Đề cương môn Xây dựng đảng có đáp án - Pdf 18

Câu 1: Bản chất giai cấp công nhân Việt Nam của Đảng cộng sản Việt Nam
Bài làm
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định bản chất giai cấp công nhân của
mình. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, được Điều lệ Đảng chỉ
rõ: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Hiện nay, Đảng ta đang hoạt động trong điều kiện phát triển
kinh tế nhiều thành phần, áp dụng cơ chế thị trường, mở cửa, môi trường xã hội có nhiều phức tạp; cán bộ,
Đảng viên giữ nhiều trọng trách, hàng ngày hàng giờ tiếp xúc với hàng và tiền, đối mặt với chủ nghĩa tư
bản. Vì vậy, nhận thức đúng và chăm lo giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính tiên phong, tính nhân
dân và dân tộc của Đảng là hết sức cần thiết và không được phép lơi lỏng đối với người Đảng viên.
1. Tại sao Đảng cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân
a. Cơ sở khoa học về bản chất giai cấp công nhân của Đảng cộng sản Việt Nam
Khi bàn về bản chất giai cấp của một chính đảng, chúng ta thấy rằng bất kỳ một đảng chính trị nào
cũng là sản phẩm của đấu tranh giai cấp và mang bản chất của một giai cấp nhất định. Đảng nào cũng
đứng trên lập trường của một giai cấp nhất định, không thể có một chính đảng không mang tính giai cấp,
đứng ngoài giai cấp.
Đảng Cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân. Thiếu một
trong hai yếu tố đó thì không thể đưa tới sự ra đời của Đảng Cộng sản. Trong giai đoạn đầu của cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa tư bản, khi chưa có chủ nghĩa Mác Lênin soi đường thì các cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân thời kỳ này chỉ mang tính tự phát, dừng lại ở đấu tranh vì quyền lợi trước mắt. Chỉ khi có chủ
nghĩa xã hội khoa học ra đời và thâm nhập vào phong trào công nhân thì giai cấp công nhân mới trở thành
giai cấp đấu tranh có ý thức tự giác. Là hệ thống lý luận khoa học về thế giới quan, nhân sinh quan cách
mạng được đúc kết từ trí tuệ của Mác, Ăng ghen và nhiều nhà khoa học trí thức thế kỷ 19, Chủ nghĩa Mác
(chủ nghĩa xã hội khoa học) đã chỉ rõ vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là đội quân chủ yếu
trong cuộc đấu tranh xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện sứ
mệnh lịch sử đó, giai cấp công nhân phải tổ chức ra chính đảng độc lập của mình là Đảng cộng sản để tập
họp tổ chức quần chúng nhằm thống nhất hành động cho những mục tiêu chung : xóa bỏ chủ nghĩa tư bản,
giải phóng mình đồng thời giải phóng nhân loại, xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột : xã hội xã
hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Cũng như các Đảng Cộng sản khác, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp giữa chủ nghĩa
Mác-Lênin với phong trào công nhân. Tuy nhiên, là một nước thuộc địa bị đế quốc thực dân đàn áp, bóc lột

lãnh đạo giai cấp công nhân tiến lên trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp và nhân loại.
Tính tiên phong của Đảng cộng sản thể hiện ở sự tiên phong về lý luận, tiên phong trong tổ chức và
tiên phong trong hành động. Về lý luận, theo Lê nin, Đảng phải “được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì
mới có khả năng làm tròn vai trò người chiến sĩ tiền phong'' và cơ sở lý luận của đảng là Chủ nghĩa cộng
sản khoa học. Hồ chủ tịch đã nói “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt”. Đảng cộng sản
còn là đội tiên phong về tổ chức : đây là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ nhất, tính tổ chức của đảng thể hiện
ngay trong điều kiện gia nhập đảng và đòi hỏi sự giác ngộ về tổ chức. Cán bộ đảng viên phải sinh hoạt
trong một tổ chức của đảng, phải bằng hành động có tổ chức để chiến đấu cho nhiệm vụ của đảng, phải
chấp hành mọi nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của đảng. Trong điều kiện Đảng cấm quyền tính tiên phong
về mặt tổ chức càng được khẳng định rõ hơn. Bên cạnh đó, đảng tập họp những người có tính giác ngộ
cao vì vậy đảng cũng mang tính tiên phong về hành động, “tính đảng không chỉ thể hiện ở lời nói mà còn ở
việc làm” (Lênin) mà “đảng phải đi trước để làng nước theo sau” (Hồ Chí Minh).
Như vậy, giữa tính giai cấp và tính tiên phong của Đảng có mối quan hệ với nhau, Đảng viên và giai
cấp công nhân có chung lợi ích, lập tường, quan điểm nhưng đảng không phải là toàn bộ giai cấp mà là bộ
phận ưu tú, là đội tiên phong của giai cấp. Do đó, bản chất giai cấp quyết định tính tiên phong của đảng,
tính tiên phong là biểu hiện cao nhất của bản chất giai cấp. Nói cách khác là chỉ khi nào có lập trường giai
cấp vững vàng mới có những hành động tiên phong cao và khi tính tiên phong cao càng làm cho lập trường
giai cấp vững chắc hơn.
c. Đảng là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân
tộc
Có ý kiến cho rằng Đảng cộng sản Việt Nam mang tính giai cấp, cho nên chỉ có thể là Đảng của
giai cấp công nhân, Đảng không thể đại diện cho lợi ích dân tộc cũng như của các tầng lớp nhân dân lao
động khác.
Để nhận thức về điều này , chúng ta thấy rằng thực tiễn Việt Nam cho thấy những người cách
mạng đi từ chủ nghĩa yêu nước hoàn toàn có thể tiếp cận chủ nghĩa Mác-Lênin, chuyển sang lập trường
cách mạng của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác-Lênin là ngọn cờ đấu tranh giải phóng giai cấp công
nhân đồng thời cũng là ngọn cờ thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại mới. Sự nghiệp
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng
ta đã và đang phấn đấu là mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân, của đông đảo nhân dân lao động và
của cả dân tộc. Mặt khác, trong hoàn cảnh cụ thể của nước ta, giai cấp công nhân có quan hệ mật thiết với

nông dân, tầng lớp trí thức và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Và với tư cách là một đảng cầm
quyền, Điều lệ Đảng xác định: ''Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ,
chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến
hành sự nghiệp cách mạng''.
d. Bản chất giai cấp công nhân của đảng thể hiện như thế nào
Vậy bản chất giai cấp công nhân của đảng được thể hiện như thế nào ? Bản chất của giai cấp
công nhân hiện đại là lao động sáng tạo, khoa học và cách mạng. Vì vậy, trong xây dựng tổ chức đảng và
trong mọi hoạt động của Đảng phải thể hiện tính khoa học và cách mạng. Trong 8 nguyên tắc về học thuyết
Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân của Lênin. bản chất khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân
được thể hiện ở những điểm sau :
Về tư tưởng : Đảng cộng sản mang hệ tư tưởng của giai cấp công nhân tức là chủ nghĩa Mác-
Lênin, đây là hệ thống lý luận khoa học đã tạo ra thế giới quan và phương pháp luận đúng cho cuộc cách
mạng của giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh - người sáng lập Đảng ta - đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, vạch ra đường lối đúng đắn cho cách mạng nước ta.
Chính vì vậy, Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng ta và ngày
càng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần, tư tưởng của dân tộc ta. Bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lê Nin
phải đi đôi với việc phát triển và vận dụng nó vào điều kiện lịch sử cụ thể, phải nhận thức đúng đắn rằng lý
luận chủ nghĩa Mác - LêNin không phải là cái bất khả xâm phạm mà “chỉ coi đó như là những nền tảng giúp
ta về mặt phương pháp” (Lênin) và “như kim chỉ nam giúp ta về phương hướng” (Hồ Chí Minh).
Về chính trị : khi có chính quyền, Đảng cộng sản phải là đảng cầm quyền lãnh đạo hệ thống chính
trị để đề ra mục tiêu, phương hướng, đường lối, chính sách đúng, phù hợp với yêu cầu phát triển khách
quan của đất nước và trung thành với mục tiêu, lý tưởng của giai cấp : xóa bỏ chế độ xã hội cũ bóc lột, xây
dựng thành công chế độ xã hội mới – chế độ xã hội chủ nghĩa, tiến lên cộng sản chủ nghĩa. Buông lỏng sự
lãnh đạo của đảng đối với chính quyền là sai lầm về nguyên tắc, thủ tiêu sức mạnh của đảng và nhà nước
cũng như sức mạnh của cả hệ thống chính trị và là mở đường cho các phần tử phải động cướp chính
quyền.
Về tổ chức : bản chất giai cấp công nhân còn thể hiện Đảng phải được tổ chức chặt chẽ và hoạt
động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thường xuyên tự phê bình và
phê bình, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng. Mọi sự chia rẽ, bè phái, buông lỏng kỷ luật đều trái với

