hướng XHCN có sự Q/lý của N/N là mô hình Ktế tổng quát trong thời kỳ quá
độ. Việc Q/lý nền Ktế của N/N phải bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, Ch/sách
và sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức Ktế và phương pháp Q/lý Ktế để kích thích
sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực của
cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích của Nh/dân L/động, của toàn thể Nh/dân”
Về phân phối, Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh “Th/hiện phân phối chủ yếu theo kết quả
L/động và hiệu quả Ktế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác
vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi XH. Tăng trưởng Ktế gắn liền với bảo đảm tiến
bộ và công bằng XH ngay trong từng bước Ph/triển”.
Thực tế cho thấy với sự Đ/mới trên phù hợp với Q/luật giữa QHSX và LLSX đã gắn kết các
Đ/kiện sản xuất lại với nhau tạo ra năng suất cao, các ngành nghề truyền thống khởi sắc,
Ph/triển rộng và khá mạnh, nền Ktế Ph/triển và đã đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng để
từng bước Ph/triển một cách ổn định và bền vững.
Tóm lại, Nh/thức và V/dụng đúng đắn Q/luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX cùng
các hệ thống, các Q/luật KT-XH khác của nền Ktế hàng hoá thị trường dưới sự L/đạo của Đảng,
Q/lý N/N theo định hướng XHCN, nhất định chúng ta sẽ Th/hiện được mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, XH công bằng, dân chủ văn minh. Những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được sau
gần 19 năm Đ/mới là những minh chứng xác thực nhất cho điều đó.
V/dụng để phân tích khuyết điểm, yếu kém trong việc Nh/thức và V/dụng Q/luật này
trong thời kỳ trước Đ/mới và để phân tích Ph/hướng Đ/mới sau đây của Đảng ta “Đẩy
mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, XD nền Ktế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp, ưu tiên Ph/triển LLSX, đồng thời XD QHSX phù hợp theo định
hướng XHCN” (VK 9-Tr 87):
Đảng ta đã Nh/thức và V/dụng Q/luật này như thế nào ? Ở đây chúng ta có thể tóm tắt thành
2 thời kỳ lớn : thời kỳ trước Đại hội 6 (Đại hội Đ/mới toàn diện của Đảng) và thời kỳ sau Đại
hội 6 đến nay
Trong thời kỳ trước Đại hội 6, Đảng ta đã có những sai lầm thiếu sót trong việc Nh/thức và
trì quá lâu cơ chế Q/lý Ktế quan liêu bao cấp vào QHSX vốn đã xác lập K0 phù hợp với LLSX,
do đó cơ chế này đã làm ngưng động tính sáng tạo của người L/động, kìm hãm LLSX và đã coi
thường tính tất yếu Ktế của SX nhỏ đang chuyển sang SX lớn, nghĩa là thông qua SX hàng hoá
thị trường mới đi lên được
Cương lĩnh XD đất nước đã nêu rõ : “Trong CM XHCN Đảng ta đã có nhiều cố gắng
nghiên cứu, tìm tòi, XD đường lối xác định đúng mục tiêu và Ph/hướng XHCN. Nhưng Đảng
đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm Q/luật khách quan, nóng vội cải tạo XHCN, xóa
bỏ ngay nền KT nhiều thành phần, có lúc đẩy mạnh quá mức việc XD công nghiệp nặng, duy
trì quá lâu, cơ chế Q/lý KT tập trung quan liêu bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải
cách giá cả, tiền tệ, tiền lương. Công tác tư tưởng và tổ chức các bộ phạm nhiều khuyết điểm
nghiêm trọng”.
Từ những sai lầm đó đã dẫn đến khủng hoảng Ktế - XH trầm trọng, lạm phát đạt đến mức
khủng khiếp 774% (những năm 80) sản xuất bị đình trệ. Qua thực tiễn cuộc sống, Đảng ta đã
rút ra được những bài học thấm thía là K0 thể nóng vội, làm trái với Q/luật khách quan.
