Giá trị siêu âm và CA125 huyết thanh để chẩn đoán khối u buồng trứng ác tính - Pdf 18

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Khối u buồng trứng là một bệnh lý, thường gặp ở phụ nữ trong mọi
lứa tuổi, nguy cơ ung thư buồng trứng trong cuộc sống là 5-7% [14], [15],
[58]. Buồng trứng là một cơ quan đặc biệt khác so với các cơ quan khác trong
cơ thể vì nó có nguồn gốc mô học rất phức tạp. Mặc dầu tần suất ác tính của u
buồng trứng không cao, nhưng tỷ lệ ác tính gia tăng theo tuổi chiếm tỷ lệ
0,5%. Ở Châu Âu tỷ lệ tử vong khá cao so với Châu Á [14]. Theo nghiên cứu
của Trung tâm ung bướu thành phố Hồ Chí Minh hàng năm tử vong do ung
thư buồng trứng đứng thứ 5 sau ung thư CTC và ung thư vú [8].
Tỷ lệ sống sau 5 năm là 30%, theo thống kê của Hội ung thư Thành
phố Hồ Chí Minh 1998 thì tỷ lệ ung thư buồng trứng chiếm 3,8% đứng thứ 8
trong số những ung thư xảy ra phụ nữ tại Việt Nam [8].
Như vậy, ung thư buồng trứng là bệnh có tiên lượng xấu vì tính chất
xâm nhiễm phúc mạc sớm, việc chẩn đoán sớm ung thư buồng trứng còn gặp
khó khăn khi phát hiện thường ở giai đoạn muộn, nên kết quả điều trị còn hạn
chế. Do đó, từ lâu vấn đề chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời ung thư buồng
trứng được nhiều tác giả quan tâm.
Gần đây, siêu âm chẩn đoán có nhiều tiến bộ đáng kể, trở thành
phương tiện kiểm soát phổ biến. Siêu âm đã góp phần không nhỏ, trong đi sâu
nghiên cứu bản chất khối u cũng như chẩn đoán độ lành và ác của chúng [56].
Chất đánh dấu sinh học khối u cũng được áp dụng khá rộng rãi trong các bệnh
về chuyên khoa, đặc biệt vai trò CA125 trong việc chẩn đoán và theo dõi ung
thư buồng trứng [6], [31], [46], [59].
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khả năng chẩn đoán thật sự của các biện
pháp này. Kết quả siêu âm còn dựa vào kinh nghiệm và chủ quan của người
2


Buồng trứng là một tuyến vừa ngoại tiết vừa nội tiết. Có hai buồng
trứng Phải và Trái nằm áp vào thành bên chậu hông, sau dây chằng rộng, có
màu hồng nhạt, nhẵn cho tới lúc dậy thì, sau đó càng ngày càng sần sùi vì
hàng tháng một trứng tiết ra từ một nang trứng vào vòi tư cung làm rách vỏ
buồng trứng và tạo vết sẹo trên bề mặt buồng trứng [14].
Buồng trứng có hai mặt : mặt trong và mặt ngoài, mặt trong lồi tiếp xúc
với các tua của phễu vòi tử cung và quai ruột, mặt ngoài nắm áp vào phúc
mạc của thành bên chậu hông trong một hố lõm gọi là hố buồng trứng, hố
buồng trứng được giới hạn bởi các thành phần nằm ngoài phúc mạc đội lên,
phía trước là dây chằng rộng, phía trên là động mạch chậu ngoài, phía trong là
động động mạch chậu trong, phía sau là động mạch chậu trong và niệu quản.
Ở hố động mạch rốn và bó mạch thần kinh dịch. Mặt ngoài buồng trứng có
một vết lõm là rốn buồng trứng nơi mạch và thần kinh đi vào buồng trứng.
Buồng trứng có hai bờ : bờ tự do và bờ mạc treo buồng trứng,
Buồng trứng có hai đầu : đầu vòi và đầu tử cung.
Buồng trứng được treo lơ lửng trong ổ phúc mạc nhờ một hệ thống dây
chằng. Ngoài mạc treo buồng trứng còn có dây chằng treo buồng trứng, dây
chằng này đi từ đầu vòi buồng trứng qua hai lá dây chằng rộng đến thành
chậu hông, dây chằng được tạo bởi thần kinh và mạch máu buồng trứng, còn
dây chằng riêng buồng trứng là giải mô liên kết đi từ đầu tử cung đến góc bên
tử cung. Ngoài ra có dây chằng ngắn, còn gọi là dây chằng vòi buồng trứng.
4 Động mạch chủ yếu là động mạch buồng trứng, tách ra từ động mạch
chủ bụng ở vùng thắt lưng đi trong dây chằng treo buồng trứng để vào buồng
trứng ở đầu vòi. Ngoài ra còn có nhánh buồng trứng của động mạch tử cung.
Tĩnh mạch đi theo động mạch và tạo thành một đám rối tĩnh mạch hình dây
leo ở gần rốn buồng trứng.
Bạch huyết theo các mạch và đổ vào các hạch bạch huyết ở vùng thắt