yếu ; một bộ phận công nhân bị tha hóa về thái độ lao động, phẩm chất giai cấp và lối sống.
Mặt khác, đất nước ta đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành
phần kinh tế phát triển mạnh mẽ, tạo nên những biến đổi sâu sắc về số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ
công nhân, viên chức, người lao động và tác động đến sự phân hóa trong đảng. Một bộ phận không nhỏ
trong Đảng đã thoái hóa, biến chất, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống. Một số
nơi cấp ủy đảng và đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ. Một số vụ án thời gian qua từ Tamexco
đến Năm Cam rồi Lã Thị Kim Oanh, cảng Miền Trung buộc chúng ta có những giải pháp tích cực để đấu
tranh, giữ vững bản chất giai cấp của Đảng. Đây chính là nguy cơ nếu không được khắc phục sẽ làm cho
Đảng thoái hoá biến chất, không còn là đảng của giai cấp công nhân, đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Từ thực trạng trên cho thấy rằng việc giữ gìn và nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Đảng luôn
luôn là một yêu cầu cơ bản của công tác xây dựng đảng. Để giữ vững và nâng cao bản chất giai cấp công
nhân của Đảng ta trong điều kiện hiện nay, Điều lệ Đảng và Văn kiện Đại hội lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ 6
phương hướng như sau :
Một là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. trong bất kỳ tình huống nào cũng
không dao động, xa rời mục tiêu đó.
Hai là trung thành và vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, xuất phát đầy đủ từ thực tiễn cụ thể của nước ta để đề ra đường lối, chủ trương và các chính
sách đúng đắn.
Ba là giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách,
thường xuyên tự phê bình và phê bình, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Bốn là thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp
công nhân; xây dựng đội ngũ cán bộ và Đảng viên theo quan điểm của giai cấp công nhân.
Năm là củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn
dân. Chăm lo đời sống, thực sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Sáu là kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của
giai cấp công nhân. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp của
cách mạng.
Để thực hiện những phương hướng trên, Đảng ta phải chỉ đạo quyết liệt hơn cuộc vận động xây
dựng, chỉnh đốn Đảng tương xứng với vị trí là nhiệm vụ then chốt và tập trung vào một số việc trọng tâm
sau:

tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt của đảng.
Tư tưởng về xây dựng Đảng theo nguyên tắc tập trung dân chủ đã được Mác và Ănghen là người đầu
tiên nêu lên và được ghi vào “Điều lệ của liên đoàn những người cộng sản”, và văn kiện “Điều lệ hội liên
hiệp công nhân quốc tế” với các nội dung bao gồm: Đảng phải là một tổ chức tập trung chặt chẽ; các cơ
quan lãnh đạo của Đảng phải được bầu một cách dân chủ, họ sẽ bị bãi miễn bất kỳ lúc nào nếu họ không
hoàn thành nhiệm vụ được giao, Đảng phải là một khối thống nhất về chính trị, tư tưởng và hành động dựa
theo chế độ cá nhân phục tùng tổ chức, cấp dưới phục tùng cấp trên, tập thể phục tùng ban chấp hành
trung ương.
Sau khi C. Mác, Ph. Ăng ghen qua đời, những tư tưởng về nguyên tắc tập trung dân chủ tiếp tục được
V.I. Lê nin kế thừa và phát triển khi xây dựng nên học thuyết về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.
Lênin cho rằng tổ chức chỉ trở thành hiện thực và có ích cho cuộc sống khi nó có các nguyên tắc để liên kết
thống nhất và điều khiển hành vi của các thành viên. Ông cũng cho rằng : Đảng phải là một đội ngũ có tổ
chức và là tổ chức chặt chẽ của giai cấp công nhân, Đảng phải là một khối thống nhất về chính trị, tư
tưởng. Chính điều đó buộc Đảng phải thực hiện chế độ tập trung dân chủ trong xây dựng và hoạt động của
Đảng như một tất yếu. Chế độ tập trung đòi hỏi đảng phải có một điều lệ, một kỷ luật, một cơ quan tuyên
truyền và cổ động thống nhất, một cơ quan lãnh đạo thống nhất, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục
tùng cấp trên, toàn đảng phục tùng Đại hội Đảng toàn quốc và Ban chấp hành Trung ương, chỉ như vậy mới
bảo đảm cho đảng thật sự thống nhất và do đó mới thật sự mạnh. Người nói “Giai cấp vô sản chỉ có một
chế độ tập trung tuyệt đối và kỷ luật hết sức nghiêm minh, đó là một trong những điều kiện để chiến thắng,
thống nhất hành động, tự do thảo luận, phê bình đó là quy định của Đảng cộng sản. Tự do đó phải được đặt
trong khuôn khổ của giai cấp vô sản, nghĩa là phải đúng lúc đúng nơi.” Cùng với giữ vững sự lãnh đạo tập
trung, tăng cường kỷ luật của Đảng, Lênin nhấn mạnh: Mọi công việc trong Đảng phải do toàn thể đảng
viên, bình đẳng và không trừ một ai, trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu giải quyết; tất cả các cơ quan
lãnh đạo phải do tuyển cử lập ra, phải chịu trách nhiệm báo cáo trước đảng viên và có thể bị các đảng viên
bãi miễn; trong các tổ chức đảng phải thực hiện chế độ lãnh đạo tập thể - nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của
Đảng; phải phát huy dân chủ nêu cao tính chủ động sáng tạo của các địa phương trong việc tìm ra những
biện pháp, những phương tiện phù hợp với đặc điểm địa phương để đạt tới mục tiêu chung.
Hồ Chí Minh - người sáng lập, giáo dục, rèn luyện Đảng ta - đã vận dụng sáng tạo học thuyết của
Chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng Đảng của giai cấp công nhân vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Người quán triệt đầy đủ nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của LêNin và vận dụng vào việc tổ chức xây

hành Trung ương, ở mỗi cấp là Ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp ủy)
Ba là cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước
cấp uỷ cấp trên và cấp dưới, định lỳ thông báo tình hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực
thuộc, thực hiện tự phê bình và phê bình
Bốn là tổ chức Đảng và Đảng viên phải chấp hành Nghị quyết của Đảng . Thiểu số phục tùng đa số,
cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội
đại biểu toàn quốc và Ban chấp hành Trung ương
Năm là Nghị quyết của các cấp cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa
số thành viên trong cơ quan đó tán thành. trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của
mình. Đảng viên có y kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp trên cho đến Đại hội
đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh Nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với
Nghị quyết của Đảng . cấp uỷ có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó , không phân biệt đối xử với
Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số
Sáu là tổ chức Đảng quyết định các vấn đề thuộc về phạm vị quyền hạn của mình , song không được
trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và Nghị quyết của cấp trên
Qua 6 nội dung trên, tính tập trung trên cơ sở dân chủ trong Đảng được thể hiện ở tính tự giác của
toàn thể đảng viên. Tính tập trung trong Đảng đòi hỏi Đảng phải có cương lĩnh, đường lối, mục tiêu cách
mạng thống nhất, được mọi tổ chức Đảng và đảng viên tuân thủ và thực hiện, toàn dân hướng vào phấn
đấu. Đảng phải có điều lệ thống nhất - Điều lệ chính là bộ luật của toàn Đảng mà mọi tổ chức Đảng và đảng
viên phải chấp hành vô điều kiện cả về mặt nhận thức và chấp hành. Tập trung trong Đảng còn đòi hỏi
Đảng phải có một cơ quan lãnh đạo thống nhất, đó là đại hội đại biểu toàn quốc, giữa 2 kỳ đại hội là Ban
chấp hành TW do đại hội bầu ra. Về mặt tổ chức, Đảng phải thống nhất về quy mô và hình thức tổ chức của
Đảng. Đảng phải có kỷ luật thống nhất mà mọi tổ chức Đảng, đảng viên không phân biệt đều phải chấp
hành nghiêm túc kỷ luật của Đảng, không có những đặc quyền đặc lợi.
Tính dân chủ trong Đảng được thể hiện ở nội dung toàn thể Đảng viên đều bình đẳng về quyền và lợi
ích, đều được tham gia trực tiếp hoặc thông qua đại biểu để thực hiện quyền của mình, thể hiện ý kiến của
mình trong mọi công việc của Đảng, khi thảo luận thì phải thực sự dân chủ, nhưng khi hành động thì thống
nhất trăm người như một. Tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng và tất cả các cơ quan lãnh đạo
của Đảng đề do dân chủ bầu cử mà lập nên, đều có trách nhiệm thực hiện và báo cáo trước tổ chức đã bầu
ra mình và họ có thể bị bãi miễn bất kỳ lúc nào nếu không xứng đáng và không hoàn thành nhiệm vụ tổ

chủ chưa tốt trong một số đảng viên và tổ chức cơ sở đảng. Có lúc,có nơi một số cán bộ và cấp ủy còn vi
phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nặng nề về tập trung quan liêu, độc đoán thiếu dân chủ hoặc dân chủ
hình thức. Không ít nơi, tập thể chỉ là “bình phong” hợp thức hóa ý kiến người đứng đầu. Trong sinh hoạt
của nhiều cấp ủy và tổ chức Đảng chuẩn bị không chu đáo, thảo luận qua loa, Nghị quyết không cụ thể,
không tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động. Dân chủ không đi đôi với kỷ luật dẫn đến tình
trạng kỷ cương lỏng lẻo, nói và làm tùy tiện, chấp hành kỷ luật của Đảng, Nhà nước không nghiêm. Có nơi
lãnh đạo cấp trên có thiếu sót, sai lầm, cấp dưới thường ngại đấu tranh hoặc có đấu tranh cũng khó được
cấp trên tiếp thu sửa chữa nhưng cũng có nơi còn lợi dụng dân chủ để nói xấu, đả kích, làm mất uy tín, gây
nghi ngờ, chia rẽ nôi bộ… Ðại hội lần thứ IX của Ðảng đã nghiêm khắc nhận định: "Việc tổ chức thực hiện
nghị quyết, chủ trương, chính sách của Ðảng chưa tốt; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm. Tình trạng tùy tiện,
thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Ðảng, pháp
luật, chính sách của nhà nước, báo cáo không trung thực, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ làm cho
một số nghị quyết của Ðảng khó vào cuộc sống ” “Một số tổ chức Đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn;
dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết; chất lượng sinh hoạt Đảng giảm sút”.
Một số vụ án thời gian qua từ Tamexco, đến Năm Cam rồi Lã Thị Kim Oanh, Cảng Hàng không Miền Trung
v.v buộc chúng ta suy nghĩ, nhìn nhận lại công tác thực hiện tập trung dân chủ trong Đảng. Tại sao có
những cán bộ sa đọa, thoái hóa, tham nhũng từ nhiều năm mà tổ chức cơ sở đảng và lãnh đạo cấp trên
vẫn không biết, vẫn đề bạt lên các chức vụ quan trọng? Mỗi cán bộ bổ nhiệm, đề bạt, bầu cử đều qua cả
một hệ thống rà soát: Ban tổ chức, ủy ban kiểm tra, ban bảo vệ chính trị nội bộ, đảng ủy cơ quan, đảng ủy
khối mà sao vẫn sơ hở vậy? Đánh giá, phân loại đảng bộ đại đa số trong sạch, vững mạnh, đảng viên hầu
như 100% đủ tư cách, tại sao lại xảy ra tiêu cực, tham nhũng nghiêm trọng như thế?
Nguyên nhân của tình hình trên trước nhất là do chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức về
nguyên tắc tập trung dân chủ, không ít cán bộ hiểu tách rời hai mặt hoặc nhấn mạnh một chiều “tập trung”
hoặc “dân chủ”. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về nguyên tắc tập trung dân
chủ chưa được đặt ra đúng mức và thiếu những quyết định cụ thể phù hợp với từng lĩnh vực, từng ngành,
từng cấp, từng nơi. Tuy nhiên nguyên nhân sâu xa này là do một số cán bộ Đảng viên quen ỷ lại cấp trên,
quen chấp hành những hành động mang tính hình thức hoặc do chủ nghĩa cá nhân thực dụng, ít kỷ, vụ lợi
phát triển, trong khi đó công tác kiểm tra của chúng ta không thường xuyên nên đã ảnh hưởng không tốt
đến việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong Đảng….
Để khắc phục những tồn tại trên, chúng ta phải thực hiện đồng bộ các giải pháp như sau :

