hoạt động tín dụng xuất khẩu tại chi nhánh ngân hàng phát triển lâm đồng - Pdf 18

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN VĂN DŨNG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT KHẨU TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Đà Lạt - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN VĂN DŨNG
HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT KHẨU TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN LÂM ĐỒNG

Chuyên ngành : Tài chính và Ngân hàng
Mã số : 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHAN HUY ĐƯỜNG

Đà Lạt - 2012
MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Những đóng góp mới của luận văn 6

2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân 54
CHƯƠNG 3 60
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XUẤT KHẨU
60
TẠI CHI NHÁNH NHPT LÂM ĐỒNG TRONG THỜI GIAN TỚI. 60
3.1. ĐỊNH HƯỚNG ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TDXK TẠI CHI
NHÁNH NHPT LÂM ĐỒNG TRONG THỜI GIAN TỚI 60
3.1.1. Định hướng mở rộng TDXK tại NHPT Việt Nam 60
3.1.2. Quan điểm định hướng đẩy mạnh hoạt động tín dụng xuất khẩu
tại tỉnh Lâm Đồng 62
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG TDXK TẠI CHI
NHÁNH NHPT LÂM ĐỒNG TRONG THỜI GIAN TỚI 67
3.2.1. Đa dạng hóa các hình thức TDXK 68
3.2.2. Quảng bá hình ảnh, vị thế và vai trò của NHPT 69
3.2.3. Nâng cao chất lượng thẩm định 70
3.2.4. Tăng cường công tác huy động vốn 71
3.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát 72
3.2.6. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ 73
3.2.7. Tham gia với tỉnh trong việc hoạch định chiến lược xuất khẩu
của tỉnh 74
3.2.8. Nâng cao hiệu quả tư vấn cho các doanh nghiệp 74
3.3.2. Kiến nghị với UBND tỉnh Lâm Đồng 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT KÝ HIỆU NGUYÊN NGHĨA
1 ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
2 EU Liên minh các nước Châu Âu
3 EXIMBANK THAI Ngân hàng xuất nhập khẩu Thái Lan

Bảng 2.9. Nợ quá hạn và lãi treo 2007-2011 51
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy Chi nhánh NHPT Lâm Đồng 24
Hình 2.2. Quan hệ giữa doanh số cho vay và kim ngạch xuất khẩu tỉnh 50
iii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất khẩu là một hoạt động hết sức quan trọng của bất kỳ nền kinh tế
nào trên thế giới. Xuất khẩu góp phần đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho nhập
khẩu, tăng đầu tư, phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao
động và thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế. Vì thế, chính sách tín dụng
xuất khẩu (TDXK) được Chính phủ hầu hết các nước quan tâm thực hiện. Tùy
từng quốc gia, tùy từng thời điểm và thực lực của nền kinh tế, Chính phủ các
nước đưa ra các chính sách TDXK khác nhau.
Ở Việt Nam, trong những năm qua, Nhà nước cũng đã chú trọng xây
dựng và phát triển hệ thống chính sách quan trọng này nhằm hỗ trợ các doanh
nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu. Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích
xuất khẩu nhằm giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước có khả năng
cạnh tranh trên trường quốc tế, một trong những chính sách đó phải kể đến
chính sách TDXK được thực hiện thông qua hệ thống Ngân hàng phát triển
(NHPT) Việt Nam. Từ năm 2001, chính sách TDXK được Chính phủ giao cho
một đầu mối là Quỹ Hỗ trợ phát triển (nay là NHPT Việt Nam) thực hiện. Bởi
vậy, nghiên cứu hoạt động TDXK của Nhà nước tại Việt Nam cũng chính là
nghiên cứu hoạt động TDXK đang được thực hiện tại NHPT Việt Nam. Tuy
nhiên, hoạt động này vẫn đang trong giai đoạn vừa làm vừa nghiên cứu kinh
nghiệm các nước khác để tự hoàn thiện nên hoạt động TDXK thực hiện tại
NHPT Việt Nam còn bộc lộ một số điểm hạn chế và chưa phù hợp với thực tế.
Trong khi đó, việc Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) buộc hoạt động này phải có những chuyển biến mạnh mẽ từ cơ chế

