Học viên: Trịnh Thị Phương Dung MHV: 1211012 - CH17
MỤC LỤC
!"#$%&
'()&
*+",-
*+",.#/'!'0.12345-
/#.120/'!657
&/#.1434
-/#.148&
/9:
!#;<=>
Học viên: Trịnh Thị Phương Dung MHV: 1211012 - CH17
I. Ung thư máu là gì?
Ung thư là một loại bệnh do sự phát triển không bình thường của tế bào. Cơ
thể con người được hình thành từ rất nhiều loại tế bào. Bình thường những tế bào
được phát triển và phân chia khi cơ thể cần đến. Tuy nhiên đôi khi các tế bào tiếp
tục phân chia kể cả khi không cần thiết làm hình thành nên những nhóm mô gọi là
khối u.
Leukemia có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (Greek leukos - trắng, và haima -
máu) có nghĩa là bệnh của bạch huyết cầu trong máu. Ngày nay chúng ta dùng với
nghĩa rộng hơn gọi là ung thư máu (UTM). UTM (hematological neoplasms) là một
nhóm của nhiều bệnh ung thư liên quan đến: máu (blood), tủy xương (bone
marrow), hệ bạch huyết (lymphoid system).
Trong năm 2011, tại Hoa kỳ có 44,600 bệnh nhân bị ung thư máu (25,320
phái nam và 19,280 phái nữ) trong số này có 21,780 trường hợp tử vong. Tỷ lệ bệnh
UTM khác nhau giữa phái nam và phái nữ: trong 100,000 phái nam thì có 16 người
bị UTM, còn trong 100,000 phái nữ thì có 10 người mắc bệnh này. Người Á châu
bị bệnh UTM ít hơn với tỷ lệ 9/100,000 cho phái nam và 6/100,000 cho phái nữ.
năm, nhất là nếu bệnh nhân được điều trị đúng cách. Lúc đầu bệnh nhân có thể
không có triệu chứng gì. Bệnh thường được phát hiện qua khám định kỳ trước khi
các triệu chứng của bệnh xuất hiện. Dần dần, các tế bào bạch cầu ác tính trở nên tồi
tệ hơn. Khi số lượng các tế bào ác tính tăng sinh trong máu, các triệu chứng xuất
hiện như: nổi hạch hay nhiễm khuẩn. Lúc đầu các triệu chứng còn ở thể nhẹ sau đó
trở nên nặng nề hơn.
- Bệnh bạch cầu cấp: Là thể bệnh ác tính hơn, tiến triển nhanh. Ngay khi bệnh
bắt đầu, tế bào bệnh bạch cầu không thể thực hiện được vai trò của tế bào bình
thường. Số lượng tế bào bạch cầu ác tính phát triển rất nhanh.
- Còn có cách phân loại bệnh UTM dựa theo dòng bạch cầu bị ảnh hưởng (các
tế bào dòng tủy hoặc dòng lympho) và tiến triển của mỗi dòng đó:
Bệnh bạch cầu lymphô mạn tính (CLL).
Bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính (CML).
Bệnh bạch cầu lymphô cấp tính (ALL).
Bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (AML).
Bệnh bạch cầu tế bào tóc.
2
Học viên: Trịnh Thị Phương Dung MHV: 1211012 - CH17
IV. Triệu chứng lâm sàng
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức, đồng
thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác. Bệnh
nhân có thể có những triệu chứng sau:
- Chảy máu: Tế bào UTM tràn ngập tủy xương làm cho tiểu huyết cầu không
được sản xuất đầy đủ nên bệnh nhân rất dễ bị chảy máu gây ra nhiều vết bầm tím
trên cơ thể, hoặc nhiều đốm đỏ khắp nơi, hoặc khi chảy máu thì khó cầm máu được.
Xét nghiệm dịch tủy: Xác định sự xuất hiện tế bào bạch cầu bất thường
trong máu.
- Chụp X quang: Phát hiện hạch to trong ổ bụng hoặc các vị trí khác.
VI. Điều trị
Điều trị bệnh UTM rất phức tạp, nó khác nhau tùy theo từng loại UTM và
tùy theo từng bệnh nhân. Bác sĩ sẽ lập kế hoạch điều trị phù hợp với nhu cầu của
từng bệnh nhân. Việc điều trị không chỉ phụ thuộc vào thể UTM mà còn phụ thuộc
vào một số đăc tính nhất định của tế bào bệnh lý, phạm vi của bệnh và việc của
bệnh đã từng được điều trị trước đây hay chưa. Nó còn phụ thuộc vào độ tuổi của
bệnh nhân, triệu chứng và tình trạng sức khỏe chung.