Để thực hiện được các giải pháp trên, trước hết cán bộ cấp trên, cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu,
các cơ quan kiểm tra giám sát phải tích cực hoạt động. Nhưng vấn đề cực kỳ quan trọng là phải có sự giám
sát thường xuyên của quần chúng, có sự đấu tranh của công luận. Tùy vấn đề và ở từng mức độ, phạm vi
thích hợp, phải thực hiện công khai các hoạt động của Đảng, của những người lãnh đạo các cấp. Đặc biệt
chú trọng công khai tài chính, công khai chế độ đãi ngộ, công khai các ý kiến khác nhau, công khai xử lý kỷ
luật, chấm dứt tình trạng giữ bí mật, “xử lý nội bộ” những trường hợp đã rõ là phạm pháp.
Thực tế cho thấy rằng thông thường trong công tác hoặc trong sinh hoạt đảng thường nảy sinh những
ý kiến khác nhau, tranh cãi thì có người cho rằng đó là dấu hiệu mất đoàn kết, không thống nhất nội bộ, vội
quy chụp khuyết điểm về lập trường quan điểm. Có người chủ toạ cuộc họp khi thấy những ý kiến khác
nhau thì tìm cách tránh né, dung hoà ý kiến, kết luận không dứt khoát để không mất lòng ai. Mặt khác, có
người khi thấy ý kiến của mình không được cấp trên chấp nhận, không được đa số đồng tình, mặc dù
không thông đã vội xin rút lui, không tranh luận đến cùng, không dám bảo lưu ý kiến, để khỏi va chạm với
cấp trên, với đa số. Hoặc một số người trong hội nghị không dám nói thẳng, nói hết suy nghĩ của mình
nhưng ra ngoài hội nghị lại bàn tán vô tổ chức, truyền bá ý kiến riêng của mình, gây mất đoàn kết nội bộ. Đó
là những thái độ không đúng với nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng nhưng lại khá phổ biến
ở một số nơi. Để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong đảng, người đứng đầu tổ chức đảng giữ
vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề này. Người lãnh đạo hiểu rõ ý nghĩa của dân chủ, tầm quan trọng
của việc thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ chủ động, tích cực tìm ra và tổ chức thực hiện tốt
nguyên tắc này, tạo lập trong cấp ủy và tổ chức đảng bầu không khí dân chủ, lành mạnh, mọi người mạnh
dạn nói thẳng, nói đúng, nói hết suy nghĩ của mình, chăm lo giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí cả khi thuận lợi,
thành công lẫn lúc gặp khó khăn, thất bại. Mặt khác, rèn luyện, đề cao tính trung thực, bản lĩnh và năng lực
chính trị, chuyên môn của đảng viên là rất quan trọng bởi vì chỉ có đạo đức trong sáng, trí tuệ sâu sắc và
tinh thần dũng cảm mới có thể thực hiện đúng và phát huy tốt tác dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong
sinh hoạt đảng.
Tóm lại, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Ðảng không những là vấn đề cốt tử, sống
còn của Ðảng mà còn là nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo bền vững của Ðảng đối với Nhà nước và xã
hội. Ý thức đầy đủ, sâu sắc điều này là điều kiện đầu tiên để toàn Ðảng tích cực nghiên cứu lý luận,
tổng kết thực tiễn, tìm tòi những hình thức, biện pháp thích hợp hơn để mở rộng dân chủ và thực
hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Ðảng. Chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, với trí tuệ
và bản lĩnh chung của toàn Ðảng, với sự ủng hộ của nhân dân, các đảng cộng sản cầm quyền sẽ

diễn ra mà lại không có một thời kỳ mò mẫn thử nghiệm, do dự, ngả nghiêng trong việc lựa chọn những
phương pháp mới đáp ứng tình hình thế giới khách quan mới”. (Lênin toàn tập, NXB sự thật, Tập 36, Trang
259). Tình hình đó đòi hỏi trong suốt quá trình lãnh đạo, bên cạnh việc học tập kinh nghiệm xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở các nước XHCN đi trước, Đảng cầm quyền phải luôn tổng kết thực tiễn, đúc kết phát triển
thành lý luận, để dựa vào đó xây dựng đường lối, chính sách lãnh đạo phù hợp, giải đáp đúng những vấn
đề do thực tiễn đặt ra với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, giảm đến mức thấp nhất những sai lầm, vấp
váp.
Hai là Đảng lãnh đạo trong điều kiện có nhà nước XHCN. Giành được chính quyền, Đảng cộng
sản phải thiết lập nhà nước XHCN nhằm lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiếp tục thực
hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. Đây là bước ngoặt lớn đưa vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng lên
tầm cao mới về thế và lực.
Đảng cầm quyền lãnh đạo xã hội, lãnh đạo nhân dân chủ yếu thông qua nhà nước và bằng nhà
nước. Vì vậy khái niệm đảng cầm quyền có nội hàm chủ yếu là đảng xây dựng và lãnh đạo chính
quyền, phát huy vai trò chính quyền để quản lý đất nước, quản lý kinh tế - xã hội theo Hiến pháp và
pháp luật. Đồng thời với việc lãnh đạo chính quyền, đảng cầm quyền phải xây dựng, lãnh đạo các tổ
chức khác trong hệ thống chính trị, phát huy vai trò Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, phối
hợp hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị hướng vào những mục tiêu chung.
Trong hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội nhà nước giữ vị trí trung tâm và có vai trò cực kỳ
quan trọng. Nhà nước chính là tổ chức tập trung nhất để thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân
dân, Nhà nước XHCN còn mang đặc điểm là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Hiệu lực quản lý của
nhà nước có liên quan rất lớn đến vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng.
Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng Đảng cầm quyền hoàn toàn không phải là "đảng trị". Đảng
không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, bộ máy cai trị dân. Đảng không đứng trên Nhà nước,
không đứng trên pháp luật mà Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Sự lãnh
đạo của Đảng thể hiện qua việc đề ra đường lối chiến lược, chính sách lớn đối với tất cả lĩnh vực
của đời sống kinh tế xã hội nhằm hướng đến mục tiêu chung là giữ vững độc lập dân tộc và xây
dựng thành công CNXH. Sự lãnh đạo của Đảng còn xác lập dựa trên việc xây dựng một bộ máy nhà
nước trong sạch, vững mạnh, thật sự của dân, do dân và vì dân. Đảng đề ra nguyên tắc, tư tưởng
chỉ đạo, xây dựng và tổ chức hoạt động của nhà nước. Đảng kiểm tra nhà nước và hệ thống chí trị
thông qua việc kiểm tra Đảng viên, những người đang giữ những nhiệm vụ chủ chốt tronng bộ máy

phương pháp, hình thức kết hợp giáo dục chính trị, tư tưởng với kích thích lợi ích kinh tế, kết hợp hài hoà
lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội, kết hợp giáo dục với hành chính và cưỡng bức, kết hợp chặt
chẽ công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác kinh tế. Đảng cầm quyền đặc biệt chú trọng đến
phương pháp lãnh đạo thông qua nhà nước, phát huy vai trò, hiệu lực của nhà nước trong lĩnh vực thể chế
hoá đướng lối chính sách của Đảng bằng các hình thức, biện pháp quản lí của nhà nước.
3. Đặc điểm lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đảng ta là kết quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước, đã thể hiện tính tất yếu về kinh tế và tính tất yếu về chính trị ngay từ khi ra đời. Nhìn
chung, trong hơn 70 năm qua, cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng về cơ bản phản ánh
được ý chí, nguyện vọng và những lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả
dân tộc, đả không ngừng đưa cách mạng Việt Nam đi theo những phương hướng gắn liền độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đó của cách mạng Việt Nam đã gắn bó Đảng ta với nhân dân
bằng cả chiều dài và cả chiều sâu lịch sử, không có lực lượng chính trị nào thay thế được. Nhân
dân ta tự giác thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng rõ ràng không phải là do sự áp đặt, mà xét đến cùng
là do tính tất yếu khách quan của cách mạng nước ta.
Đảng ta trở thành đảng cầm quyền từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nhưng đến 1975 với
thắng lợi trọn vẹn của cuộc kháng chiến chống Mỹ và nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới thì vấn đề
xây dựng Đảng cầm quyền đặt ra những yêu cầu bức xúc mới.
Đảng cộng sản cầm quyền ở nước ta ngoài những đặc điểm của một Đảng cộng sản cầm quyền,
còn có những đặc điểm riêng. Trước nhất, đó là Đảng duy nhất cầm quyền. Đảng có hệ thống chính trị-xã
hội, đặc biệt là nhà nước được xây dựng từ trung ương đến cơ sở, giúp Đảng thực hịên vai trò lãnh đạo
của mình. Có đội ngũ cán bộ Đảng viên đông đảo, nắm chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước. Các tổ
chức chính trị-xã hội và lực lượng nòng cốt giúp Đảng giữ lấy chính quyền, tuyên truyền trong quần chúng
nhân dân. Đảng là người chịu trách nhiệm về các mặt đời sống chính trị xã hội của quần chúng nhân dân,
sự phát triển của đất nước. Hai là Đảng có bề dày tri thức và kinh nghiệm trong lãnh đạo kháng chiến, xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Song do trong lãnh đạo xây dựng và quản lí đất nước còn nhiều mới mẻ. Lực lượng
của Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng (qua đấu tranh) nhưng có nhiều người không được đào tạo căn
bản, do đào tạo nhiều nguồn khác nhau nên có nhiều ý kiến khác nhau, chưa thống nhất cao dẫn đến nảy
sinh bệnh bảo thủ giáo điều… Ba là Đảng lãnh đạo xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội với nhiều khó
khăn phức tạp. Bốn là Đảng lãnh đạo nhà nước pháp quyền đang xây dựng và hoàn thiện, hệ thống pháp