là 4% trước 20 tuổi, 8% giữa 20 và 39 tuổi, 27% giữa 40 và 49 tuổi, và 42%
sau 50 tuổi [43], [58]. Các u giáp biên ác thường thấy ở phụ nữ trẻ, 1/2 u lành
là u bì, thường gặp vào khoảng 20 và 39 tuổi [30], [38], [49].
Ngoài ra còn có các tình trạng giả u như hoàng thể thai kỳ, buồng trứng
đa nang, nang hoàng tuyến, lạc nội mạch tử cung.
1.2. UNG THƢ BUỒNG TRỨNG
1.2.1. Dịch tễ học :
Ở các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ ung thư buồng trứng ghi nhận
có hơi cao hơn so với các nước đang phát triển. Ở Hoa Kỳ ung thư buồng
trứng là một trong bốn bệnh ung thư gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ và là loại
bệnh gây tử vong cao nhất trong ung thư phụ khoa. Theo một thống kê vào
năm 1984, hàng năm có thêm khoảng 17.000 bệnh nhân mới và con số tử
vong là 11.200. Tỷ lệ gây tử vong của loại bệnh này ở các nước phát triển vào
khoảng từ 3,02/100.000 ở Ý đến 7,04/100.000 ở Hoa Kỳ. Tuy vậy, tỷ lệ này ở
Nhật lại thấp nhất thế giới, chỉ là 1,69/100.000. Nghiên cứu trên cộng đồng
dân Nhật di cư đến Hawaii và thế hệ tiếp theo sau đó cho thấy tỷ lệ ung thư
buồng trứng tuy cao hơn ở Nhật nhưng vẫn thấp hơn cộng đồng da trắng ở
Mỹ [38], [40]. Ung thư buồng trứng ít gặp hơn ở các nước đang phát triển, có
lẽ phần nào do loại bệnh này ít được chẩn đoán. Tại Trung tâm Ung bướu –
Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1990 – 6/1996 ghi nhận có 1.037 trường hợp
ung thư buồng trứng trong số 36.390 bệnh nhân nhập viện [8].
6 Khảo sát ở Hoa Kỳ ghi nhận, loại ung thư biểu mô thường gặp nơi cộng
đồng dân da trắng, suất độ tăng dần sau tuổi dậy thì và đạt đỉnh cao ở khoảng
40 – 70 tuổi. Trong khi ung thư tế bào mầm thường thấy hơn ở trẻ nhỏ và phụ
nữ trẻ cũng trong cộng đồng dân da trắng [38], [40], [57].
Có nhiều công trình nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy xáo trộn nội tiết
có thể góp phần gây ra ung thư buồng trứng. Người ta ghi nhận tỷ lệ ung thư