Bệnh UTM cấp tính cần được điều trị ngay lập tức. Mục đích của việc điều
trị là làm cho bệnh ổn định. Sau đó khi không còn dấu hiệu của bệnh thì cần phải sử
dụng các liệu pháp điều trị khác để ngăn bệnh khỏi tái phát. Nhiều bệnh nhân bị
UTM cấp tính có thể được chữa khỏi.
Những bệnh nhân bị bệnh UTM mãn tính mà không có triệu chứng có thể
không cần phải điều trị ngay. Tuy nhiên, họ phải được khám định kì thường xuyên
để bác sĩ theo dõi tiến triển của bệnh. Khi việc điều trị là cần thiết, thường điều này
có thể kiểm soát được bệnh và triệu chứng bệnh. Tuy nhiên, bệnh UTM mạn tính
hiếm khi được chữa khỏi.
Những phương pháp điều trị cơ bản bao gồm hóa trị liệu, xạ trị, ghép tủy,
liệu pháp miễn dịch và chăm sóc hỗ trợ.
1. Điều trị bệnh BCTC (bch cu ty cp)
a. Điều trị các trường hợp mới mắc
Chiến lược điều trị là dùng các thước hóa chất phối hợp để đạt lui bệnh hoàn
toàn:
Trong nhiều trường hợp bệnh, việc điều trị hóa chất được thực hiện ngay sau
khi có chẩn đoán xác định chưa phải là cần thiết. Thay vào đó các triệu chứng và
dấu hiệu cấp tính, điều chỉnh trong một vài ngày đầu nên được đặt lên hàng đầu.
So với bệnh bạch cầu lym phô cấp, bệnh bạch cầu tủy cấp nhạy cảm với các
hóa chất kém hơn do đó tỉ lệ khỏi bệnh hoàn toàn kém hơn.
5
Học viên: Trịnh Thị Phương Dung MHV: 1211012 - CH17
(1) 8: Có khá nhiều phác đồ hóa chất để điều trị tấn công BCTC,
việc lựa chọn phác đồ dựa vào một số yếu tố như tình trạng toàn thân, tuổi,
bênh kèm theo.
Nếu ngày bắt đầu điều trị coi là ngày một, khoảng ngày thứ 12 đến thứ 14 nên
chọc hút tủy lại hoặc sinh thiết tủy.
+ Nếu số tế bào non còn lại ít hơn 5% tạm ngừng điều trị hóa chất, chỉ điều trị
hỗ trợ cho đến khi tủy hồi phục (thường 1 đến 3 tuần).
+ Nếu bệnh bạch cầu vẫn còn tồn tại trong tủy, điều trị tiếp đợt 2 nhưng liều
giảm tùy theo mức độ giảm tế bào của đợt trước. 14 ngày sau chọc hút tủy
hoặc sinh thiết tủy lại với những bệnh nhân vẫn còn cần điều trị tiếp đợt 3.
Quá trình đánh giá và điều trị tiếp tục như vậy.
- Khỏi bênh hoàn toàn được xác định như sau:
+Tế báo non chỉ còn dưới 5% trong tủy bình thường về mặt tế bào.
+ Máu ngoại vi bình thường trở lại (không còn tế bào non với số lượng bạch
cầu hạt trên 1500/mm3 và tiều cầu trên 100000/mm3.
(2) >-: Thường dùng các phác đồ có các thuốc như điều trị tấn
công nhưng có thể biến đổi liều lượng, ngày dùng điều trị từ 1-2 đợt.
(3) (?: Có nhiều cách điều trị duy trì có thể xen kẻ các loại thuốc
khác nhau hoặc điều trị một loại thuốc lặp lại. cách điều trị thường được áp
dụng là ARAC hoặc 6-Thioguanine đơn thuần.
(4) 8: Trong thời gian điều trị duy trì thỉnh thoảng lại điều trị
một đợt như điều trị tấn công. Tuy nhiên việc điều trị này vẫn còn gây tranh
cãi bởi lợi ích chưa rõ ràng mà độc tính bệnh nhân phải chịu ngày một tăng.
Điều trị miễn dịch vẫn còn cho kết quả cao nên chưa được đề xuất thành
phương pháp điều trị thường quy, có thể sử dụng 2 phương pháp sau:
- Kĩ thuật khó khăn
- Thiếu người cho tủy đồng gien HLA phù hợp. Vì vậy chỉ một số bệnh nhân
đượ ghép tủy.
Phương pháp thu lượm truyền các tế bào gốc trong máu ngoại vi đang được
nghiên cứu, chưa được thực hiện rộng rãi.
7
Học viên: Trịnh Thị Phương Dung MHV: 1211012 - CH17
d. Một số phác đồ hay được sử dụng là:
- #@ABCDEFEGH,IJ dùng điều trị tấn công
ARAC (Cytarabine) 100mg/m2 truyền tĩnh mạch trong 24h/7 ngày.