lớn trong quản lý cho vay TDXK” của Th.S Võ Thanh Phong, “Đổi mới công
tác quản lý TDXK” của Thu Hương-Văn Hiệp
Ngoài ra trong hệ thống NHPT Việt Nam đã có một số nghiên cứu dưới
dạng Luận văn thạc sỹ của các cán bộ đang công tác tại NHPT về đề tài
TDXK như:
Đề tài “Phát triển TDXK tại Chi nhánh NHPT Ninh Bình” của tác giả
Đinh Thị Hương thực hiện năm 2008 nghiên cứu về hoạt động của NHPT,
thực trạng cho vay TDXK tại Chi nhánh NHPT Ninh Bình, đánh giá những
kết quả đạt được cũng như những nguyên nhân hạn chế từ đó đề xuất những
giải pháp, kiến nghị thực hiện để hoạt động TDXK tại Chi nhánh hiệu quả và
ngày càng phát triển hơn. Tuy nhiên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về hoạt
động TDXK tại Chi nhánh Ninh Bình trong giai đoạn 2004-2007 với điều
kiện và chính sách TDXK có sự khác biệt so với giai đoạn hiện nay.
Võ Thanh Phong một cán bộ của NHPT đã thực hiện đề tài “Giải pháp
hoàn thiện hoạt động TDXK tại NHPT” vào năm 2008. Đề tài nghiên cứu về
lý luận TDXK của Nhà nước và kinh nghiệm một số nước về hoạt động
TDXK của Nhà nước, từ đó dựa trên thực trạng về hoạt động TDXK tại
NHPT đề ra giải pháp hoàn thiện hoạt động TDXK trong hệ thống NHPT
Việt Nam. Đề tài đã tập trung tìm hiểu những vấn đề cơ bản về TDXK, sự cần
thiết phải có hệ thống tài trợ xuất khẩu và thực hiện chính sách tín dụng hỗ trợ
xuất khẩu của nhà nước. Ngoài ra đề tài cũng nghiên cứu các quy tắc quốc tế
và tình hình thực hiện TDXK ở các nước trên thế giới thông qua tổ chức tài
trợ xuất khẩu của nhà nước từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với hoạt động
này của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động TDXK tại Quỹ
Hỗ trợ phát triển trước đây và tại NHPT từ năm 2001 đến 31/03/2008. Tuy
nhiên đề tài chỉ khảo sát chọn mẫu đối với 51 doanh nghiệp vay vốn TDXK tại
3
NHPT Việt Nam để đánh giá thực trạng hoạt động TDXK tại NHPT nên mức độ
tổng quát không cao.
Trong khi đó đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả nghiệp vụ TDXK của

kiến nghị đến các nông hộ trồng chè, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
chè và chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu quả của việc trồng chè
nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành chè từ đó làm tăng trưởng xuất khẩu
và có thể thúc đẩy nền kinh tế-xã hội tại địa phương phát triển hơn.
Tuy nhiên hai đề tài trên chỉ áp dụng riêng đối với hai mặt hàng là chè
và cà phê tại một số huyện của tỉnh, không thể áp dụng chung đối với các mặt
hàng xuất khẩu khác của tỉnh Lâm Đồng và cũng không thể áp dụng đối với
các huyện khác của tỉnh đồng thời nội dung của nghiên cứu thiên về đầu tư
dài hạn hơn là ngắn hạn.
Đối với đề tài “Hoạt động tín dụng xuất khẩu tại Chi nhánh NHPT
Lâm Đồng” đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu chính sách TDXK theo những
quy định tại Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ “về
TDĐT và TDXK của Nhà nước”. Tác giả tập trung nghiên cứu tìm hiểu
những vấn đề cơ bản về TDXK, sự cần thiết phải có hệ thống tài trợ xuất khẩu
và chính sách tín dụng hỗ trợ xuất khẩu của nhà nước. Trên cơ sở nghiên cứu
thực tế hoạt động TDXK tại Chi nhánh NHPT Lâm Đồng, số liệu nghiên cứu
từ năm 2007-2011, qua đó đánh giá những kết quả đạt được, nguyên nhân và
hạn chế để đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động TDXK tại Chi
nhánh NHPT Lâm Đồng.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động TDXK của NHPT và
chất lượng TDXK của Nhà nước.
- Phân tích thực trạng hoạt động TDXK tại Chi nhánh NHPT Lâm
Đồng.
- Phân tích, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những nguyên
nhân hạn chế từ đó đề xuất những giải pháp.
- Khuyến nghị một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động TDXK tại Chi
nhánh NHPT Lâm Đồng trong thời gian tới ngày càng phát triển và hiệu quả
hơn.