Để khắc phục những sai lầm trên và V/dụng hiệu quả Q/luật này, Đại hội 6 của Đảng đã đề
xuất Q/điểm Đ/mới toàn diện, trong đó đặc biệt chú ý Đ/mới Nh/thức và V/dụng các Q/luật
khách quan, trong đó Q/luật QHSX phù hợp với trình độ Ph/triển của LLSX. Q/điểm ấy đã
được ĐH IX tiếp tục Kh/định “Đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, XD nền Ktế độc lập,
tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên Ph/triển LLSX, đồng thời XD
QHSX phù hợp theo định hướng XHCN” (VK 9-Tr 87)
Như vậy, từ Đại hội VI đến nay, Đảng đã căn cứ vào thực trạng LLSX hiện có của đất nước
ta đối chiếu với lý luận QHSX và LLSX để XD chế độ QHSX phù hợp với trình độ LLSX ở
nước ta. Thực tiễn cho thấy hệ thống trình độ LLSX nước ta nhìn chung còn thấp, sản xuất nhỏ
ở nước ta còn phổ biến. Do đó để bắt đầu XD một chế độ XH mới nhất thiết bắt đầu từ việc đẩy
mạnh LLSX Ph/triển trước rồi sau đó mới Ph/triển QHSX theo sự Ph/triển của LLSX, tuy nhiên
chúng ta K0 chờ QHSX Ph/triển một cách tự nhiên mà tạo Đ/kiện cho ra đời QHSX mới phù
Trang 11
hợp
Cái thiếu lớn nhất của đất nước ta kề từ khi bước vào thời kỳ quá độ hiện nay là thiếu một
LLSX Ph/triển, hiện đại, đủ đảm bảo cho nền Ktế tăng trưởng nhanh và bền vững. Việc Ph/triển
phận cấu thành phần Ktế thống nhất, được Ph/triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh với
nhau. Trong xu hướng vận động chung, thành phần Ktế N/N phải giữ vai trò chủ đạo, hỗ trợ các
thành phần Ktế khác Ph/triển. Chủ trương này đã khơi dậy tiềm năng SX, khơi dậy năng lực
sáng tạo, chủ động của các chủ thể L/động trong sản xuất kinh doanh, thúc đẩy SX Ph/triển.
Văn kiện ĐH IX còn xác định “Ph/triển LLSX hiện đại gắn liền với XD QHSX mới phù hợp cả
3 mặt sở hữu, Q/lý và phân phối”. Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu
và các loại hình tổ chức Ktế gắn liền với các hình thức sở hữu đó do Lsử để lại, phù hợp với
từng thành phần Ktế. Về Q/lý văn kiện Đại hội VI và Đại hội IX cũng đã nêu Ch/sách Ph/triển
nền Ktế thị trường theo định hướng XHCN có sự Q/lý của N/N là mô hình Ktế tổng quát trong
thời kỳ quá độ. Việc Q/lý nền Ktế của N/N phải bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, Ch/sách và sử dụng cơ chế thị trường. Về phân phối, Đại hội IX cũng đã nhấn mạnh
“Th/hiện phân phối chủ yếu theo kết quả L/động và hiệu quả Ktế, đồng thời phân phối theo
mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi XH.
Tăng trưởng Ktế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng XH ngay trong từng bước Ph/triển”
Trang 12
Tóm lại, Nh/thức và V/dụng đúng đắn Q/luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX cùng
các hệ thống, các Q/luật KT-XH khác của nền Ktế hàng hoá thị trường dưới sự L/đạo của Đảng,
Q/lý N/N theo định hướng XHCN, nhất định chúng ta sẽ Th/hiện được mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, XH công bằng, dân chủ văn minh. Những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được sau
gần 19 năm Đ/mới là những minh chứng xác thực nhất cho điều đó.
V/dụng để phân tích những sai lầm khuyết điểm trong việc V/dụng Q/luật này thời kỳ
trước Đ/mới và V/dụng để phân tích luận điểm sau đây của Đảng Ta : “Nếu CNH, HĐH
tạo nên LLSX cần thiết cho chế độ XH mới thì việc Ph/triển nền KT nhiều thành phần
chính là để XD hệ thống QHSX phù hợp” (VK Đại Hội VIII trang 24)
Kh/định tầm quan trọng của Q/luật để V/dụng thật tốt Q/luật này vào thời kỳ quá độ lên
CNXH ở Việt Nam, Đảng ta đã nhận rõ những sai lầm thiếu sót trong việc Nh/thức và V/dụng
Q/luật này thể hiện trong thời ký trước Đ/mới ở Q/điểm, Ch/sách cải tạo XH cũ, XD QHSX
mới có lúc chúng ta rất nóng vội, chủ quan duy y chí bất chấp Q/luật khách quan, muốn “ bỏ
qua G/đoạn Ph/triển TBCN mộc cách giản đơn máy móc. Văn kiện Đại hội VI đánh giá như
sau: “Trong Nh/thức cũng như hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu KT nhiều
lần thứ 6 , đảng ta đã chủ trương Ph/triển nền KT nhiều thành phần. Chủ trương này đã khơi
Trang 13
dậy tiềm năng SX , khơi dậy năng lực sáng tạo, chủ động của các chủ thể L/động trong sản xuất
kinh doanh, thúc đẩy Sx Ph/triển. Tuy nhiên nền KT nhiều thành phần tự nó chứa đựng nhiều
mâu thuẫn. Có những thành phần KT vì lợi ích của mình có thể hoạt động theo hướng TBCN.