DNR 45mg/m2 truyền tĩnh mạch trong ngày 1, ngày 2 và ngày 3.
Nếu sau khi đánh giá lại tủy xương (ngày thứ 14) lượng tế bào non giảm
nhiều nhưng chưa thoái giảm hoàn toàn sẽ điều trị tiếp đợt 2 với ARAC
truyền tĩnh mạch trong 5 ngày và DNR truyền trong 2 ngày, liều mỗi ngày
không đổi chỉ giảm khi bệnh nhân bị suy gan do thuốc. Nếu tế bào non giảm
ít hoạc không giảm cần đổi phác đồ mạnh hơn ví dụ HDAC.
- # @EFEGH,IFHK,Edùng tấn công và củng cố
+ Tấn công
ARAC 100mg/m
2
, TM trong 24h x 7 ngày.
Idarubicin 12mg/m
2
, TM ngày 1 – 3.
Sau 14 ngày nếu còn tế bào ác tính tại tủy xương nhắc lại phác đồ điều trị.
+ Củng cố
ARAC 100mg/m
2
tĩnh mạch trong 12 giờ, ngày 1-5.
Idarubicin 15mg/m
+ Tấn công
Daunorubicin 60mg/m
2
, TM, ngày 5, 6, 7.
Cytarabine 100mg/m
2
, TM 30 phút x 7 ngày.
6-Thioguanine 100mg/m
2
, uống, 12h/lần x 7 ngày
+ Điều trị củng cố
Hai chu kì Cytarabine và Thioguanine 12h/lần x 5 ngày tiếp theo dùng
Daunorubicin tiêm đơn thuần. Khoảng cách giữa các chu kì củng cố 21 ngày.
+ Điều trị dự phòng hệ thống thần kinh TW
Tia xạ hộp xọ 2.400 rad, Cytarabine 100mg/m
2
chia thành 5 liều tiêm nội
tủy.
Người mắc bệnh tim thì phác đồ thường dùng là HDAC.
Với người trên 60 tuổi dùng các phác đồ trên nhưng giảm liều.
2. Bệnh bch cu ty mn (BCTM)
a. Giai đoạn mạn tính
Điều trị hóa chất thường quy, chủ yếu sử dụng hai thuốc: Hydroxyurea và
Busulfan theo đường uống. Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh
Hydroxyurea có nhiều ưu điểm hơn Buslfan: thời gian sống của bệnh nhân kéo
dài hơn, thuốc ít độc tính với tủy hơn, tỷ lệ biến chứng và tử vong sau khi dùng
Hydroxyurea thấp hơn sau dùng Busulfan.
- Hydroxyurea: có tác dụng làm giảm nhanh số lượng bạch cầu do đó phải
theo dõi sát và kiểm tra số lượng bạch cầu thường xuyên.
và huyết học mà còn cả về di truyền học tế bào mà các hóa chất không làm
được. Do đó thuốc có tác dụng kéo dài thời gian sống một cách đáng kể.
Liều : 3-9 triệu IU/ngày. Tiêm dưới da hoặc tiêm bắp. Chỉ dùng cho người từ 18
tuổi trở lên.
10
Học viên: Trịnh Thị Phương Dung MHV: 1211012 - CH17
Lưu ý: khi xuất hiện độc tính trên hệ thần kinh TW cần giảm liều hoặc ngừng
thuốc.
34
- Phòng chống tắc mạch khi có tăng tiểu cầu: Aspirin 1-1,5g/ngày, uống liền 2
ngày mỗi tuần.
- Phòng bệnh thận do tăng acid uric: dùng Allopurinol với liều ban đầu 400-
600mg/ngày trong 3 ngày, sau đó dùng với liều 100mg/ngày trong 4 ngày.
Ngoài ra cần truyền dịch và kiềm hóa nước tiểu.
- Bổ sung máu và các chất điện giải khi cần.
b. Giai đoạn tiến triển và giai đoạn cấp
/&&(,
Điều trị như cho các trường hợp bệnh bạch cầu lympho cấp. Thời gian sống của
bệnh nhân ở giai đoạn này là 4-6 tháng.
/&&+,
Điều trị như cho các trường hợp bệnh bạch cầu tủy cấp. Tiên lượng xấu.
c. Ghép tủy
Có thể tiến hành ở mọi giai đoạn nhưng kết quả cao nhất là ở giai đoạn mạn tính,
nhất là trong năm đầu. Hiện nay người ta chỉ mới ghép tủy cho bệnh nhân dưới
55 tuổi.
Tỉ lệ tử vong ngay sau khi ghép tủy khá cao (20-40%) chủ yếu do phản ứng thải
ghép và do nhiễm trùng.