7
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG XUẤT KHẨU
CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
1.1. TỔNG QUAN VỀ NHPT VIỆT NAM
Quá trình phát triển của các tổ chức tài chính gắn liền với quá trình
phát triển kinh tế. Các NHTM, các tổ chức tài chính phi ngân hàng đóng vai
trò ngày càng quan trọng trong thu hút tiền tiết kiệm, tiền đầu tư của nền kinh
tế và tài trợ cho phát triển. Mỗi quốc gia trên thế giới có một số tổ chức hoạt
động vì mục tiêu hỗ trợ TDXK, phù hợp với mục tiêu trong chiến lược phát
triển kinh tế của từng nước. Thể chế thực hiện là các tổ chức tài chính như:
NHPT, Ngân hàng xuất nhập khẩu và các định chế tài chính khác với các loại
hình nghiệp vụ, dịch vụ có tính chất ưu đãi của Nhà nước.
Ở Việt Nam hiện nay, cơ quan duy nhất thực hiện chính sách TDXK
của Nhà nước là NHPT Việt Nam. Hoạt động TDXK được thực hiện qua
NHPT Việt Nam phải thực sự tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy sản xuất, hỗ
trợ các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu đối với những ngành hàng ưu thế để
đủ sức cạnh tranh được trên trường quốc tế.
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của NHPT
NHPT được thành lập theo Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày
19/05/2006 của Thủ Tướng Chính phủ “V/v thành lập NHPT Việt Nam”, tên
giao dịch quốc tế: The Vietnam Development Bank, tên viết tắt: VDB.
NHPT có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài
khoản tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, các Ngân hàng thương
mại (NHTM) trong nước và nước ngoài, được tham gia hệ thống thanh toán
với các ngân hàng và cung cấp dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp
luật. NHPT kế thừa mọi quyền lợi, trách nhiệm từ Quỹ Hỗ trợ phát triển.
8
Hoạt động của NHPT không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt
buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Nguồn vốn hoạt động của NHPT:
- Vốn điều lệ của NHPT Việt Nam.
- Vốn ngân sách nhà nước cấp bổ sung hàng năm cho mục tiêu tín dụng
đầu tư và TDXK.
- Vốn ODA được Chính phủ giao để cho vay lại.
- Phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi.
- Nhận tiền gửi ủy thác của các tổ chức trong và ngoài nước.
- Vay của Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện, Quỹ Bảo hiểm xã hội và
các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước;
- Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức
kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp
hội, các hội, các tổ chức trong và ngoài nước.
- Vốn nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách
hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua Hợp đồng nhận ủy thác
giữa NHPT với các tổ chức uỷ thác.
- Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật.
- Quản lý nguồn vốn với phương châm tìm kiếm và thực hiện các biện
pháp gia tăng quy mô nguồn vốn với lãi suất thấp, kỳ hạn dài và ổn định. Các
cách thường thực hiện là liên kết các dự án trong nước và nhà tài trợ nước
ngoài, xúc tiến thường xuyên các hoạt động kêu gọi tài trợ, xác lập mối quan
hệ giữa Chính phủ với ngân hàng trong tài trợ dự án, phát hành trái phiếu
Chính phủ đồng thời, thực hiện quản lý chặt chẽ kỳ hạn và chi phí nguồn
vốn.
10
1.1.2.2. Sử dụng vốn
NHPT được sử dụng vốn để:
- Thực hiện chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:
+ Cho vay đầu tư phát triển: Tài trợ theo dự án đầu tư phát triển đã
được chỉ định trước của chủ tài trợ (Cho vay theo chỉ định của Chính phủ,
quản lý và cho vay lại các nguồn vốn ODA, cho vay các quỹ quay vòng), cho