Thành phần Kt N/N, KT hợp tác mang tính chất XHCN nhưng chưa thích nghi với cơ chế thị
trường, làm ăn kém hiệu quả nên ở đây diễn ra quá trình Đ/tranh để đảm bảo định hướng rất
ngay gắt. Đảng ta xác định rằng nền KT nhiều thành phần mà Đảng ta chủ trương là nền KT
Ph/triển theo định hướng XHCN. Ch/sách Ph/triển nền KT nhiều thành phần có ý nghĩa chiến
lược lâu dài, có tính Q/luật từ SX nhỏ đi lên CNXH, có tác dụng to lớn trong việc động viên
Nh/dân XD nền KT, Ph/triển LLSX. Việc XD QHSX phải từng bước từ thấp đến cao với sự đa
dạng hoá về hình thức sỡ hữu và bước đi thích hợp làm cho QHSX phù hợp với tính chất và
trình độ Ph/triển của LLSX. Mỗi thành phần Kt vốn có B/chất riêng nhưng trong SX kinh
doanh Ko ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp đan xen nhau vừa bổ sung cho nhau
vừa cạnh tranh với nhau trên Csở bình đẳng trước pháp luật.
Tóm lại, Đảng và N/N ta chủ trương Th/hiện nhất quán và lâu dài Ch/sách Ph/triển nền
KT hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự Q/lý của N/N theo định
hướng XHCN, đó chinh là nền Kt thị trường định hướng XHCN…” nhằm Ph/triển KT LLSX
Ph/triển KT để XD Csở vật chất –kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống của Nh/dân. Ph/triển
LLSX hiện đại gắn liền với XD QHSX mới phù hợp cả 3 mặt sở hữu, Q/lý và phân phối” (VK
9 trang 86-87) và đường lối KT của Đảng ta là : “Đẩy mạnh CNH, HĐH XD nền KT độc lập tự
chủ, đưa nườc ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên Ph/triển LLSX đồng thời XD QHSX
phù hợp theo định hướng XHCN” (VK Đại Hội 9 trang 89). Đây cũng chính là sự phù hợp của
QHSX với trình độ Ph/triển của LLSX trong G/đoạn CM hiện nay.
GIAI CẤP & ĐẤU TRANH GIAI CẤP
Học thuyết Mácxít về ĐTGC, V/dụng để phân tích đặc điểm, N/dung chủ yếu của ĐTGC ở
nước ta hiện nay ?
Trang 14
Trong XH có GC, ĐTGC là một trong những động lực quan trọng của sự Ph/triển XH. Việc
ĐTGC diễn ra trên nhiều với hình thức, N/dung khác nhau và ngày nay, trong công cuộc XD
nếu Ko giải quyết được lợi ích Ktế thì quyền lực Ch/trị dần dần sẽ mất đi.
Mặt khác, ĐTGC để giành quyền lực, để có được N/N về tay mình thì Ko thể Th/hiện bằng
những nhóm riêng lẻ, mà phải diễn ra trên quy mô GC, GC này chống GC kia. Hơn nữa cuộc
ĐTGC muốn đi đến thắng lợi phải được hướng dẫn bằng một hệ tư tưởng. Do đó, ĐTGC cũng
diễn ra trên mặt trận tư tưởng.
Tóm lại, triết học Mác Xít Kh/định rằng lợi ích GC mà trong đó lợi ích Ktế được tạo dựng
cùng với quá trình Hì/thành GC và nó luôn luôn chi phối sự vận động, Ph/triển của các GC
trong Lsử. Trong XH có GC đối kháng, khi có mâu thuẩn lợi ích Ktế sẽ dẫn đến Đ/tranh Ch/trị,
vì vậy cho nên N/dung, hình thức của ĐTGC thể hiện ở cả 3 mặt : Đ/tranh Ktế, Đ/tranh về tư
tưởng và Đ/tranh về Ch/trị.
ĐTGC cũng là Đ/tranh nhằm giành lấy quyền lực Ch/trị cao nhất là quyền lực N/N, từ đó để
giải quyết lợi ích Ktế cho GC mình. Cho nên mục tiêu ĐTGC là giải quyết lợi ích Ktế. Nếu Ko
giải quyết được lợi ích Ktế thì quyền lực Ch/trị dần dần sẽ mất đi.
Khi nghiên cứu phép biện chứng duy vật, nghiên cứu Q/luật mâu thuẫn ta thấy rằng mâu
thuẫn nói chung là nguồn gốc, động lực cho sự Ph/triển. Nói cách khác, động lực Ph/triển của
Trang 15
XH nằm ngay trong chính phương thức SX với việc giải quyết giữa mâu thuẫn giữa LLSX và
QHSX. Về mặt XH, mâu thuẫn này là mâu thuẫn GC giữa một bên là GC CM, tiến bộ đại diện
cho LLSX tiến bộ, Ph/triển và một bên là GC thống trị, phản động đại diện cho QHSX lạc hậu
đang kìm hãm sự Ph/triển của LLSX. Trong các XH có GC đối kháng, do được GC thống trị –
đại diện cho QHSX đó bảo vệ bằng mọi sức mạnh, đặc biệt là bạo lực có tổ chức, QHSX Ko tự
động nhường chổ cho QHSX mới. Vì vậy, muốn thay thế QHSX cũ bằng QHSX mới phải tiến
hành ĐTGC và CM XH Với ý nghĩa đó, ĐTGC là động lực thúc đẩy XH Ph/triển, đồng thời là
cũng là phương thức giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và Q/hệ SX. ĐTGC trong các XH có
GC còn cải tạo bản thân các GC CM và QC L/động nhằm gột rữa cho họ tinh thần nô lệ và
những tập quán xấu do chế độ người bóc lột, áp bức người sinh ra.