cậy được hiện nay để phát hiện ung thư buồng trứng khi u còn nhỏ không đủ
độ nhạy và độ chuyên. Siêu âm đủ độ nhạy phát hiện sự to lên của buồng
trứng ở người phụ nữ đã hết kinh, nhưng ở nhiều người sự to của buồng trứng
có nguyên nhân lành tính [21], [29], [32], [52].
1.2.4. Chẩn đoán và xếp hạng :
Những triệu chứng của ung thư buồng trứng không đặc hiệu, triệu
chứng về đường tiêu hóa, niệu dục và vùng bụng dưới chỉ xảy ra khi u to và
bệnh lan tràn trong ổ bụng. Lúc này, thường thấy triệu chứng chèn ép do u
vùng chậu và triệu chứng căn ổ bụng do dịch báng ác tính [15].
Thăm khám phụ khoa cẩn thận có thể phát hiện u buồng trứng. Phụ nữ
mãn kinh, buồng trứng bình thường chỉ to tối đa 1 – 2 cm, với kích thước này thì
không thể sờ được khi khám phụ khoa. Nếu có khối u ở buồng trứng khả nghi
phải tiến hành khảo sát kỹ, mặc dù chỉ có khoảng 10% là do ung thư buồng
trứng. Lúc này, siêu âm rất hữu hiệu để đánh giá một khối u vùng chậu [5].
Khi nghi ngờ ung thư buồng trứng thứ phát cần soi đại tràng để xem có
ung thư đại tràng nguyên phát không. Những xét nghiệm hình ảnh của hệ tiết
niệu cho phép xác định hạch sau phúc mạc và sự tắc nghẽn niệu quản hay
bàng quang bị chèn ép bởi khối u vùng chậu [2], [24], [28], [43], [53].
1.3. ĐIỂM QUA VÀI NÉT VỀ SIÊU ÂM
Siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh sử dụng sóng siêu âm.
Dựa vào sự thay đổi tính chất của phản âm người ta nhận định được cấu trúc
của vật khảo sát [4], [21], [60].
8 1.3.1. Siêu âm :
1.3.1.1. Các phương pháp siêu âm được sử dụng trong chẩn đoán :
Theo tác giả Phan trường Duyệt [5]: Khảo sát sự thay đổi về cường độ
của phản âm. Cho tới nay có nhiều phương pháp siêu âm chẩn đoán nhưng
đều dựa trên ba phương pháp cơ bản :

- Cấu trúc ECHO phản âm hạt : Hạt lớn hạt nhỏ, hạt có tính sinh ECHO
dày hay ECHO kém.
- Cấu trúc ECHO thâm nhiễm có những đốm ECHO loang lỗ, phân bố
không đều.
- Cấu trúc ECHO hỗn hợp : Gồm cả hai loại trên [5].
1.3.2. Tiêu chuẩn dự đoán đô lành ác của khối u buồng trứng trên siêu âm
1.3.2.1. Đánh giá bằng siêu âm hình ảnh :
Nói chung các khối u có giới hạn rõ nét, thành mỏng, ECHO trống, một
thùy, có nhiều khả năng lành tính. Ngược lại, nếu u có vách ngăn dày, các
vùng đặc không đồng nhất, giới hạn không xác định được, thành u có ECHO
kém hoặc cấu trúc ECHO phức tạp vừa đặc vừa nang, báng bụng hay các quai
ruột dính chùm nhau, thì có nhiều khả năng ác tính [60].
Năm 1983, Moyte và cộng sự, thử xác định tính chất siêu âm với 106 u
buồng trứng đối chiếu với giải phẫu bệnh, ông nhận thấy rằng tất cả các u cho
phản âm trống (trừ 1 trường hợp) đều lành tính. Trong loạt u cho phản âm
kém, có 7/36 trường hợp là ác tính, độ phản âm càng tăng thì độ ác tính cũng
càng cao, tuy nhiên những u cho phản âm sáng nhất lại là những u quái lành
tính [54].
Năm 1991, Sassone – MA và cộng sự (Trung tâm y khoa Columbia-
Hoa Kỳ)[35] tiến hành nghiên cứu trên 281 bệnh nhân nhằm khảo sát các đặc
tính của bệnh lý buồng trứng dựa vào siêu âm đầu dò âm đạo qua đó đánh giá
hệ thống điểm mới nhằm dự đoán độ ác tính của u buồng trứng. Tác giả
Nguyễn Đình Tường Lân đã đưa ra bảng đánh giá hệ thống điểm mới nhằm
chẩn đoán độ ác tính của khối u buồng trứng [9].
10 Tác giả phân loại như sau :
Bảng: 1.1. Bảng đánh giá khối u buồng trứng dựa vào siêu âm.
Nhóm

