TIỂU LUẬN BỆNH UNG THƯ MÁU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ - Pdf 19

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
BỆNH UNG THƯ MÁU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ
Họ và tên: Lê Quang Huy
Lớsp: CH 17
Mã học viên: 1211033
Mục Lục
I. Tổng Quan
1. Ung thư máu (bệnh bạch cầu) là gì?
2. Phân loại các thể bệnh bạch cầu
II. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh và triệu chứng bệnh
1. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
2. Triệu chứng của bệnh bạch cầu
III. Các phương pháp chẩn đoán bệnh bạch cầu
IV. Các phương pháp điều trị bệnh bạch cầu
I. Tổng Quan
Bệnh ung thư máu xuất hiện 300.000 ca bệnh mới mỗi năm trên thế giới (chiếm 2,8%
trong số tất cả các bệnh ung thư) và 220,000 người chết vì bệnh ung thư máu hàng năm.
Ung thư bạch cầu còn có tên gọi ngắn gọn là bệnh ung thư máu hay bệnh bạch cầu,
thuộc loại ung thư ác tính. Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người
bệnh tăng đột biến. Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên
chúng cũng khá "hung dữ", đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột
biến sẽ làm chúng thiếu "thức ăn" và có hiện tượng ăn hồng cầu. Hồng cầu sẽ bị phá hủy
dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết. Đây cũng là căn
bệnh ung thư duy nhất không tạo ra u.
1. Ung thư máu (bệnh bạch cầu) là gì?
Ung thư máu hay bệnh bạch cầu là bệnh ác tính của các tổ chức tạo máu. Bệnh xuất hiện khi
cơ thể không thể kiểm soát được số lượng các bạch cầu có trong máu và làm cho số lượng bạch
cầu trong máu tăng cao, điều này là nguyên nhân chính gây ra bệnh ung thư máu.Trong máu có
các tế bào máu khác nhau với các chức năng khác nhau, được chia làm 3 loại, được gọi là
3 dòng tế bào:

thường tiến triển chậm. Tuổi thường mắc bệnh là trên 55 tuổi. Hầu như không gặp
ở trẻ em.
• Bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và
giai đoạn đầu thường tiến triển chậm. Phần lớn gặp ở người lớn.
• Bệnh bạch cầu lymphô cấp tính (ALL): Là thể phát triển ác tính của các tế bào
dòng lymphô và tiến triển rất nhanh. Đây là thể bệnh bạch cầu thường gặp nhất ở
trẻ em, người lớn đôi khi cũng có thể bị mắc.
• Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML): Các tế bào dòng tủy bị ảnh hưởng và
tiến triển nhanh. Có thể xảy ra ở cả người lớn và trẻ em.
• Bệnh bạch cầu tế bào tóc: là một thể hiếm gặp của bệnh bạch cầu mạn tính.
II. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh và triệu chứng bệnh
1. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
Hiện nay người ta còn chưa xác định được chính xác các nguyên nhân gây bệnh ung
thư nói chung, cũng như nguyên nhân gây ung thư máu nói riêng. Các nghiên cứu chỉ ra
một số yếu tố nguy cơ được coi là nguyên nhân gây bệnh hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho
bệnh, bao gồm:
• Tia xạ: Những người tiếp xúc với tia phóng xạ liều cao sẽ có nguy cơ cao hơn bị
bệnh bạch cầu tủy cấp tính, bạch cầu tủy mạn tính, bạch cầu lympho cấp tính. Vụ
nổ bom nguyên tử ở Hiroshima Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ 2 đã tạo
nên hàm lượng phóng xạ rất cao. Nhiều người sống sót sau vụ nổ bom hạt nhân bị
bệnh bạch cầu. Người có tiền sử được điều trị bằng tia xạ trị khi điều trị ung thư
hoặc các bệnh khác từ trước cũng có nguy cơ cao hơn bị bệnh bạch cầu. Tuy
nhiên, khi chụp tia X trong chẩn đoán răng hàm mặt hoặc các biện pháp chụp X
quang chẩn đoán khác (như CT Scan) người ta tiếp xúc tia X với hàm lượng ít hơn
nhiều. Hiện tại vẫn chưa xác định mối liên quan giữa sự tiếp xúc với nồng độ tia
thấp với bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em và người lớn. Các nhà nghiên cứu đang
nghiên cứu mối liên quan nguy cơ mắc bệnh bạch cầu và tiền sử chụp Xquang
nhiều lần hoặc chụp cắt lớp khi còn nhỏ.
• Hút thuốc lá: Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hút thuốc là làm tăng nguy cơ mắc
bệnh bạch cầu tủy cấp tính.