Tuy nhiên, trong XH có GC thì ĐTGC Ko phải là động lực duy nhất để thúc đẩy XH
Ph/triển, mặc dù nó là động lực vô cùng quan trọng, là “đòn bẩy vĩ đại của cuộc CM hiện đại”.
Ngoài ĐTGC ra còn nhiều động lực khác như : đạo đức, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, vị trí, vai
trò của mỗi động lực có khác nhau và tùy thuộc vào sự Ph/triển KT-XH. Nh/thức rõ điều nay,
Đ/tranh trong nội bộ Nh/dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp XD và bảo vệ tổ quốc
dưới sự L/đạo của Đảng. Lợi ích GC công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục
tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì “dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân
Trang 16
chủ, văn minh”. Cuộc ĐTGC, Đ/tranh giữa hai con đường XHCN và TBCN gắn liền với cuộc
Đ/tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chống áp bức bất công, chống bóc lột, chống nghèo nàn lạc hậu,
khắc phục tình trạng nước nghèo, kém Ph/triển. Vì vậy, trong báo cáo Ch/trị Đại hội IX của
Đảng Kh/định: ”N/dung chủ yếu của ĐTGC trong G/đoạn hiện nay ở nước ta là Th/hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng XHCN, khắc phục tình trạng nước
nghèo, kém Ph/triển; Th/hiện công bằng XH, chống áp bức, bất công; Đ/tranh ngăn chặn và
khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; Đ/tranh làm thất bại mọi âm mưu và
hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, XD nước ta thành một
nước XHCN phồn vinh, Nh/dân hạnh phúc”.
Như chúng ta đã biết, ĐTGC bắt nguồn từ đối kháng về lợi ích Ktế. Chính vì vậy, N/dung
quan trọng hàng đầu của ĐTGC ở nước ta hiện nay là cuộc Đ/tranh chống nghèo nàn, lạc hậu,
chống nguy cơ tụt hậu về Ktế. Cương lĩnh XD đất nước đã viết “Để Th/hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh theo con đường XHCN, điều quan trọng nhất là phải cải biến căn bản tình trạng
KT-XH kém Ph/triển, chiến thắng những lực lượng cản trở việc Th/hiện mục tiêu đó, trước hết
là của các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và CNXH”. Như vậy, để Th/hiện mục tiêu trên
phải cải biến tình trạng Ktế kém Ph/triển mà con đường chủ yếu là Th/hiện thành công sự
nghiệp CNH-HĐH đất nước. Chỉ với con đường CNH-HĐH theo định hướng XHCN, đất nước
ta mới có thể nhanh chóng tạo sự đột phá trong sự Ph/triển LLSX, từ đó tạo sự Ph/triển nhảy
vọt về Ktế và đưa nước ta ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém Ph/triển, sớm thu hẹp khoảng
cách Ph/triển so với nhiều nước trên thế giới. Sự Ph/triển vững chắc về Ktế là Đ/kiện thuận lợi
cho sự ổn định về mặt Ch/trị.
Song song với quá trình Ph/triển Ktế, cần phải Kh/định tính ĐTGC của Đảng ta trong việc
L/đạo, điều hành phân phối lợi ích Ktế giữa các GC. Sự tăng trưởng Ktế sẽ dẫn đến sự phân hóa
giàu nghèo, vì vậy Đảng đã xác định phải gắn tăng trưởng Ktế với việc “từng bước cải thiện đời
sống vật chất và tinh thần của Nh/dân, Th/hiện tiến bộ và công bằng XH”. Do lợi ích của Đảng
cộng sản thống nhất với lợi ích của đại đa số QC Nh/dân nên việc chăm lo lợi ích của Nh/dân
Trong sự nghiệp CM hiện nay của đất nước đòi hỏi hệ thống Ch/trị của ta phải có thật sự
vững mạnh và hiệu quả trong việc L/đạo đất nước đi lên CNXH. Chúng ta đang XD N/N pháp
quyền của dân, do dân và vì dân trong hệ thống Ch/trị của đất nước. Kh/định về vấn đề này, Đại
hội Đảng lần IX có viết : “N/N ta là công cụ chủ yếu để Th/hiện quyền làm chủ của Nh/dân, là
N/N pháp quyền của dân, do dân và vì dân”. Để làm rõ luận điểm trên, sau đây chúng ta sẽ đi
sâu phân tích về nguồn gốc, B/chất và chức năng của N/N theo lý luận triết học Mác-xít và sự
V/dụng của Đảng ta trong quá trình CM Việt Nam trước và sau thời kỳ Đ/mới.