năm sẻ bảy, không chỉ không thực hiện được hiện đại hoá, mà tất yếu sẽ sa vào vực sâu hỗn loạn"
Thực tế 75 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam cũng đã chứng tỏ rằng chỉ có sự lãnh đạo duy nhất
của Đảng cộng sản Việt Nam mới có thể đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi. Văn kiện Đại hội VIII đã
nêu rõ : “phải khẳng định sự lãnh đạo của đảng vì ở nước ta, không có sự lãnh đạo của Đảng thì không thể
có độc lập dân tộc, không có nhà nước của dân, do dân, vì dân. “ Nếu lúc bình thường vai trò lãnh đạo của
đảng là quan trọng thì ở những bước chuyển cách mạng vai trò đó lại càng quan trọng hơn. Những thắng
lợi và thành tựu, những thất bại và tổn thất của đất nước đều gắn liền với sự tồn vong của Đảng
Tuy nhiên, làm sao để Đảng có được năng lực cầm quyền, lãnh đạo hoàn thành sứ mệnh lịch sử
xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc? Làm sao để nhân dân, xã hội tự nguyện thừa
nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng? Làm thế nào để Đảng luôn xứng
đáng là đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc, mãi mãi không
thoái hoá biến chất?
Trước hết, phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Trách nhiệm của Đảng cầm quyền là
vạch ra được đường lối chính trị đúng đắn đưa cách mạng nước ta tiếp tục tiến lên mạnh mẽ, vững chắc.
Từ Đại hội VI đến nay, Đảng đã đề ra đường lối đổi mới đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã
hội, từng bước phát triển đi lên. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề mới đang đặt ra đòi hỏi phải được nghiên cứu
làm sáng tỏ hơn nữa về mô hình và con đường đi lên CNXH ở nước ta, về phát triển nền kinh tế thị trường
bảo đảm đúng định hướng XHCN, về kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, chấp
nhận phân hoá giàu nghèo ở mức độ hợp lý mà không phân cực quá lớn, phân hoá giai cấp dẫn đến chia
rẽ, xung đột xã hội v.v… Tất cả những điều đó đòi hỏi Đảng cầm quyền phải vững vàng về chính trị, tiêu
biểu về trí tuệ, nắm vững và biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu
được những tinh hoa tri thức tiên tiến của thời đại, đi sâu nghiên cứu tổng kết thực tiễn Việt Nam, vạch ra
đường lối, chủ trương, chính sách đúng và ngày càng được hoàn thiện. Điều quan trọng hàng đầu là không
để xảy ra sai lầm về đường lối dẫn đến nguy cơ tụt hậu và chệch hướng, kinh tế - xã hội không phát triển,
đời sống nhân dân không được cải thiện, nhân dân không ủng hộ Đảng thì vai trò của Đảng cầm quyền
không thể giữ vững.
Hai là để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng cần phải phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng
với nhiệm vụ tổ chức quản lý của nhà nước. Thời gian qua, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ
thống chính trị trước hết là với Nhà nước tuy đã có một bước đổi mới nhưng đòi hỏi phải tiếp tục nghiên
cứu sáng tỏ hơn nữa. Vừa phải nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng cầm quyền, vừa phát huy vai trò

khắc phục cho được tình trạng bộ máy quan liêu, nặng nề, cồng kềnh, trách nhiệm không rõ ràng, thủ tục
phiền hà, đội ngũ cán bộ, công chức nhiều người năng lực yếu, đạo đức kém, sách nhiễu, tham nhũng.
Đảng chăm lo lãnh đạo xây dựng Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đại diện cho ý chí nguyện vọng của
nhân dân, là cầu nối nhân dân với Đảng và Nhà nước. Sự vững mạnh của Đảng cầm quyền gắn bó chặt
chẽ với sự vững mạnh của toàn hệ thống chính trị mà Đảng là hạt nhân lãnh đạo.
Phải tổ chức và có cơ chế chính sách để nhân dân được tích cực tham gia xây dựng Đảng, tham gia
quản lý Nhà nước, được giám sát hoạt động và tư cách của cán bộ, đảng viên và các nhân viên công vụ.
Bầu cử các cơ quan quyền lực nhà nước một cách thật sự dân chủ, tạo điều kiện để cử tri thực hiện đầy đủ
quyền ứng cử, đề cử, bầu cử của mình. Nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, đồng thời thực hiện tích
cực từng bước dân chủ trực tiếp. Những việc này mới được bắt đầu và cần làm mạnh mẽ hơn, hiệu quả
hơn.
Năm là phải thực hiện thật tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, đảo bảo sự đoàn kết thống nhất trong
toàn đảng
Tóm lại, sự thắng lợi của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước những
năm qua cho thấy sự trưởng thành của Đảng cộng sản Việt Nam khi đã trở thành Đảng cầm quyền. Tuy
nhiên để giữ vững vai trò lãnh đạo ấy, Đảng còn phải tiếp tục tự đổi mới hoàn thiện để xứng đáng với sự
mong mỏi, niền tin của nhân dân và nhiệm vụ được trao cho.
Câu 4 : Đoàn kết thống nhất (liên hệ thực tiễn)
Bài làm
Sau 20 n m đ i m i n c ta, cùng v i s bi n đ i tích c c v kinh t là s bi n đ ng v k t c u giai t ng xã h i, chuy nă ổ ớ ở ướ ớ ự ế ổ ự ề ế ự ế ộ ề ế ấ ầ ộ ể
d ch trong m i giai t ng xã h i và vì v y trong ng c ng s n Vi t Nam c ng có s phân hóa nh t đ nh. ng tr c s bi n đ ngị ỗ ầ ộ ậ Đả ộ ả ệ ũ ự ấ ị Đứ ướ ự ế ộ
đó, vi c t ng c ng kh i đoàn k t th ng nh t trong đ ng là h t s c quan tr ng b i l s c m nh đoàn k t th ng nh t c a đ ng đangệ ă ườ ố ế ố ấ ả ế ứ ọ ở ẽ ứ ạ ế ố ấ ủ ả
đ ng tr c nh ng thách th c m i. ứ ướ ữ ứ ớ
1. Tại sao đoàn kết thống nhất là quy luật trưởng thành của Đảng
Khi đặt tiền đề lý luận cho việc thành lập Đảng cộng sản, C. Mác và Ph. Ăngghen đã khẳng định sự
đoàn kết luôn là sức mạnh của tổ chức. Tháng 10-1864, trong Điều lệ tạm thời của Hội liên hiệp công
nhân quốc tế, hai ông khẳng định “sự thành công của phong trào công nhân trong mỗi nước chỉ có thể được
bảo đảm bằng sức mạnh của sự thống nhất và sự tổ chức” .
Kế thừa tư tưởng đó, Lênin đã xác định vấn đề đoàn kết, thống nhất như một trong những nguyên tắc
quan trọng trong xây dựng đảng kiểu mới. Ông cho rằng : “Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bắt nguồn từ

ng x y ra tình tr ng chia r , bè phái. Ð c bi t g n 20 n m th c hi n công cu c đ i m i, tinh th n đoàn k t, th ng nh t, h n lúcĐả ả ạ ẽ ặ ệ ầ ă ự ệ ộ ổ ớ ầ ế ố ấ ơ
nào h t luôn đ c Ð ng ta đ t lên hàng đ u. T ng c ng đoàn k t nh t trí v chính tr , t t ng và t ch c trên c s h t t ng Mác -ế ượ ả ặ ầ ă ườ ế ấ ề ị ư ưở ổ ứ ơ ở ệ ư ưở
Lênin, đ ng l i quan đi m và nguyên t c t ch c c a Ð ng là v n đ s ng còn c a cách m ngườ ố ể ắ ổ ứ ủ ả ấ ề ố ủ ạ
2. Cơ sở để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng
Để làm tốt việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trước hết cần phải hiểu nội dung của
sự đoàn kết thống nhất ấy. Theo Lênin, đoàn kết có nghĩa là cùng bàn bạc thảo luận một cách dân chủ các
vấn đề lãnh đạo, sinh hoạt của Đảng. Nghị quyết đúng đắn phải được đa số thông qua và chấp hành một
cách triệt để. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết là trong Đảng không có tình trạng “trống đánh xuôi, kèn
thổi ngược”, Đảng tuy nhiều người nhưng ý chỉ chỉ là một. Trong Đảng không phân chia thành những bộ
phận không muốn cùng nhau hợp tác, không có tình trạng bằng mặt mà không bằng lòng. Trong Đảng
không có mần móng để nảy sinh một tổ chức mới, không có những tập đoàn, cương lĩnh kế hoạch hành
động riêng. Đoàn kết là phải giải quyết tốt các mối quan hệ giữa đảng viên với đảng viên, đảng viên với tổ
chức Đảng, tổ chức Đảng cấp dưới với tổ chức Đảng cấp trên, các tổ chức Đảng với toàn Đảng, các tổ
chức Đảng với các tổ chức Đảng, tổ chức Đảng với hệ thống chính trị, Đảng với nhân dân, Đảng với vấn đề
quan hệ quốc tế. Phải xác định mối quan hệ cụ thể và bằng quy chế làm việc.
Sự đoàn kết, thống nhất trong Ðảng dựa trên cơ sở đấu tranh bảo vệ những nguyên tắc của
Ðảng, chứ không là một sự thỏa hiệp vô nguyên tắc. Ðảng chỉ có thể bảo đảm sự đoàn kết, thống
nhất thật sự trên cơ sở đấu tranh kiên quyết loại bỏ phần tử cơ hội chủ nghĩa, núp dưới chủ nghĩa
xã hội để chống lại chủ nghĩa xã hội; lợi dụng đổi mới của Ðảng để đưa đất nước đi chệch hướng
xã hội chủ nghĩa Ðoàn kết không có nghĩa là xuôi chiều mà phải thông qua trao đổi, thảo luận sẽ đi
đến nhất trí cao hơn
Từ thực tiễn vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Mác – Lênin vào cách mạng Việt Nam, Đảng
ta đã tổng kết cơ sở để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong đảng bao gồm các vấn đề chủ yếu
như sau :
Một là xây dưng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng. Đây là vấn đề có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu. Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cung cấp thế giới quan và phương
pháp luận khoa học để xem xét đánh giá đúng đắn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và phản ánh lập
trường lợi ích của giai cấp công nhân của Đảng. Xa rời nó thì sẽ mất phương hướng và xa rời mục tiêu
đoàn kết của Đảng, dễ rơi vào đoàn kết theo kiểu phường hội, cục bộ địa phương chủ nghĩa. Quán triệt bài