1.2.2. Các hình thức TDXK
1.2.2.1. Cho vay xuất khẩu
- Đặc trưng của cho vay xuất khẩu
Về bản chất, cho vay là quan hệ có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời
gian nhất định; đó là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và
là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi. Trên cơ sở đó cho vay xuất khẩu
của NHPT là một hình thức mà bên cho vay cung cấp vốn có thời hạn cho bên
vay (Nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu) để thực hiện được hợp đồng xuất khẩu
nhưng có những đặc trưng riêng để phản ánh được tính chất hỗ trợ của Nhà
nước đó là:
+ Cho vay xuất khẩu không vì mục đích lợi nhuận: Với mục tiêu hỗ
trợ để thúc đẩy xuất khẩu, Chính phủ sử dụng công cụ TDXK nhằm hỗ trợ tài
chính cho các doanh nghiệp, cá nhân để đầu tư đổi mới công nghệ, giảm chi
phí, hạ giá thành, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm để từ đó nâng cao
sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
+ Đối tượng cho vay được chọn lọc và hạn chế: Mỗi quốc gia sẽ xác
định những mặt hàng chiến lược trong từng thời kỳ phát triển kinh tế và sử
dụng nhiều biện pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng đó, TDXK
được thiết kế để thực hiện yêu cầu này. Do đó, đối tượng cho vay của NHPT
12
hạn chế hơn các NHTM, đối tượng có thể thay đổi trong từng thời kỳ tùy
thuộc vào chiến lược xuất khẩu. Đặc điểm này cho thấy hoạt động cho vay
của NHPT không cạnh tranh với các NHTM mà hoạt động cho vay của NHPT
và NHTM sẽ cùng nhau thúc đẩy xuất khẩu phát triển.
+ Cơ chế cho vay ưu đãi hơn các hình thức cho vay thông thường: ưu
đãi đầu tiên là ưu đãi về lãi suất, điều này chỉ có NHPT mới làm được vì Nhà
nước sẽ cấp bù chênh lệch lãi suất (lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất huy
động) hoặc NHPT được huy động những nguồn có lãi suất rẻ hơn lãi suất thị
trường. Các NHTM thường ngần ngại khi cho vay với các dự án có thời hạn
vay dài vì rủi ro cao và không tương thích với kỳ hạn huy động thường có của