Theo triết học Mác – Lênin, N/N là một phạm trù Lsử, sản phẩm của Lsử, chỉ xuất hiện và
tồn tại gắn liền với một G/đoạn nhất định trong sự Ph/triển của XH, đó là G/đoạn XH có phân
chia thành GC đối kháng. N/N xuất hiện do 2 nguyên nhân sau: Một là LLSX Ph/triển, XH có
GC, các cơ quan Q/lý XH trước kia Ko còn phù hợp nữa và để đảm bảo các công việc chung
của cộng đồng, XH cần có một cơ quan Q/lý mới đó là N/N. Hai là khi GC xuất hiện, mâu
thuẫn về quyền lợi và cuộc Đ/tranh giữa các GC diễn ra Ko ngừng và ngày càng quyết liệt Ko
thể điều hoà được, để bảo vệ lợi ích GC của mình, GC nào mạnh hơn, có ưu thế hơn thì GC đó
sẽ làm chủ về mọi mặt và để củng cố quyền lực của mình đã dẫn tới sự ra đời của N/N. Lênin
đã viết “N/N là S/phẩm và biểu hiện của những mâu thuẩn GC Ko thể điều hòa được… thì N/N
xuất hiện và ngược lại sự tồn tại của N/N chứng tỏ những mâu thuẩn của GC Ko thể điều hòa
được”. Như vậy, nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự ra đời của N/N là từ Ktế, từ sự Ph/triển của
LLSX, nguồn gốc trực tiếp về KT-XH dẫn đến sự ra đời và tồn tại của N/N là do có chế dộ tư
hữu và mâu thuẫn GC Ko thể điều hoà được.
Trang 18
N/N là bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay GC cầm quyền, là công cụ sắc bén nhất
để duy trì sự thống trị GC đó, cho nên B/chất N/N bao giờ cũng mang tính GC sâu sắc. N/N
bao giờ cũng là của một GC nhất định, đó là GC thống trị về Ktế.
Trong XH có GC, sự thống trị của GC này đối với GC khác được thể hiện dưới 3 loại quyền
lực: quyền lực Ch/trị - quyền lực Ktế và quyền lực tư tưởng, trong đó quyền lực Ktế giữ vai trò
quyết định nhưng bản thân nó Ko thể duy trì được vai trò thống trị và đàn áp được sự phản
kháng của GC bị trị, vì vậy phải có N/N để củng cố và bảo vệ những quyền lực ấy. Với tính
cách là nền chuyên chính của một GC này đối với GC khác, N/N của các GC bóc lột Ko thể là
kẻ công bằng để bảo vệ lợi ích cho các GC trong XH. Như vậy, N/N là một bộ máy đặc biệt để
QC Nh/dân L/động. B/chất của N/N chuyên chính vô sản thực chất là Th/hiện quyền làm chủ
của Nh/dân L/động. Tính Nh/dân thể hiện ở toàn bộ quyền lực của Nh/dân L/động. Nó dân chủ
với đa số Nh/dân và chuyên chính với thiểu số kẻ thù của Nh/dân.
N/N XHCN lấy chức năng tổ chức XD XH mới là chức năng chủ yếu. Đương nhiên N/N
XHCN cũng có chức năng trấn áp GC bóc lột, các lực lượng thù địch của Nh/dân nhưng chức
năng XD là chủ yếu vì có tổ chức XD thành công XH mới, mới bảo đảm thắng lợi hoàn toàn và
triệt để của CNXH. Mặt khác, N/N vô sản còn nắm các tư liệu sản xuất chủ yếu của XH, vì vậy
phải tổ chức XD từ góc đến ngọn, từ LLSX đến Q/hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Chức
Trang 19
năng tổ chức XD XH mới là Nh/vụ hoàn toàn mới mẻ và đầy khó khăn phức tạp do đó đòi hỏi
tính năng động sáng tạo.
Song cũng phải nhận thấy rằng sự tồn tại của N/N XHCN cũng chỉ là quá độ đi đến thủ tiêu
vì N/N vô sản (N/N XHCN ) là N/N đặc biệt “N/N tự tiêu vong”. Sự tiêu vong Ko phải là quá
trình giảm vai trò và hiệu lực của N/N mà là quá trình tăng cường và hoàn thiện Ko ngừng N/N,
tăng cường và hoàn thiện chế độ dân chủ là Đ/kiện để N/N tiêu vong. Đó là biện chứng của quá
trình Ph/triển hoàn thiện N/N thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS.