khiêm tốn, biết thông cảm và hết lòng giúp đở nhau vì nhiệm vụ chung
Bốn là thường xuyên và nghiêm túc tự phê bình và phê bình là một phương pháp căn bản để tăng
cường đoàn kết thống nhất trong Đảng. Lê nin coi tự phê bình và phê bình là một trong những tiêu chí
quan trọng để xem xét Đảng. Tự phê bình và phê bình vừa là quy luật phát triển, xây dựng củng cố
khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, vừa là phương pháp có hiệu quả để giáo dục, rèn luyện cán bộ
Đảng viên. Do đó, cần phải có phương pháp, thái độ đúng đắn khi thực hiện tự phê bình và phê
bình. Chỉ có Đảng Mác xít chân chính mới có thái độ đúng đắn với sai lầm của mình. Đối với một
đảng “cứ giữ mãi sai lầm, đi sâu thêm để bào chữa cho nó, “đưa nó đến chỗ tột cùng” thì từ một sai
lầm nhỏ người ta luôn luôn có thể làm cho nó thành một sai lầm lớn ghê gớm”. Tất cả đảng viên
được thật sự tự do phê bình, nhưng phải tuân thủ phương châm giữ gìn sự đoàn kết thống nhất
trong đảng
Năm là xây dựng và bảo vệ hạt nhân lãnh đạo thật sự là trung tâm cho khối đoàn kết thống
nhất của Đảng. Chính vì vậy, Lênin đã khẳng định: “không có một trung tâm lãnh đạo thống nhất, không có
một cơ quan trung ương thống nhất thì không có thống nhất thật sự trong Đảng” (Lênin Toàn Tập, Tập 11,
NXB Tiến Bộ, 1979, Trang 210)
3. Hiện nay xây dựng khối đoàn kết thống nhất cần giải quyết những vấn đề gì ?
Trong V n ki n đ i h i IV, ng ta có t ng k t ch ra : ă ệ ạ ộ Đả ổ ế ỉ oàn k t là m t truy n th ng quý báu c a ng ta, s oàn k t yđ ế ộ ề ố ủ Đả ự đ ế ấ
c th thách và tôi luy n trong quá trình chi n u lâu dài, lúc thu n l i c ng nh lúc khó kh n, lúc cách m ng phát tri n bình th ngđượ ử ệ ế đấ ậ ợ ũ ư ă ạ ể ườ
c ng nh trong b c ngo c l ch sũ ư ướ ặ ị ử. Trong báo cáo đ i h i V, ng ta v ch rõ quan đi m là ạ ộ Đả ạ ể ng ta c ng có truy n th ng oàn k tĐả ũ ề ố đ ế
nh t trí v ng l i, s oàn k t th ng nh t c a ng c th hi n rõ trong BCH Trung ngấ ề đườ ố ựđ ế ố ấ ủ Đả đượ ể ệ ươ . Báo cáo Trung ng VI l n 2,ươ ầ
ng ta ti p t c kh ng đ nh: Đả ế ụ ẳ ị tr c tình hình bi n ng chính tr trên toàn th gi i và trong n c có nhi u di n bi n ph c t pướ ế độ ị ế ớ ướ ề ễ ế ứ ạ
nh ng ng ta v n ti p t c phát huy c truy n th ng cách m ng, có b n l nh chính tr và kiên nh v i m c tiêu lý t ng, nguyênư Đả ẫ ế ụ đượ ề ố ạ ả ĩ ị đị ớ ụ ưở
t c t ch c và nêu cao c tinh th n d c l p t chắ ổ ứ đượ ầ ộ ậ ự ủ.
Tuy nhiên, thời gian qua trong Đảng cũng đã có một số biểu hiện mất đoàn kết. Tuy mang tính cục bộ
và tạm thời nhưng những biểu hiện đó cũng phần nào làm giảm sút sức mạnh của Đảng. Đã có sự chưa
nhất trí cao một số vấn đề cơ bản cũng như một số vấn đề liên quan đến quan điểm qường lối, chủ trương,
chính sách lớn của Đảng. Một số nơi, nội bộ trong Đảng mất đoàn kết khá nghiêm trọng, chủ yếu do kèn
cựa địa vị, tranh giành chức quyền, lơi lộc, nhất à ở cán bộ chủ chốt. Có nơi vì mâu thuẫn cá nhân mà tập
hơp lực lượng, hình thành bè cánh trong Đảng và trong nhân dân để chống đối nhau, gây mất đoàn kết và
mất ổn định xã hội, giảm uy tín lãnh đạo. Có tình rạng khá phổ biến là trong hội nghị thì nhất trí nhưng ra

cơ hội, bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong đảng đã trở thành vấn đề có tính nguyên tắc trong
xây dựng Đảng.
Hai là trong Đảng có sự khác nhau về ý kiến, về chủ trương, biện pháp … là điều bình thường,
nhất là trước những bước ngoặc của lịch sử.Đảng phải biết chờ đợi, bình tĩnh, dân chủ để giải quyết
những ý kiên khác nhau trong đó, không được để phát triển thành những bất đồng, xung đột cá
nhân
Ba là phải xóa bỏ tình trạng đặc quyền, đặc lợi về điều kiện sinh hoạt và các chế độ đãi ngộ
trong Đảng. Bất bình đẳng về lợi ích kinh tế không thể tạo nên sự thống nhất về tư tưởng cũng như hành
động.
Bốn là Đảng phải quan tâm xây dựng đường lối, chính sách đúng, có cơ chế tổ chức hợp lý, quy chế
làm việc rõ ràng, phong cách dân chủ, kiên quyết chống bệnh quan liêu, gia trưởng. Kinh nghiệm cho
thấy, ở đâu thiếu những điều kiện đó thì ở đó thiếu sự thống nhất về tư tưởng và tổ chức. Đường lối
đúng là cơ sở cho sự đoàn kết. Ngược lại, đường lối sai là nguồn gốc của sự phân tán, chia rẽ. Cơ
chế đ1ng đảm bảo cho bộ máy vận động thống nhất, ngược lại lại cơ chế sai tạo ra sự bao biện và
cả kẽ hở làm cho hành động không thống nhất. Chủ nghĩa quan liêu, gia trưởng, mất dân chủ không
thể tạo được bầu không khí cởi mở, thân ái trong tấp thể
Năm là Đảng cần có những biện pháp đặc biệt kiên quyết xử lý nghiêm minh kịp thời phát hiện
những việc mất đoàn kết. Từng đảng bộ chủ động ngăn chặn tình trạng mất đoàn kết, thiếu thống
nhất trong tập thể lãnh đạo. Những cấp uỷ, tổ chức đảng nào vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ,
cán bộ lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, kéo bè, kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ thì cấp uỷ cấp
trên chỉ đạo kiểm điểm làm rõ đúng sai, kiện toàn tổ chức cán bộ, xử lý nghiêm những người có
khuyết điểm để sớm ổn định tình hình; nơi không có khả năng khắc phục thì phải giải tán về tổ
chức, lập tổ chức mới theo quy định của Điều lệ Đảng. Bố trí người đứng đầu phù hợp; thực hiện
tốt nguyên tắc tập trung dân chủ; có quy chế công tác rõ ràng chặt chẽ, nhất là công tác cán bộ;
thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống kèn cựa địa vị, cơ hội, cục bộ, bè phái… bồi
dưỡng tình thương yêu tôn trọng đồng chí, giúp đỡ lẫn nhau; phát hiện sớm hiện tượng mất đoàn
kết, giải quyết và xử lí dứt điểm
Tóm l i,ạ xây d ng kh i đoàn k t th ng nh t v ng ch c là quy lu t tr ng thành c a m t ng c ng s n chân chính. i h iự ố ế ố ấ ữ ắ ậ ưở ủ ộ Đả ộ ả Đạ ộ
đ i bi u toàn qu c l n th IX cho r ng: Th c hi n đ i đoàn k t là k th a truy n th ng quý báu c a dân t c, là đ ng l i chi n l c, làạ ể ố ầ ứ ằ ự ệ ạ ế ế ừ ề ố ủ ộ ườ ố ế ượ
ngu n s c m nh và đ ng l c to l n đ xây d ng và b o v t qu c. nh ng b c ngo t c a cách m ng, trong nh ng lúc khó kh n,ồ ứ ạ ộ ự ớ ể ự ả ệ ổ ố Ở ữ ướ ặ ủ ạ ữ ă