hợp đồng có hình thức thanh toán là thư tín dụng (L/C) với ngân hàng mở L/C
hoặc ngân hàng xác nhận/ngân hàng bảo lãnh có uy tín hoặc được Chính phủ
của nước nhập khẩu bảo lãnh thanh toán; thời hạn cho vay tuỳ thuộc vào thời
gian sản xuất và kỳ hạn thu tiền từ hợp đồng xuất khẩu.
+ Theo đối tượng được cung cấp khoản vay :
o Khoản vay dành cho người bán: Là khoản vay cung cấp trực
tiếp cho nhà xuất khẩu để chi trả cho các chi phí phát sinh trong quá trình sản
xuất, thu mua và xuất khẩu hàng hóa. Thời hạn, lãi suất và điều kiện cho vay
tuỳ thuộc vào nhu cầu thực tế là vốn lưu động, khả năng tài chính của nhà
xuất khẩu, hình thức thanh toán của hợp đồng xuất khẩu, thực hiện dự án
trong và ngoài nước.
o Khoản vay dành cho người mua: Là khoản vay dành cho các
nhà nhập khẩu ở nước ngoài để tài trợ xuất khẩu hoặc tài trợ dự án. Thường
thì tín dụng người mua phổ biến ở những nước có nền tài chính phát triển, có
lượng vốn dồi dào hoặc trong trường hợp viện trợ chính thức của Chính phủ.
14
Các khoản vay cung cấp cho nhà nhập khẩu nước ngoài đặc biệt có tác dụng
thúc đẩy xuất khẩu khi được cung cấp bởi tổ chức của Chính phủ nước xuất
khẩu khi hàng hóa muốn xuất khẩu là loại thuộc diện khuyến khích phát triển
xuất khẩu, đồng thời nhà xuất khẩu yên tâm sản xuất vì không phải lo chịu rủi
ro mất khả năng thanh toán từ nhà nhập khẩu và các kế hoạch kinh doanh
được thực hiện trôi chảy hơn, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp và sản phẩm, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển.
+ Theo giao dịch xuất khẩu:
o Cho vay trước khi giao hàng: Để có vốn cho sản xuất nhất là
đối với nhà xuất khẩu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ cần được cấp khoản
vay trước khi giao hàng. Thực chất đây là khoản vay bổ sung vốn lưu động để
thu mua nguyên vật liệu, các yếu tố đầu vào và các chi phí khác để có thể sản
xuất và thu mua đủ hàng theo đơn đặt hàng.
o Cho vay sau khi giao hàng: Là khoản tín dụng cấp cho nhà xuất

lợi ích được ban tặng từ hành động đó. Như vậy, nếu việc trợ cấp không mang
tính cụ thể (trợ cấp chung cho cả nền kinh tế) thì hành động đó không chịu sự
điều chỉnh của hiệp định SCM.
- Ba loại trợ cấp:
+ Những loại trợ cấp bị cấm gồm: Trợ cấp xuất khẩu tuỳ thuộc vào
(trên thực tế hoặc hợp pháp) kết quả hoạt động xuất khẩu và trợ cấp trong
nước; tuỳ thuộc vào mức độ sử dụng hàng hóa trong nước so với hàng hóa
nhập khẩu.
+ Những trợ cấp có thể bị kiện: Là hình thức trợ cấp làm tổn thương
ngành sản xuất trong nước của một nước thành viên khác, làm mất hoặc làm
tổn hại nghiệm trọng lợi ích của một nước thành viên khác. Loại trợ cấp này
16
có thể dẫn đến hành động trả đũa của các bên chịu thiệt hại vì hành động trợ
cấp.
+ Trợ cấp không bị kiện: là những hình thức trợ cấp không cụ thể
hoặc những hình thức trợ cấp cụ thể có liên quan đến:
o Hỗ trợ hoạt động nghiên cứu ngành và hoạt động triển khai
trong giai đoạn tiền cạnh tranh.
o Hỗ trợ những vùng khó khăn.
o Hỗ trợ việc cải thiện cơ sở vật chất hiện có để đáp ứng được
những yêu cầu mới về môi trường nêu trong các luật/các quy định.
Như vậy, WTO đã đưa ra những quy định về việc trợ cấp nói chung và
trợ cấp hoạt động xuất khẩu nói riêng. Đồng thời WTO thừa nhận hai tổ chức
đã đưa ra hướng dẫn thực hiện chung là OECD và liên minh Berne. Sau đây
xin giới thiệu một số quy định có liên quan đến TDXK của 2 tổ chức này mà
các thành viên tham gia phải tuân thủ.
1.2.3.2. Cơ chế của OECD về TDXK được hỗ trợ chính thức và liên minh
Berne
- Hiệp định về TDXK của OECD: Hiệp định này được áp dụng vào
tháng 4/1978. Đó là sự thoả thuận không chính thức giữa các thành viên tham


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status