Đối với nước ta, việc XD N/N XHCN là vấn đề hết sức quan trọng, là đòi hỏi khách quan
trong quá trình đi lên CNXH bởi vì vấn đề chính quyền luôn là vấn đề cơ bản của mọi cuộc
CM. Chúng ta chỉ có thể Th/hiện được quyền làm chủ của Nh/dân L/động, XD thành công
CNXH, khi có một N/N thực sự vững mạnh.
Hệ thống Ch/trị của nước ta bao gồm ĐCSVN, N/N Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức Ch/trị - XH. Mỗi thành phần trong hệ thống Ch/trị có vai trò riêng của mình
trong sự nghiệp CM nhưng trong đó N/N luôn giữ vai trò quan trọng nhất trong sự nghiệp XD
và bảo vệ đất nước.
Ở nước ta, dưới sự L/đạo của Đảng - thời gian qua bên cạnh những việc đã làm được trong
XD và bảo vệ tổ quốc, N/N ta cũng còn những thiếu sót, những nhược điểm của một N/N ở thời
kỳ quá độ. Tính quá độ đó thể hiện qua sự “yếu kém”, “bất cập” trong hoạt động của Đảng và
N/N ta trước thời kỳ Đ/mới.
Từ một nước nông nghiệp lạc hậu quá độ đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, trong G/đoạn
đầu XD CNXH đất nước ta vẫn còn đang trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, Csở hạ tầng còn
Trong công tác tổ chức Đảng và bộ máy N/N, khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm
Đ/mới công tác cán bộ. Bố trí cán bộ theo quan niệmcủ kỹ, nặng tính hình thức, thiên về nhiệt
tình CM, coi nhẹ tri thức Kh/học. Trong bộ máy Đảng và N/N còn thể hiện thiếu dân chủ như
chưa chú ý lắng nghe ý kiến của QC Nh/dân, phong cách và lề lối làm việc mang nặng tính
quan liêu lời nói Ko đi đôi với việc làm . Việc chỉ đạo điều hành thường Ko tập trung thiếu nhất
quán, nhiều Đảng bộ và cấp uỷ vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nhiều nơi xảy ra hiện
tượng Đảng bao biện làm thay công việc của N/N. Bộ máy Đảng, N/N và các tổ chức đoàn thể
phình ra quá lớn, chồng chéo và kém hiệu quả. Công tác giáo dục Q/lý cán bộ, đảng viên thiếu
chặt chẽ, công tác đào tạo bồi dưỡng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ đảng viên Ko
đáp ứng kịp yêu cầu Nh/vụ mới, thậm chí có một số cán bộ đảng viên thoái hoá biến chất.
Tóm lại, những khuyết điểm trên đây làm suy yếu năng lực, sức sống của hệ thống Ch/trị
XHCN ở nước ta, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả L/đạo của Đảng và mối Q/hệ mật thiết giữa
Đảng – QC bị tổn thương.
Ở đây, cần Nh/thức rỏ N/N pháp quyền, nói một cách khái quát là hệ thống các tư tưởng,
quan điểm đề cao pháp luật, pháp chế trong tổ chức, hoạt động của bộ máy N/N và trong đời
sống xã hội. N/N pháp quyền là N/N quản lý xã hội theo pháp luật và đề cao quyền của con
người, quyền của công dân. Xây dựng N/N pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì
dân là cách thức cơ bản để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm mọi quyền lực N/N
thuộc về nhân dân. Đó là N/N quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế, xử lý
nghiêm minh, kịp thời mọi vi phạm pháp luật nhằm thực hiện và bảo vệ các quyền tự do dân
chủ và lợi ích hợp pháp của công dân, ngăn ngừa mọi sự tùy tiện lạm quyền từ phía cơ quan
N/N và cán bộ viên chức N/N, ngăn ngừa hiện tượng dân chủ cực đoan, vô kỷ luật kỷ cương,
bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của N/N. Đó là N/N mà tất cả các cơ quan N/N, các tổ
chức, kể cả tổ chức Đảng đều phải hoạt động theo pháp luật, tuân thủ pháp luật, chịu trách
nhiệm trước nhân dân về các hoạt động của mình. Mọi công dân đều có nghĩa vụ chấp hành
hiến pháp và pháp luật, phải sống và làm việc theo pháp luật.