• Biếng ăn, sút cân.
• Ra mồ hôi về ban đêm ở bệnh nhân là nữ
• Sưng nề bụng hoặc cảm giác khó chịu ở bụng.
Phần lớn các triệu chứng này không phải là đặc trưng cho ung thư nên dễ bị người bệnh
bỏ qua, vì vậy, khi có một trong bất kỳ dấu hiệu nào nêu trên, người bệnh cần đến bác sỹ
ngay để được khám, chẩn đoán, tư vấn và điều trị.
III. Các phương pháp chẩn đoán bệnh bạch cầu
Các bác sỹ sẽ thực hiện thăm khám cho bệnh nhân kỹ càng. Khi nghi ngờ bệnh bạch cầu,
các bác sỹ sẽ yêu cầu làm một số xét nghiệm.
• Khám lâm sàng: các bác sỹ sẽ phát hiện được hạch sưng to, gan-lách to ra.
• Xét nghiệm máu: cần thiết kiểm tra số lượng các tế bào máu và thành phần các
loại bạch cầu (công thức máu). Khi mắc bệnh bạch cầu, số lượng bạch cầu tăng
cao, giảm số lượng tiểu cầu, lượng Hemoglobin giảm thấp do thiếu máu.
• Sinh thiết chẩn đoán: Phương pháp lấy một mảnh mô trong tủy xương để soi
dưới kính hiển vi tìm tế bào máu ác tính. Sinh thiết là biện pháp duy nhất giúp
chẩn đoán xác định tế bào ác tính trong tủy xương. Có hai cách lấy tủy xương:
− Chọc hút tủy: Sử dụng kim nhỏ và có lỗ để chọc vào xương, hút lấy một ít tủy
xương.
− Sinh thiết tủy: Sử dụng kim lớn hơn để lấy một mảnh tủy xương.
• Các xét nghiệm khác: Tùy thuộc triệu chứng và thể bệnh mà bác sỹ cho làm một
số xét nghiệm như:
− Xét nghiệm gen: Xác định nhiễm sắc thể bất thường Philadelphia trong bệnh
bạch cầu dòng tủy mạn tính.
− Xét nghiệm dịch tủy: Xác định sự xuất hiện tế bào bạch cầu bất thường trong
máu.
− Chụp X quang: Phát hiện hạch to trong ổ bụng hoặc các vị trí khác.
IV. Các phương pháp điều trị bệnh bạch cầu
Có nhiều biện pháp điều trị khác nhau đối với bệnh bạch cầu như: theo dõi-chờ đợi, hóa
trị liệu, điều trị đích, điều trị sinh học, xạ trị, ghép tế bào gốc hoặc phẫu thuật cắt bỏ lách
to. Có thể phối hợp nhiều biện pháp điều trị.

• Hóa trị liệu gây mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn, nôn, ỉa chảy, đau họng
miệng. Một số thuốc có thể giúp giảm các triệu chứng này.
• Một số hóa chất gây vô sinh do làm tổn thương tinh trùng và trứng. Có một số hóa
chất không gây nên biến chứng này. Cần thiết trao đổi với bác sỹ về nguyện vọng
sinh đẻ sau điều trị để bác sỹ cân nhắc lựa chọn thuốc và cách bảo quản tinh trùng,
trứng trong ngân hàng mô.
• Điều trị đích
Điều trị đích ngăn chặn sự phát triển của tế bào ác tính thông qua ức chế hoạt động
protein bất thường làm kích thích sự phát triển của tế bào ung thư.
Các bệnh nhân bị bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính và một số thể bạch cầu dòng tủy cấp
tính có thể được điều trị bằng thuốc điều trị đích Glivec. Hiện nay có thêm một số thuốc
điều trị đích khác được chỉ định. Tại Việt Nam, hiện tại đang có chương trình tài trợ miễn
phí thuốc cho các bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính.
• Điều trị sinh học
Điều trị sinh học giúp kích thích sự miễn dịch tự nhiên của cơ thể chống lại tế bào ung
thư. Có nhiều biện pháp điều trị sinh học khác nhau: một số gắn kết với tế bào bạch cầu
ác tính, một số vận chuyển các chất gây độc tế bào, một số khác giúp cải thiện hệ thống
miễn dịch kích thích cơ thể chống lại tế bào ung thư.
Trong một số trường hợp bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính, điều trị thuốc kích thích miễn
dịch Ìnterferon tiêm dưới da hoặc tiêm bắp giúp làm chậm sự phát triển của tế bào ung
thư.
• Ghép tế bào gốc
Điều trị ghép tế bào gốc giúp tạo điều kiện cho hóa chất liều cao thực hiện được. Hóa
chất liều cao giúp tiêu diệt tế bào ung thư nhưng cũng làm tổn thương tế bào lành trong
tủy. Vì vậy, tế bào nguồn sẽ được tiêm vào cơ thể (giống truyền máu) sau khi điều trị
bằng hóa chất, nhờ đó các tế bào máu bình thường được phát triển từ các tế bào gốc này.
Có nhiều biện pháp ghép tế bào gốc khác nhau:
• Ghép tế bào gốc tự thân: Sử dụng tế bào gốc của chính mình. Trước khi được điều
trị hóa chất liều cao, tủy xương sẽ được lấy đi. Các tế bào này có thể được điều trị
để tiêu diệt các tế bào ung thư và sau đó được giữ lạnh rồi truyền lại vào cơ thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status