lên, lập Đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc Đảng ủy. Những trường hợp lập Đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ
sở chưa đủ 30 đảng viên, lập chi bộ trực thuộc Đảng ủy, cơ sở có hơn 30 đảng viên lập Đảng ủy bộ phận trực
thuộc Đảng ủy cơ sở, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được cấp ủy cấp trên đồng ý mới thực hiện.
Theo quy định trên, khái niệm tổ chức cơ sở Đảng được gọi chung cho cả Đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở
tuỳ thuộc vào số lượng đảng viên và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị cơ sở.
2. Phân tích nội dung vị trí quan trọng, chức năng của tổ chức cơ sở Đảng ?
Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng tổ chức cơ sở Đảng. Dù ở
bất kỳ giai đoạn cách mạng nào, Đảng ta luôn khẳng định tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân
chính trị ở đơn vị cơ sở “mỗi chi bộ của Đảng, phải là hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ,
liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” (Hồ Chí Minh Toàn
Tập, Tập 11, NXB CTQG, HN 2000, Trang 23).
Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng được khái quát ở những nội dung sau:
Tổ chức cơ sở Đảng là nơi nối liền các cơ quan lãnh đạo cấp trên của quần chúng, là chiếc cầu, là bản lề
gắn bó Đảng với dân. Mọi tậm tư, nguyện vọng chính đáng cùa dân vì thế được phản ánh kịp thời lên tổ chức
Đảng cấp trên thông qua chi bộ cơ sở, Đảng bộ cơ sở. Tổ chức cơ sở Đảng là nơi thể hiện toàn diện, trực tiếp và
cụ thể nhất mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với Dân; là nơi nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ
của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ
Tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng, khơi
dậy trí tuệ và nguồn lực của dân, sở và tổ chức cho quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính
sách đó. .
Tổ chức cơ sở Đảng còn là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc đảng viên; nơi đào tạo cán
bộ cho Đảng; nơi xuất phát để cử ra cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng; là cửa ngõ quan trọng bảo đảm tính
tiên phong, tính trong sạch của Đảng ta.
Trong điều kiện đất nước hòa bình thống nhất cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn coi các tổ chức
cơ sở Đảng là các tổ chức nền tảng, là những đơn vị chiến đấu cơ bản những tế bào của Đảng, chất lượng các
Đảng bộ cơ sở là yếu tố tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng, đến uy tín của Đảng
trước quần chúng nhân dân. Từ những bài học thành công và chưa thành công của tổ chức cơ sở Đảng, Đảng ta
đã nhận định: “những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng đã khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt
nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức cơ sở Đảng, nhưng mặt khác, sự
yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở Đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng”. Sự nhận định đó càng làm

trong sạch vững mạnh nhưng việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở cơ sở đạt hiệu quả thấp. Báo cáo tổng kết công
tác kiểm tra năm 2004 nêu rõ: Ủy ban kiểm tra các cấp đã xác định nhiệm vụ trọng tâm 3.494 tổ chức đảng cấp
dưới có dấu hiệu vi phạm, trong đó 9 ban cán sự đảng, đảng đoàn cấp tỉnh; 30 Ban thường vụ cấp huyện; 700
Ban chấp hành, Ban thường vụ đảng ủy cơ sở; 2.755 chi bộ, chi ủy. Qua kiểm tra, kết luận 1.990 tổ chức đảng có
vi phạm, chiếm 56,9% so với tổ chức đảng được kiểm tra, trong đó thi hành kỷ luật 266 tổ chức đảng
Tình hình mất ổn định ở nông thôn Thái Bình xảy ra trong những năm 1997-1999 xuất phát từ những yếu kém
của tổ chức cơ sở đảng tại nơi đây, một bộ phận cán bộ từ tỉnh đến cơ sở tham nhũng, tiêu cực, làm giàu bất
chính, lề lối, tác phong làm việc quan liêu, cửa quyền, mất dân chủ nghiêm trọng. Nhiều nơi việc huy động sự
đóng góp của dân để xây dựng kết cấu hạ tầng lớn so với thu nhập của nhân dân, nhưng việc quản lý sử dụng lại
thiếu chặt chẽ, không được bàn bạc dân chủ, công khai với dân. Khi dân có ý kiến nhưng không được giải quyết
kịp thời, thoả đáng, thậm chí một số nơi, cán bộ còn thách đố dân hoặc cửa quyền, gây phiền hà, sách nhiễu với
dân ở Gia Lai, nhiều tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở yếu kém, quan liêu, không
sát cơ sở, không sát với dân, không nắm được tâm tư, nguyện vọng và những diễn biến tư tưởng của nhân dân;
chưa quan tâm giải quyết kịp thời những nguyện vọng chính đáng của đồng bào các dân tộc thiểu số nên bọn
phản động trong nước và các thế lực thù địch ở nước ngoài đã lợi dụng các vấn đề về dân tộc, tôn giáo, khoét sâu
vào những khuyết điểm, yếu kém của ta để tuyên truyền, đả kích Đảng và Nhà nước; chia rẽ đồng bào các dân
tộc thiểu số với đồng bào Kinh; kích động, lôi kéo đồng bào, hình thành hệ thống chấp sự ở các cấp mà thực chất
là tổ chức chính trị phản động nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Những sai phạm này đã
gây tổn thất, hậu quả nặng nề : tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, dao động; lòng tin của
nhân dân đối với Đảng giảm sút; nhiều tổ chức đảng và hàng nghìn cán bộ, đảng viên ở các cấp phải xử lý kỷ luật;
kinh tế của những nơi này bị trì trệ và tụt hậu so với các tỉnh xung quanh có cùng điều kiện.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do trong khi Đảng chuyển sang cơ chế mới, nhiều vấn đề mới
đặt ra nên trung ương chưa chỉ đạo, cơ sở lại thiếu tích cực năng động để giải quyết, tổ chức cơ sở Đảng gặp
nhiều lúng túng, Đảng ta chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở Đảng chưa kịp thời còn hữu khuynh một số mặt, hai là
thiếu ban hành chính sách đối với cán bộ cơ sở, nhất là chính sách đào tạo và đãi ngộ. ba là trong chỉ đạo còn
quan liêu, cấp trên xa cơ sở, cơ sở xa dân. Đại hội IX đã chỉ rõ: “những khuyết điểm nêu trên là do nhiều nguyên
nhân khách quan và chủ quan, trực tiếp và chủ yếu là do nhiều cấp ủy và tổ chức Đảng, kể cả Ban chấp hành
trung ương và Bộ chính tri, tuy đã có nhiều cố gắng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhưng chỉ đạo
chưa tập trung và thiếu kiên quyết; chủ trương, biện pháp thiếu đồng bộ; chưa chỉ đạo tất việc kết hợp tự phê bình
và phê bình với kiện toàn tổ chức, đổi mới cơ chế, chính sách, chỉnh đốn các khâu quản lí kinh tế, tài chính và

lượng, tiêu chuẩn và cơ cấu trong kiện toàn cấp uỷ, trong đó tiêu chuẩn phải đặt lên hàng đầu, không vì cơ cấu
thiếu mà hạ thấp tiêu chuẩn. Đảng ủy, chi ủy phải thực sự là những người có đủ phẩm chất chính trị, đủ kiến thức
và năng lực tổ chức thực hiện, có đạo đức lối sống cách mạng đáp ứng yêu cầu đổi mới. Riêng đối với đồng chí bí
thư cấp ủy, ngoài tiêu chuẩn chung của cấp ủy còn phải là người tiêu biểu nhất cho tập thể cấp ủy và Đảng bộ,
phải am hiểu công tác Đảng và công tác quần chúng, phải là người có uy tín, có khả năng phối hợp điều hành
hoạt động tập thể, là trung tâm đoàn kết của toàn Đảng bộ. Muốn đổi mới nâng cao chất lượng Đảng uỷ, phải bảo
đảm dân chủ thật sự của từng Đảng viên trong ứng cử, đề cử và trong bầu cử.
Chú trong đào tạo bồi dưỡng và bố trí cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị ở cơ sở vừa đáp ứng yêu cầu
nguồn cán bộ đảm đang nhiệm vụ chính trị địa phương, vừa bổ sung cho cấp trên những cán bộ đầy đủ phẩm
chất năng lực để bố trí vào những vị trí cao hơn.
Ba là phải củng cố và kiện toàn hệ thống tổ chức , nâng cao chất lượng Đảng viên và cải tiến chất
lượng sinh hoạt cấp ủy và sinh hoạt Đảng bộ, chi bộ : củng cố và kiện toàn chi bộ và tổ chức cơ sở Đảng phải
phù hợp với quyết định của trung ương và phải bảo đảm báo sát đặc điểm, nhiêm vụ của cơ sở. Trong sinh hoạt
đảng, phải bảo đảm các nguyên tắc tập trung dân chủ , tự phê bình và phê bình. Các cuộc sinh hoạt không nên
quá chú trọng vào các công việc của chính quyền mà tập trung vào những vấn đề trong yếu của cơ sở nhất là
thảo luận, bàn bạc kỹ các giải pháp để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, chi bộ.
Đội ngũ đảng viên là tế bào của tổ chức cơ sở Đảng “chi bộ tốt là do đảng viên tốt”, vì thế phải chăm lo xây
dựng đội ngũ đảng viên đông về số lượng, mạnh về chất lượng. Phải làm tốt việc phân công quản lý và kiểm tra
đảng viên chấp hành. Tạo điều kiện cho đảng viên được học tập nâng cao trình độ, cống hiến cho địa phương và
xử lý nghiêm minh, kịp thời những đảng viên vi phạn tư cách. Nghi quyết Trung ương 6 lần 2 quy định tổ chức cơ
sở Đảng nơi đảng viên công tác phải chủ động thường xuyên hoặc định kỳ liên hệ với cơ sở Đảng nơi đảng viên
cư trú để nắm rõ hoạt động sinh hoạt của đảng viên nơi ấy, qua đó góp phần ngăn ngừa vi phạm và thúc đẩy đảng
viên gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú.
Phải tổ chức tốt việc quần chúng tham gia xây dựng Đảng từ cơ sở. các tổ chức cơ sở Đảng phải có cơ chế
thích hợp để thực hiện phương châm “dân biết dân bàn, dân kiểm tra” tạo điều kiện cho dân tham gia đóng góp
vào các chương trình, kế họach công tác, đóng góp hoạt động của cấp ủy và đảng viên. Trước mắt các tổ chức cơ
sở Đảng phải quán triệt và thực hiện tốt chỉ thị 30/CTTW ngày 18.02.98 của Bộ chính trị về xây dựng và thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở
Bốn là phải đề cao tính trách nhiệm và tăng cường sự chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra của cấp trên, trước
hết là cấp trên trực tiếp.