Ngoại trừ biến chứng và tử vong sau ghép tủy, thì đây là phương pháp đem lại
kết quả điều trị cao nhất trong điều trị BCTM.
3. Bệnh bch cu lympho cp
mg/m2/lần (không vượt quá 15 mg/lần) tiêm từ 3 đến 6 lần cách nhau 1 tuần.
Ngoài ra có thể tia xạ hộp sọ 24Gy trải liều thành 12 lần trong 3 tuần.
))
+>:
12
Học viên: Trịnh Thị Phương Dung MHV: 1211012 - CH17
- Trong thời gian điều trị tấn công hoặc ngay sau khi điều trị tấn công: cần đổi
phác đồ tấn công.
- Trong thời gian điều trị duy trì: Điều trị tấn công lại và đổi phác đồ điều trị
duy trì.
- Sau khi ngừng điều trị: Điều trị lại như cho các trường hợp mới mắc.
>:
Trong thời gian điều trị: Điều trị toàn thân vẫn tiếp tục. Vị trí tái phát được điều
trị riêng (tuyến sinh dục: xạ tại chỗ. Hệ thần kinh trung ương: xạ não tủy + hóa
chất nội tủy).
/8+,
4. Bệnh bch cu limphô mn
a. Theo dFi gian đoạn sớm
Hầu như không cần điều trị. Bệnh nhân chỉ cần theo dõi sát về lâm sàng và xét
nghiệm.
b. Điều trị khi bệnh tiến triển
Chỉ tiến hành khi bệnh nhân có các biểu hiện như:
- Hạch to gây rối loạn chức năng các cơ quan hoặc gây khó thở.
- Có các biến đổi về huyết học: bạch cầu limphô tăng quá cao, thiếu máu, giảm
tiểu cầu.
9):);<=!
Sử dụng prednisone 60-100 mg/ngày trong 3-6 tuần cho đến khi hiện tượng tan
máu giảm xuống sau đó sẽ giảm liều dần. Cắt lách hoặc chiếu xạ vào lách nếu
cần.
giảm, làm tăng nguy cơ di căn. Một số trường hợp áp dụng biện pháp hóa trị làm
tổn hại đến tim, gan. Có không ít trường hợp bệnh nhân đã tử vong vì không chịu
đựng được đợt hóa trị. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân bị giảm sút rất nhiều.
Đó là chưa kể, các biện pháp truyền thống trong điều trị ung thư rất tốn kém.
Ngày nay cùng với sự phát triển vượt bậc về khoa học kĩ thuật thì ngành y học cũng
đã có những nghiên cứu thử nghiệm mang lại nhiều hi vọng mới cho những bệnh
nhân mắc căn bệnh nan y-ung thư trong đó có ung thư máu.
Một nghiên cứu của Đại học Pennnsylvania được công bố đồng thời trên hai tạp
chí y học lớn là New England Journal of Medicine và Science Translational
Medicine. Trong thử nghiệm này có 3 bệnh nhân tham gia Hai người đã sạch bệnh
ung thư sau một năm điều trị, người thứ ba đã có tiến triển tuy chưa dứt bệnh. Đây
là thành công bước đầu trong liệu pháp gene mới mới chữa bệnh bạch cầu. Trong
kỹ thuật mới, người ta biến hồng cầu của người bệnh thành những "kẻ ám sát",
chuyên đi săn tìm và tiêu diệt các tế bào ung thư.
Ngoài ra hiện nay ở nhiều trung tâm điều trị ung thư đã áp dụng phương pháp điều
trị ung thư máu theo cách :Với sự tham gia của đội ngũ hội chẩn trong từng ca điều
trị, vận dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất của thế giới, tạo ra hình thức điều trị
mới: Thâm nhập tối thiểu trúng đích, điều trị tổng hợp và Kết hợp Đông Tây y.
Do đó hi vọng trong tương lai không xa chúng ta sẽ dần khống chế được căn bệnh
ung thư- trong đó có ung thư máu góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân ung thư.
15
Học viên: Trịnh Thị Phương Dung MHV: 1211012 - CH17
VIII.Tài liệu tham khảo
1. Bách khoa toàn thư bệnh học tập 3,NXB Từ điển bách khoa Hà nội 2000.
2. Hóa chất điều trị ung thư, NXB Y học 2003,tái bản lần thứ 2.
3. TS, Bs Nguyền Thanh Đạm, Ung thư căn bệnh thế kỷ, NXB Y học Hà Nội
2010.
4. Nguyễn Văn Nhương, Bệnh ung thư cách phòng và điều trị, NXB Y học
2006 Hóa chất điều trị ung thư, NXB Y học 2003,tái bản lần thứ 2.