11 1.4.1.2. Ứng dụng trong lâm sàng :
- Phát hiện ung thư : không có giá trị nhiều (đa số) vì có độ nhạy cảm
và độ đặc hiệu thấp, có thể âm tính giả ngay cả trong các trường hợp đã di
căn, ngoài ra không có giá trị trong xác định vị trí, bản chất khối u.
- Chẩn đoán : đa số các chất trên không có giá trị cao, trừ hCG có tính
đặc hiệu cao.
- Tiên lượng : có giá trị đặc biệt trong các trường hợp u nhỏ mà hàm
lượng tăng rất cao.
- Theo dõi : có giá trị trong theo dõi.
- Kháng hóa trị liệu. Mổ chưa cắt bỏ được hết khối ung thư. Tái phát, di
căn. [6], [17], [20], [26], [31], [33], [48] .
1.4.2. CA125 trong chẩn đoán và điều trị các khối u buồng trứng :
CA125 là Epitope Carbohydrate kháng nguyên ung thư glycoprotein,
một dấu hiệu sinh học trong huyết thanh có ích trong chẩn đoán và điều trị
ung thư buồng trứng, kháng thể đơn dòng mucin tăng lên chống lại dòng tế
bào cấy lấy từ các bệnh nhân bị carcinôm nang tuyến dạng nhú [6], [17], [20],
[28], [36], [37], [48].
CA125 hiện diện ở lá phôi trong dẫn xuất từ biểu mô mầm, bao gồm
phúc mạc, màng phổi, màng ngoài tim và màng ối. Ở người trưởng thành bình
thường, nhuộm hóa mô miễn dịch cho thấy kháng nguyên CA125 hiện diện
trong biểu mô vòi trứng, nội mạc tử cung và cổ tử cung. Biểu mô buồng trứng
người trưởng thành cũng như biểu mô buồng trứng của thai đều không biểu
hiện hoạt tính CA125 [6], [28], [36].
CA125 được định lượng bằng các xét nghiệm miễn dịch với nồng độ
huyết thanh bình thường nhỏ hơn 35UI/ml, do chỉ có 1% người bình thường
có giá trị CA125 lớn hơn 35 UI/ml. Ngày nay có nhiều công trình khảo sát để
nhận dạng CA125 trong ung thư buồng trứng với những phương pháp phân

13 bị tràn dịch màng phổi do ung thư vú. Cũng có một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân di căn
phổi không liên quan màng phổi cũng có tăng CA125. Sự gia tăng CA125
cũng tìm thấy trong huyết thanh bệnh nhân Carcinôm nội mạc tử cung, cổ tử
cung, vòi trứng, tụy tạng, dạ dày, gan, đường mật, phổi, vú và đại tràng. Nồng
độ CA125 huyết thanh tăng cũng được tìm thấy trong các tình trạng lành tính
bao gồm có thai, hành kinh, bệnh nội mạc tử cung, bệnh viêm nhiễm vùng
chậu, viêm tụy tạng, viêm gan và suy thận [6], [17].
1.5. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHẨN ĐOÁN ĐỘ
LÀNH ÁC CỦA U BUỒNG TRỨNG.
Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về dự đoán độ lành ác
của khối u buồng trứng bằng siêu âm và xét nghiệm sinh học của các tác giả
trong nước và các tác giả nước ngoài.
Depriest – PD (1994) thuộc khoa sản, Trường Đại học của Trung tâm
Y Kentucky, Lexington [46] (Hoa Kỳ), đã chứng minh siêu âm ngã âm đạo là
phương tiện hiệu quả nhất trong việc tầm soát ung thư buồng trứng, bằng cách
so sánh các điểm chỉ số hình ảnh siêu âm các u buồng trứng với kết quả mô
học. Qua nghiên cứu 213 bệnh nhân đã xác định :
- 169 bệnh nhân có các u buồng trứng lành.
- 44 bệnh nhân có các u buồng trứng ác.
Các điểm chỉ số hình ảnh chủ yếu có ý nghĩa cao trong chẩn đoán u
buồng trứng ác là MI : 7,3Ġ 1,9. Còn u buồng trứng lành là MI : 3,3Ġ 1,8, MI
= chỉ số về hình thể học.
Giá trị MI có ý nghĩa thống kê với :
- Độ nhạy 89%.
- Giá trị tiên đoán dương 46%
Các tác giả đã kết luận rằng : Sử dụng chỉ số hình ảnh siêu âm đường
âm đạo là một phương pháp có hiệu quả cao làm tăng giá trị dự đoán dương