Hiến pháp và pháp luật nước ta xác nhận quyền của công dân tham gia quản lý N/N, quản lý
xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với các cơ
quan N/N. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đảm bảo mọi quyền tự do
cơ bản trong đó có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền khiếu nại, tố cáo. Các
hoạt động của toàn XH. Từ đó cũng đặt ra cho chúng ta Nh/vụ: Cùng với việc Đ/mới cơ cấu tổ
chức bộ máy, nâng cao bản lĩnh Ch/trị và năng lực chuyên môn của đội ngũ công chức N/N,…
thì vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng là phải Ko ngừng Đ/mới, bổ sung, hoàn thiện hệ thống
pháp luật, tạo ra những Đ/kiện để pháp luật phát huy sức mạnh của nó trong thực tế
Ba là, quyền lực N/N là thống nhất trên Csở có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan
chức năng trong việc Th/hiện 3 quyền : hành pháp, lập pháp và tư pháp. Trong tổ chức và hoạt
động của mình, quyền lực N/N được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất nhưng có sự phân
công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan N/N trong việc Th/hiện quyền hợp pháp hành pháp
và tư pháp. Trong tổ chức và hoạt động của mình, N/N pháp quyền XHCN VN Th/hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ. Chỉ khi đó nó mới đảm bảo tất cả quyền lực N/N thuộc về Nh/dân bảo
đảm sự thống nhất tổ chức và hành động, phát huy đồng bộ và kết hợp chặt chẽ sức mạnh của
cả cộng đồng và từng cá nhân, của cả nuớc và từng địa phương , của cả hệ thống bộ máy và
từng yếu tố cấu thành nó. Tập trung dân chủ đối lập với tập trung quan liêu cũng như phân tán
cục bộ.
Bốn là, N/N Q/lý toàn bộ hoạt động XH, Q/lý toàn bộ nền Ktế nhiều thành phần và nắm các
tư liệu sản xuất chủ yếu của XH. N/N phải luôn đặt dưới sự L/đạo của Đảng để thể hiện rõ
B/chất GC của mình, để có đủ hiệu lực Q/lý N/N và để Nh/dân Th/hiện quyền làm chủ tốt hơn.
Năm là, N/N CNXH VN có sự thống nhất hữu cơ chức năng GC và chức năng XH trong tổ
chức và hoạt động của mình. Càng đứng vững trên lập trường GC công nhân càng có khả năng
phát hiện, Nh/thức và giải quyết có hiệu quả những vấn đề có liên quan tới chức năng XH.
Ngược lại việc Th/hiện tốt chức năng XH sẽ góp phần nâng cao hiệu quả Th/hiện chức năng
XH sẽ góp phần nâng cao hiệu quả Th/hiện chức năng GC. Chính bằng cách đó và cũng chỉ
bằng cách đó, N/N XHCN mới thực sự là N/N của dân do dân và vì dân và có tác động tích cực
đối với sự Ph/triển KT-XH của đất nuớc.
Sáu là, N/N XHCN lấy liên minh GC công nhân với GCNgdân và tầng lớp trí thức làm nền
tảng. Khối liên minh này là Csở vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên sức mạnh
mới trong sự nghiệp XD và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Liên minh này góp phần giữ vững vai trò
L/đạo cũa GCCN, phát huy cao độ sức mạnh làm chủ của NDLĐ mà nồng cốt là CN, ND và
Trang 22
tầng lớp trí thức. Ngày nay, trong cuộc CMKH và CN, GCCN, nông dân Ko thể Th/hiện được
và Q/hệ sản xuất). Sinh hoạt vật chất của XH còn bao gồm những sinh hoạt vật chất khác như :
trao đổi, tiêu dùng hàng ngày, kế thừa tài sản Đ/kiện sinh hoạt vật chất của XH bao gồm :
Trang 23
Đ/kiện tự nhiên xung quanh, hoàn cảnh địa lý, dân số và mật độ dân số … Trong các yếu tố cấu
thành nên tồn tại XH, phương thức SX là nhân tố cơ bản vì nó có ảnh hưởng quyết định đến sự
biến đổi của ý thức XH và nó làm thay đổi ý nghĩa của hoàn cảnh địa lý và Đ/kiện dân số trong
sự Ph/triển của XH.
Ý thức XH là mặt tinh thần của đời sống XH bao gồm toàn bộ những Q/điểm tư tưởng lý
luận cùng những tình cảm, tâm trạng, mong muốn, truyền thống … phản ánh tồn tại XH trong
những G/đoạn Ph/triển Lsử XH nhất định.
Căn cứ vào trình độ Nh/thức, có thể phân ý thức XH thành ý thức XH thông thường và ý
thức lý luận (ý thức lý luận làm gia tăng yếu tố Kh/học, trí tuệ của ý thức thông thường). Nói
cách khác, ý thức XH biểu hiện qua tâm lý XH và hệ tư tưởng.
Trong XH có GC, các GC có những Đ/kiện sinh hoạt vật chất khác nhau, những lợi ích
khác nhau do địa vị XH của mỗi GC quy định nên ý thức XH cũng có tính GC, nghĩa là mỗi
GC đều có những Q/điểm, tư tưởng và tâm lý riêng, Ko có ý thức chung cho mọi GC mà chỉ có
ý thức chung cho một GC nhất định. Hệ tư tưởng thống trị trong mỗi thời đại là hệ tư tưởng của
GC thống trị về Ktế. GC thống trị luôn tìm cách hạn chế ý thức của GC bị trị và truyền bá ý
thức của GC Hì/thành của XH.