Năm là, các cấp uỷ đảng phải quán triệt quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng
là nhiệm vụ then chốt. Kết hợp chặt chẽ giữa lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội với chăm lo xây dựng, củng cố tổ
chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ.
Tóm lại, lý luận và thực tiễn đã chứng minh, dù ở giai đoạn nào trên con đường phát triển của cách mạng
do Đảng lãnh đạo, với vị trí nền tảng của mình, các tổ chức cơ sở Đảng luôn có vai trò là hạt nhân lãnh đạo chính
trị, là người bảo đảm cho dường lối chính sách của Đảng được tổ chức thực hiện có kết quả ở đơn vị cơ sở.
Đứng trước vai trò của sự nghiệp cách mạng ở giai đoạn mới, nhất là khi các thế lực thù địch đang thực hiện âm
mưu diễn biến hòa bàinh tập trung mũi nhọn vào việc chống phá Đảng ta thì việc nâng cao sức chiến đấu và năng
lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng là một trong những vấn đề bức thiết đang đặt ra cho công tác xây dựng
Đảng hiện nay. Chỉ có trên cơ sở nắm vững lý luận và kinh nghiệm thực tiển với một trách nhiệm đầy đủ của cấp
ủy các cấp và của từng đảng viên mới xây dựng được tổ chức cơ sở Đảng ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng
hiện nay.
Câu 4: Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công (Hồ Chí Minh toàn tập – tập 11,
NXB CTQG 1996, trang 154)
Bài làm
ĐCS Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân Việt
Nam đấu tranh anh dũng, tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công và các
cuộc kháng chiến chống xâm lược của chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc và thống nhất đất nước, đưa cả nước chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng từng bước được tôi luyện, trưởng thành và
đã xây dựng nên những truyền thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp của Đảng. Một trong
những truyền thống đó là tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế vô sản. Chủ tịch Hồ Chí
Minh, vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của Đảng ta đã từng khẳng định “đoàn kết là sức mạnh, là then
chốt của thành công”.
Tổng kết và phát triển những quan điểm tư tưởng của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
đại đoàn kết toàn dân. Đại hội IX của Đảng ta xác định: “Đại đoàn kết toàn dân là đường lối chiến
5-85-8
lược nhất quán, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”. Trong bốn bài
học chủ yếu mà Đảng ra rút ra sau 15 đổi mới, có bài học về: Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì

của mất mình.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất, được Người khái quát:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công”.
Ch t ch H Chí Minh cho r ng oàn k t b t ngu n t nhi m vủ ị ồ ằ đ ế ắ ồ ừ ệ ụ
chính tr , oàn k t chính là then ch t c a thành công. Trong Di chúc ị đ ế ố ủ để
l i, Ng i vi t: “ oàn k t là truy n th ng c c k quý báu c a ng vàạ ườ ế Đ ế ề ố ự ỳ ủ Đả
dân ta. Các ng chí t TW n các chi b c n ph i gi gìn s oàn k tđồ ừ đế ộ ầ ả ữ ự đ ế
nh t trí c a ng nh gi gìn con ng i c a m t mình”. Sinh th i,ấ ủ Đả ư ữ ườ ủ ắ ờ
Ng i r t quan tâm ch m lo, b o v s th ng nh t c a phong tràoườ ấ ă ả ệ ự ố ấ ủ
c ng s n và công nhân qu c t trên n n t ng CN Mác-lênin và ch ngh aộ ả ố ế ề ả ủ ĩ
qu c t vô s n. ố ế ả
Tóm l i, đoàn k t th ng nh t là quy lu t tr ng thành c a ng, ng không th phát tri n v ng m nh n u nh trong ng x y ra tình tr ngạ ế ố ấ ậ ưở ủ Đả Đả ể ể ữ ạ ế ư ở Đả ả ạ
chia s , bè phái.ẽ
oàn k t th ng nh t trong ng, có ngha là cùng bàn b c th o lu n m t cách dân ch các v n đ v lãnh đ o, sinh ho t c a ng. Ngh quy t đúngĐ ế ố ấ Đả ĩ ạ ả ậ ộ ủ ấ ề ề ạ ạ ủ Đả ị ế
đ n ph i đ c đa s thông qua và ch p hành m t cách tri t đ . oàn k t là trong ng không có tình tr ng “tr ng đánh xuôi, kèn th i ng c”, không phânắ ả ượ ố ấ ộ ệ ể Đ ế Đả ạ ố ổ ượ
chia thành nh ng b ph n không mu n cùng nhau h p tác, không có m m m ng đ n y sinh m t t ch c m i; trong ng không có nh ng t p đoàn,ữ ộ ậ ố ợ ầ ố ể ả ộ ổ ứ ớ Đả ữ ậ
nh ng c ng lnh, nh ng k ho ch hành đ ng riêng. ữ ươ ĩ ữ ế ạ ộ
2/- Cơ sở của sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Mác, Ăngghen và Lênin, Đảng ta đã tổng kết
những bài học kinh nghiệm lớn về xây dựng và củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng như
sau:
Thứ nhất, sự đoàn kết thống nhất phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng. Đây là bài học quan trọng, vì chủ nghĩa
Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng. Lênin dạy chúng ta rằng,
trước khi thống nhất và để thống nhất phải phân biệt rõ ràng ranh giới về tư tưởng. Người nói:
nếu không có cái cơ sở tư tưởng chung thì không thể có vấn đề thống nhất. Đường lối, chính
sách của Đảng là định hướng, mục tiêu chung tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, và trong hành
động của toàn Đảng; xa rời nó thì sẽ mất phương hướng, mục tiêu chung, dễ rơi vào đoàn kết
theo kiểu phường hội, cục bộ địa phương chủ nghĩa.

BCH TW đến cơ sở. Hiện nay trước tình hình trên thế giới và trong nước có nhiều diễn biến
phức tạp nhưng Đảng vẫn phát huy truyền thống, kiên định mục tiêu lí tưởng, giữ vững nguyên
tắc tổ chức và nêu cao tinh thần độc lập, sáng tạo, đưa đất nước vượt qua khó khăn, thủ thách
nhằm xây dựng thành công CNXH.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả to lớn trên. Việc xây dựng đoàn kết thống nhất trong
Đảng vẫn còn một số tồn tại, khuyết điểm như:
+ Trong từng thời kỳ, bước ngoặc cách mạng nước ta có một số vấn đề cơ bản cũng như
một số vấn đề liên quan đến quan điển đường lối chủ trương chính sách lớn của Đảng chưa
được sự nhất trí cao của toàn Đảng, đây đó vẫn còn những ý kiến khác như về phát triển nền
kinh tế thị trường, về con đường đi lên CNXH ở nước ta trong thời kỳ Liên Xô và các nước
XHCN Đông Âu sụp đổ.
+ Một số nơi nội bộ Đảng mất đoàn kết khá nghiêm trọng, chủ yếu là tranh giành địa vị
chức vụ, lợi lộc nhất là cán bộ chủ chốt. Có nơi còn vì mâu thuẫn cá nhân mà tập hợp lực lượng
thành bè cánh ở trong Đảng và trong nhân dân để chống đối nhau, gây mất đoàn kết và mất ổn
định xã hội.
+ Còn có tình trạng khá phổ biến là trong hội nghị thì nhất trí nhưng ra ngoài thì nói khác
hoặc không thực hiện, nói một đằng làm một nẻo. Đương chức thì nói kiểu này nhưng khi chuyển
công tác hoặc nghỉ hưu thì moi móc.
Những tồn tại, khuyết điểm trên đây chủ yếu do các nguyên nhân: Chưa thấm nhuần và
quán triệt các tư tưởng, quản điểm chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; Tư tưởng cá
nhân chủ nghĩa, cục bộ địa phương, phe cánh, tranh giành chức vụ; Không tôn trọng nguyên tắc
tập trung dân chủ, không thực hiện tốt tự phê bình và phê bình trong Đảng; Còn tư tưởng gia
trưởng, độc đoán, chuyên quyền, tranh công, đổ tội. Mà nguyên nhân sân xa là xuất phát từ lợi
ích cá nhân; trong đó nổi bật nhất là lợi ích kinh tế, sự chưa dung hòa được các lợi ích cá nhân
với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội của từng cán bộ, đảng viên trong Đảng. Đây chính là mấu chốt
của vấn đề cần được giải quyết thấu đáng.
3/- Một số giải pháp củng cố, nâng cao khối đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay, Đảng ta càng nhận thức rõ giữ gìn và củng cố
khối đại đoàn kết thống nhất vững chắc trong Đảng là vấn đề cực kỳ quan trọng. Để củng cố,
tăng cường đoàn kết trong Đảng cần phải chú ý giải quyết tốt những vấn đề sau đây:

to lớn để xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Văn kiện Đại hội IX của Đảng ghi rõ: “Thực hiện đại đồn
kết dân tộc, tơn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của
đất nước, người trong Đảng và người ngồi Đảng, người đang cơng tác và người đã nghỉ hưu,
mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống ở trong nước hay ở nước ngồi.
Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống u nước, ý chí tự lực, tự cường và
lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh,
xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng; tơn trọng những ý kiến khác nhau
khơng trái với lợi ích chung của dân tộc, xố bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về q
khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng đến tương lai…
xây dựng khối đại đồn kết tồn dân gắn với hiệu qủa phát huy dân chủ trong xã hội dưới sự
lãnh đạo của Đảng” (VKĐH IX, NXB CTQG, HN 2001, Trang 45)
Tóm lại: Xây dựng khối đồn kết thống nhất vững chắc là quy luật trưởng thành của một
Đảng cộng sản chân chính. Đồn kết là tuyền thống q báu của Đảng và nhân dân ta, là di sản
vơ giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại, là nguồn gốc sức mạnh tất thắng của cách mạng Việt
Nam. Việc giữ gìn và phát huy truyền thống đó là tránh nhiệm của tồn Đảng, mà trước hết là
của các cơ quan tập lãnh đạo từ TW xuống các cơ sở. Tồn Đảng phải thực hiện nghiêm chỉnh
lời căn dạn của CT. HCM trong Di chúc “cần phải giữ gìn sự đồn kết nhất trí của Đảng như giữ
gìn con ngươi của mắt mình”. Thực tiễn của Đảng ta trong những năm gần đây và ngun nhân
của sự đổ vỡ của các ĐCS Đơng Âu và Liên Xơ trước đây cho thấy cần phải giữ gìn sự đồn kết
thống nhất trong Đảng. Cần ý thức sâu sắc lời dạy của Chủ tịch HCM rằng, đồn kết thì sống,
chia rẽ thì chết./.
Từ bài học thành cơng và chưa thành cơng trong thực tiễn xây dựng TCCS đảng, Đại hội VII của
Đảng đã khẳng định: ”Những thành tựu đã đạt được, những tiềm năng được khai thác, những kinh nghiệm
có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở mà hạt nhân là tổ chức đảng. Nhưng
mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở đảng đã hạn chế những thành tựu của cách mạng”. Bởi vậy,
củng cố, nâng cao chất lượng TCCS đảng là nhiệm vụ thường xun có ý nghĩa cực kỳ quan trong cơng tác
xây dựng Đảng.
Nghị quyết hội nghị BCH TW lần 5, khố VI đã nêu: “trong điều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế
quản lí mới, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của các đơn vị kinh tế cơ sở, mở rộng dân chủ XHCN, các
TCCS Đảng phải thực sự làm hạt nhân lãnh đạo chính trị trong các tập thể lao động”.

khơng phải như vậy. Nếu khơng nắm vững quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng thì khơng thể xác
định được đầy đủ nội hàm của khái niệm "dân" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định. Và, sẽ khơng thể
nào xây dựng được khối đại đồn kết tồn dân.
Với nội hàm của khái niệm "dân" như vậy thì rõ ràng dân phải là gốc của nước; dân có sức mạnh to lớn
và năng lực sáng tạo vơ tận. Quần chúng sáng tạo ra lịch sử và thúc đẩy lịch sử khơng ngừng phát triển.
Chân lý đó đã được V.I Lênin chỉ ra rất sớm và rất đầy đủ. Người khẳng định: "Chỉ có tin vào nhân dân,
hòa mình vào nguồn sáng tạo vơ tận của nhân dân thì chúng ta mới chiến thắng và giữ được chính
quyền". Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh thì nói rất mộc mạc rằng: "Trong bầu trời khơng có gì q bằng nhân
dân; trong thế giới khơng gì mạnh bằng lực lượng của nhân dân". Người còn vạch rõ: "Làm việc gì cũng
phải có dân; khơng có dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng khơng xong; có dân thì việc khó mấy, to
mấy cũng làm được". Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quần chúng có sức mạnh to lớn và năng
lực sáng tạo phi thường. Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ sức mạnh to lớn và năng lực sáng tạo
đã chỉ được phát huy khi có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính. Trách nhiệm lãnh đạo của
Đảng ta là khơi dậy, tổ chức và phát huy được sức mạnh to lớn đó của nhân dân.
Cùng với việc xác định dân là gốc của nước, phải xác định dân là chủ. Dân là chủ tức là dân phải được làm chủ
một cách tồn diện: làm chủ bản thân, làm chủ Nhà nước, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội. Đây là vấn đề khác
nhau hết sức cơ bản giữa chế độ ta và các chế độ phong kiến, tư bản. Trong chế độ phong kiến, dân chỉ là nơ dân, thứ
dân, thần dân. Còn trong chế độ tư bản dân chỉ là cơng dân bình thường chứ khơng phải là người chủ thực sự. Trong
chế độ ta, Bác Hồ chỉ rõ: " Bao nhiêu lợi ích đều vì dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân; chính quyền từ xã đến
Chính phủ Trung ương do dân cử ra; đồn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và
lực lượng đều ở nơi dân Chỉ khi nào xác định được một cách rõ ràng và dứt khốt như thế cơng tác vận động quần
chúng và thực thi dân chủ mới thật sự mang lại hiệu quả.
Đảng ta luôn khẳng đònh và quán triệt nghiêm túc quan điểm chủ nghóa Mác-Lênin và tư tưởng
Hồ Hồ chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân trong tiến trình cách mạng VN đặc biệt trong quá
trình đổi mới để động viên mọi tiềm năng sáng tạo, phát huy vai trò làm chủ nhằm đẩy mạnh sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh. Tư
tưởng xuyên suốt “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì vậy ở thời kỳ nào công tác vận
đông và tổ chức quần chúng làm cách mạng cũng có ý nghóa chiến lược” luôn được phát triển ở
tầm cao mới qua các kỳ đại hội Đảng. Đặc biệt Nghò quyết TW 8b (khoá VI) Đảng đã cụ thể hoá
bằng các quan điểm chỉ đạo công tác quần chúng của đảng.

ngun nhân chủ yếu: Nhận thức về đấu tranh giai cấp, vai trò của quần chúng và cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng
trong giai đoạn cách mạng hiện nay của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa đầy đủ, thiếu sâu sắc. Nhiều người cho
rằng, hiện nay lực lượng của ta mạnh, lại trong thời bình nên khơng cần phải bám đất, bám dân như trước. Sự phân
cơng, phân cấp trong hệ thống chính trị trong việc nắm cơ sở, tun truyền, vận động quần chúng chưa rõ ràng; chưa có
chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ làm cơng tác vận động quần chúng. Ban dân vậ chưa ngang tầm, cán bộ, đảng
viên làm cơng tác vận động quần chúng chưa có thẩm quyền giải quyết tại chỗ những vấn đề quần chúng kiến nghị,
việc phản ánh lên cấp trên thường chậm hoặc khơng được giải quyết, dẫn tới giảm uy tín, sinh ra ngại tiếp xúc với dân.
Cán bộ có thẩm quyền giải quyết vì nhiều lý do khác nhau nên rất ít tiếp xúc với dân, chỉ nghe cán bộ đi cơ sở về báo
cáo và cho ý kiến chỉ đạo. Ngày nay, hầu hết cán bộ huyện, tỉnh sinh sống ở thị xã, thành phố, trong khi ở cơ sở sinh
hoạt còn khó khăn thiếu thốn, nên đội ngũ này tới cơ sở thường nghe cán bộ xã phản ảnh rồi cho ý kiến chỉ đạo; khơng
biết được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Nhưng trầm trọng và đáng ngại hơn là sự tập trung quan liêu. Càng tập
trung theo kiểu quan liêu thì dễ dẫn đến độc quyền, độc đốn, khơng cách xa nhau bao nhiêu với độc tài và chun
quyền của một số cá nhân đứng trên Đảng. Khi đã tập trung quan liêu và thiếu dân chủ trong Đảng thì mối quan hệ máu
thịt giữa Đảng với Dân cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Cần mạnh dạn nhìn thẳng vào hiện tình về sinh hoạt dân chủ trong
Đảng, về cơng tác tư tưởng và cơng tác tổ chức của Đảng để chỉ ra cho được những yếu kém nhằm mạnh dạn và kiên
quyết khắc phục.
Để khắc phục tình trạng trên, đặc biệt khi chúng ta thực thi nền kinh tế thị trường, định hướng XHCN và hội nhập
kinh tế quốc tế thì chúng ta có cả thời cơ lớn, cả thách thức lớn thì điều kiện tiên quyết là biết khởi động sức mạnh tiềm
tàng trong tồn Đảng và trong nhân dân. Qua bài học kinh nghiệm từ sự nghiệp đổi mới, kinh tế thị trường là vận hội
lớn nếu ta hiểu đúng và có chủ trương đúng. Chúng ta có khả năng phát huy đến mức cao nhất thế mạnh của thị trường,
đồng thời cũng có khả năng hạn chế ở mức thấp nhất những khuyết tật của thị trường cùng những hiểm họa của một thị
trường hoang dã. Vấn đề là ta biết mạnh dạn đổi mới tư duy để nhận thức đúng, kịp thời bối cảnh mới mà đất nước ta
đang phải đương đầu. Tỉnh táo và có bản lĩnh tạo mọi điều kiện cho sự bừng nở lành mạnh và rộng khắp các hoạt động
của thị trường nhằm chuyển đổi diện mạo kinh tế của nước ta, tạo nên một sức bật mạnh cho tăng trưởng nhanh và bền
vững. Đồng thời biết khắc phục, ngăn chặn những khuyết tật của kinh tế thị trường, cũng như xu hướng chụp giật, bn
lậu, tìm cách kht sâu những sơ hở và hạn chế của luật pháp chưa đồng bộ, sự quản lý còn có nhiều chỗ bất cập để rút
ruột Nhà nước, làm nguy hại đến đời sống của dân, đẩy người lao động vào những cảnh ngộ thương tâm, vi phạm nặng
nề Luật Lao động.
Như thế có nghĩa là phải sát Dân, dựa vào Dân, phát huy hết sức Dân thì Đảng và Nhà nước mới có thể khai thác
được vận hội mà kinh tế thị trường đem lại. Có thể nói, trong những thách đố của giai đoạn cách mạng mới chưa có tiền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status