Độ nhạy 100%. Độ chuyên 47%.
15 Giá trị tiên lượng dương tính 32%.
Giá trị tiên lượng âm tính 100%.
Tác giả rút ra kết luận sau :
IR và IP có thể sử dụng để phân biệt u lành – u ác.
Sự vắng mặt của CA125 > 35 UI/ml hay luồng siêu âm màu trong u có
thể loại trừ ung thư buồng trứng [21], [27].
Nghiên cứu của Ritsu yamamoto và cộng sự tại Nhật (1996) với đề tài
: “ Có thể phát hiện sớm ung thư buồng trứng ? ” [45].
Hai tác giả này cho rằng nếu được phát hiện sớm ung thư buồng trứng
ở giai đoạn I và II thì khả năng sống còn sau 5 năm là 90% và 70%, hơn nhiều
so với ung thư giai đoạn III và IV, khả năng sống còn sau 5 năm chỉ xấp xỉ
20%.
Hai tác giả cho rằng siêu âm đầu dò âm đạo kết hợp siêu âm màu và
CA125 là phương pháp phát hiện sớm ung thư buồng trứng [45], [60].
Nghiên cứu của Mackey – SE và Creasman – WT tại Hoa Kỳ năm 1995
với tựa đề “ Tầm soát ung thư buồng trứng ” [41].
Hai tác giả cho rằng có thể tầm soát để phát hiện sớm ung thư buồng
trứng nếu chú ý đến các yếu tố nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng kết
hợp với siêu âm bụng, âm đạo, siêu âm màu và CA125. Sự kết hợp này làm
giảm tử suất của ung thư buồng trứng một cách rõ rệt [41], [42].
Nghiên cứu của Jacobs – IJ và cộng sự thuộc Khoa sản phụ học Viện
Hoàng Gia Luân Đôn và Trung Tâm Đại Học Y Khoa Công Tước [45].
Nghiên cứu được tiến hành năm 1996 tại Anh trên 143 bệnh nhân có chỉ định
phẫu thuật vì khối u phần phụ.
Mục tiêu nghiên cứu: “ Chẩn đoán ung thư buồng trứng dựa trên các
chất đánh dấu sinh học CA125, CA15-3 và TGA 72–3 (Tumor Glycoprotein

lượng CA125 trước mổ nhận thấy :
17 Độ nhạy 53,8% và độ đặc hiệu 86,7%.
Khả năng chẩn đoán đúng 79,3%.
Tác giả kết luận : không nên quá lạm dụng CA125 như một cứu cánh
trong chẩn đoán sớm ung thư buồng trứng. Nó có giá trị định hướng trong
chẩn đoán và đặc biệt trong theo dõi, đánh giá kết quả điều trị [1]. Nên kết
hợp CA125 với các Marker khác hoặc với siêu âm để nâng cao hiệu quả chẩn
đoán [1], [21], [36].
Theo M.B-Chenoufi [50] thì nên làm xét nghiệm CA125 bổ sung cho
lâm sàng và siêu âm trước mổ không phải là không có ích.
Nguyễn Đình Tường Lân (1999) phân loại 185 khối u buồng trứng theo
siêu âm dựa vào bảng phân loại siêu âm của Trường Đại học Tokyo.
Kết quả :
- U lành chiếm 89,73%, u ác chiếm 10,27%.
- Loại I và II không có u ác tính.
Tỷ lệ ác tính ở ba loại IV, V, VI là 23,53% [9] . 18
luminescence-ECL). Nguyên lý phát quang điện hóa là một thành tựu mới, có
nhiều ưu điểm hơn so với các nguyên lý khác như quang hóa
(Chemiluminesece). Ưu điểm nổi bật nhất của ECL là nó có độ nhạy rất cao,
thang độ rộng và thời gian ủ cực ngắn. Lần đầu tiên (1996) hãng Boehringer
Manheim sản xuất hệ thống máy xét nghiệm miễn dịch tự động theo nguyên
lý này đó là hệ thống xét nghiệm miễn dịch tự động Elecsys 1010 ; Model sản
xuất : 1998.
Xét nghiệm CA125 huyết thanh và kỹ thuật:
Cách lấy máu xét nghiệm :
Bệnh nhân nhịn đói lấy 2ml/ máu để xét nghiệm :
- Tách huyết thanh để lắng đọng sau 20 phút (mẫu máu).
- Quay ly tâm đọc kết quả trên máy ELECSYS 1010 sau 30 phút.
Hệ thống IM x chuyển mẫu nghiệmvà các vi hạt vào giếng ủ của các
buồng phản ứng.Trong thời kỳ ủ, chất phân tích gắn vào vi hạt tạo nên một
phức hợp miễn dịch .Hệ thống IM x chuyển vào một phức hợp miễn dịch vào
buồng phản ứng cấu tạo bằng ma trận sợi thủy tinh trung tính. Sự gắn không
đảo ngược của các vi hạt làm cho các phức hợp bị giữ lại bởi sợi thủy tinh,
trong khi phản ứng trộn chảy nhanh qua lỗ lớn của ma trận.
Một chất kết hợp Alkaline Phosphatase có đánh dấu được thêm vào ma
trận sợi thủy tinh và gắn vào phức hợp miễn dịch. Hệ thống IM x thêm vào 4-
Methylumbellyferyl phosphatase vào ma trận, phức hợp miễn dịch gắn chất
kết hợp xúc tác thủy phân của MUP thành Methylumbellferon (MU) phát ra
trong ma trận tỷ lệ với nồng độ của chất cần đo trong mẫu thử.
Các thuốc thử của IM x CA 125 và tiến trình :
Đầu hút / điện cực phân phối mẫu. Chất pha loãng. Vi phân tử phủ
Anti-CA125 trong giếng ủ của buồng phản ứng.
20 Hỗn hợp phản ứng được ủ. Chất xác định phản ứng OC 125 trong mẫu