Khi nghiên cứu về ý thức XH, CN duy vật Lsử đã đặt ý thức XH trong Q/hệ với Csở vật
chất, với Csở Ktế để nghiên cứu và từ đó Kh/định ý thức XH và tồn tại XH có Q/hệ biện chứng
với nhau.
Trong mối Q/hệ đó tồn tại XH giữ vai trò quyết định đến N/dung, khuynh hướng Ph/triển
của ý thức XH, ý thức XH là sự phản ánh của tồn tại XH, phụ thuộc vào tồn tại XH. Ý thức XH
do tồn tại XH sinh ra, N/dung của nó là kết quả của sự phản ánh tồn tại XH. Khi tồn tại XH tác
động đến Nh/thức của chủ thể thì Hì/thành những Q/điểm, tư tưởng, nhận định và thái độ của
chủ thể. Sự phản ánh của ý thức XH bao giờ cũng xuyên qua một mắt khâu là lợi ích, trong XH
có GC đó là lợi ích của GC. Do đó xem xét N/dung của ý thức XH phải gắn chặt chẽ với Q/hệ
lợi ích. Mặt khác, ý thức XH là sự phản ánh tồn tại XH nhưng Ko phải bất cứ tư tưởng nào, một
hình thức ý thức XH nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp các Q/hệ Ktế của thời đại mà nó có
tư tưởng, kiên trì xóa bỏ những tàn dư ý thức cũ đồng thời ra sức phát huy những truyền thống
tư tưởng tốt đẹp.
Khi Kh/định tính lạc hậu hơn của ý thức XH so với tồn tại XH, triết học Mác đồng thời
cũng thừa nhận rằng trong những Đ/kiện vật chất nhất định, tư tưởng của con người đặc biệt
những tư tưởng Kh/học tiên tiến có thể vượt trước sự Ph/triển của tồn tại XH, phản ánh đúng
Q/luật vận động và Ph/triển của tồn tại XH. Từ đó nó đưa ra các dự báo tương lai một cách
Kh/học, giúp con người xác định được mục tiêu và lựa chọn những giải pháp, định hướng cho
việc tổ chức chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người để đạt được mục tiêu đó. Tuy nhiên khi
nói tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước tồn tại XH, dự kiến được quá trình khách quan của sự
Ph/triển XH thì Ko có nghĩa là trong trường hợp này ý thức XH Ko còn bị tồn tại XH quyết
định nữa. Tư tưởng Kh/học tiên tiến Ko thoát ly tồn tại XH mà phản ánh chính xác, sâu sắc mối
Q/hệ tất yếu, B/chất của tồn tại XH.
Ý thức XH của một thời đại bao giờ cũng phản ánh đời sống vật chất của thời đại đó, đồng
thời là sự kế thừa của những giá trị tinh thần mà các thế hệ trước đó tích lũy được. Q/hệ kế thừa
nói lên sự Ph/triển liên tục về tư duy giữa các thế hệ, tuy nhiên nó Ko phải là việc sử dụng kế
thừa máy móc mà trên Csở “lọc bỏ”. Kế thừa và lọc bỏ là biện chứng của sự Ph/triển của ý thức
XH, N/dung kế thừa hoặc lọc bỏ xuất phát từ Q/hệ về lợi ích và nhu cầu của GC chi phối.
Những GC khác nhau kế thừa những N/dung ý thức khác nhau của các thời đại trước. Vì vậy,
khi tiến hành cuộc Đ/tranh GC trên lĩnh vực ý thức thì Ko những phải vạch ra tính chất phản
Kh/học, phản tiến bộ của những trào lưu tư tưởng phản động trong Đ/kiện hiện tại mà còn phải
chỉ ra những nguồn gốc lý luận của chúng trong Lsử và phải kế thừa, phát huy những giá trị
tinh thần tiến bộ của dân tộc và nhân loại. Tuy nhiên, xét đến cùng thì tồn tại XH vẫn quyết
định N/dung và khuynh hướng của sự kế thừa.
Trong quá trình phản ánh hiện thực, mỗi hình thái ý thức XH đều phản ánh tồn tại XH với
những đặc trưng riêng và giữ chức năng XH khác nhau, Ko thể thay thế cho nhau nhưng lại tồn
tại trong sự liên hệ tác động xâm nhập vào nhau, làm cho mỗi hình thái ý thức XH có những
mặt, những tính chất bị ảnh hưởng bởi hình thái khác. Trong sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau
đó thì tuỳ Đ/kiện cụ thể mà một hình thái nào đó có ảnh hưởng lớn hơn nhưng ở XH hiện đại
thì ý thức chính trị có ảnh hưởng to lớn nhất. Do đó trong quá trình XD ý thức XH mới phải
Ph/triển hài hòa và đồng bộ tất cả các hình thái ý thức XH tránh mâu thuẩn đối lập nhau.