- Có gia đình.
- Độc thân.
- Tái kết hôn .
Số lần sinh :
- Chưa sinh.
- Sinh 1-2 lần.
- Sinh > 3 lần.
2.2.2.2 Khảo sát các mối tương quan :
Tuổi :
- < 20tuổi.
- 20 - 40 tuổi.
- 40 tuổi.
Tình trạng hôn nhân :
- Độc thân.
- Có gia đình .
- Tái kết hôn.
Số lần sinh :
- Chưa sinh.
- Sinh 1-2 lần.
- Sinh > 3 lần.
2.2.2.3. Xác định các đặc điểm lâm sàng cùng mối liên quan Lâm sàng với
ung thư buồng trứng. :
Các đặc điểm lâm sàng : Lý do đến khám và khám lâm sàng:
- Đau vùng hạ vị.
- Rối loạn kinh nguyệt.
- Khám phụ khoa định kỳ.
- Lý do khác.
22
phần phụ bên đối diện.
Tính chất của khối u :
Thành của khối u dày =< 3cm
> 3cm.
Chất chứa bên trong : Không đồng nhất.
Đồng nhất.
Số vách ngăn : =<3
> 3
- Chồi sùi trong hoặc ngoài nang : Có.
Không có.
- Có kết hợp với báng bụng : Có.
Không có.
Mối liên quan siêu âm và ung thƣ buồng trứng
- Vách ngăn và ung thư buồng trứng.
- Độ dày và ung thư buồng trứng.
- Chồi sùi và ung thư buồng trứng.
- Phản âm ECHO và ung thư buồng trứng.
- Dịch ổ bụng và ung thư buồng trứng.
Khảo sát 2 trường hợp .Khi có 2và khi có 3 trong 5 yếu tố sau:
Thành của khối u dày
Chất chứa bên trong không đồng nhất
Có vách ngăn
Chồi sùi bên trong hoặc ngoài nang
Có kết hợp bụng báng
- Đối chiếu kết quả siêu âm và kết quả GPBL.
24 Đánh giá độ lành và ác tính của khối u dựa vào kh?o sát giá trị chẩn
đoán siêu âm theo Sassone-MA [9]

Gía trị CA125 giữa u lành và u ác buồng trứng.
25 2.3. Tính giá trị xét nghiệm CA125 và siêu âm:
Bảng 2.2 :Bảng tính giá trị 2 ( 2 [10].

Bệnh (B+)
Không bệnh (B -)
Tổng
Test+ (T+)
a
b
a+b
Test - (T-)
c
d
c+d
Tổng
a +c
b+d
N
2.3.1. Độ nhạy : = a/ (a+c) x 100 %
- Là khả năng xét nghiệm báo T + đối với người bệnh B+
2.3.2. Độ đặc hiệu : = d/ (b+d) x100 %
- Là khả năng xét nghiệm báo T – đối với người không bị bệnh B-
2.3.3. Giá trị tiên đoán dƣơng tính :
= a/ (a+b)x 100 %
- Là khả năng bệnh nếu xét nghiệm T +


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status