Sử dụng phần mềm geometer’ssketchpad vào dạy học phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng theo chương trình lớp 11 trung học phổ thông ban nâng cao - Pdf 19

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN QUANG HUY
SỬ DỤNG PHẦN MỀM GEOMETER’S SKETCHPAD VÀO
DẠY HỌC PHÉP DỜI HÌNH VÀ PHÉP ĐỒNG DẠNG TRONG
MẶT PHẲNG THEO CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11 TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG BAN NÂNG CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN TOÁN)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TSKH. VŨ ĐÌNH HOÀ
HÀ NỘI – 2011
1
Lời cảm ơn
Với tất cả tình cảm của mình, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TSKH VŨ ĐÌNH HOÀ , người thầy đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tác
giả trong suốt quá trình làm luận văn.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo và đặc
biệt là các thầy cô giáo là cán bộ của trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc
gia Hà Nội đã nhiệt tình, tận tâm giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Toán và các em
học sinh lớp 11C và 11D trường THPT Thanh Miện 2, Hải Dương đã giúp đỡ
tác giả thực hiện các thực nghiệm sư phạm của mình.
Tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện tốt nhất để giúp tác giả hoàn thành luận văn này.
Mặc dù rất cố gắng song bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót
và hạn chế. Tác giả rất mong được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các thầy cô

2. Lịch sử nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 3
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5. Phạm vi nghiên cứu 3
6. Vấn đề nghiên cứu 3
7. Giả thuyết khoa học 3
8. Phương pháp nghiên cứu 3
9. Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1. Nhu cầu đổi mới và định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở
trường phổ thông
5
1.1.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông 5
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 7
1.2. Mục tiêu môn toán trong trường phổ thông và quan điểm đổi mới
phương pháp dạy học toán
9
1.2.1. Mục tiêu môn toán trong trường phổ thông 9
1.2.2. Quan điểm chung về đổi mới PPDH Toán ở trường THPT 9
1.2.3. Đổi mới dạy và học theo quan điểm CNTT-TT 15
1.3. Sử dụng phần mềm Geometer’s Sketchpad trong dạy học 20
1.3.1. Các chức năng của Geometer’s Sketchpad 21
1.3.2. Các phép biến đổi trong Geometer's Sketchpad 22
4
1.3.3. Geometer’s Sketchpad trong dạy học hình học 24
Kết luận chương 1 27
Chương 2: THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 30
2.1. Chương trình hình học 11 THPT nâng cao 30
2.1.1. Giới thiệu chương trình hình học 11 THPT nâng cao 30
2.1.2. Giới thiệu chương 1 - chương trình HH 11 THPT nâng cao 31

3.1. Mục đích, nhiệm vụ và đối tượng thực nghiệm 73
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 73
3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm 73
3.1.3. Lựa chọn đối tượng thực nghiệm 73
3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm 75
3.2.1. Kế hoạch tiến hành thực nghiệm 75
3.2.2. Giáo án thực nghiệm 77
3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm 89
3.3.1. Về nội dung tài liệu thực nghiệm 89
3.3.2. Về phương pháp giảng dạy giờ thực nghiệm 92
3.3.3. Về kết quả thực nghiệm 92
3.4. Kết luận chung về thực nghiệm sư phạm 97
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1. Kết luận 99
2. Khuyến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam (khoá VIII, 1997) khẳng định: “Phải đổi mới phương pháp giáo
dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy
sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”.
Luật Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã quy định:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động , tư duy
sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học , lòng say mê học tập và ý
chí vươn lên” (Luật Giáo dục 2005).

học sinh không vận dụng được lý thuyết vào giải các bài tập.
Những khó khăn đó đòi hỏi người dạy cần thiết phải sử dụng phương
tiện đặc trưng hỗ trợ, mô phỏng các đối tương, hỗ trợ quá trình vẽ hình để từ
đó phân tích tìm lời giải cho các bài toán để học sinh dễ tiếp thu, vận dụng
không chỉ các bài toán trong sách giáo khoa mà còn cả những bài toán trong
thực tế, để tạo hứng thú cho học sinh trong quá trình học
Xuất phát từ những lý do trên tôi thực hiện đề tài “Sử dụng phần mềm
Geometer’s Sketchpad vào dạy học Phép dời hình và phép đồng dạng trong
mặt phẳng lớp 11 THPT ban nâng cao“.
2. Lịch sử nghiên cứu
Việc sử dụng phần mềm Geometer’s Sketchpad vào dạy học Phép dời
hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng có tác giả Nguyễn Thanh Vân với đề
tài :”Sử dụng phần mềm Geometer’s Sketchpad trong bài toán quỹ tích của
hình học lớp 11”.
2
3. Mục tiêu nghiên cứu
Sử dụng phần mềm Geometer’s Sketchpad để thiết kế bài giảng và
giảng dạy Phép dời hình và phép đồng dạng trong mặt phẳng lớp 11 THPT
chương trình nâng cao
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học phép dời hình và phép đồng
dạng trong mặt phẳng lớp 11 THPT chương trình nâng cao.
Đối tượng nghiên cứu: Dạy - học phép dời hình và phép đồng dạng
trong mặt phẳng bằng việc sử dụng phần mềm Geometer’s Sketchpad .
5. Phạm vi nghiên cứu
Chương 1 - Hình học lớp 11 THPT chương trình nâng cao.
Khảo sát ở các lớp 11 trường THPT Thanh Miện2, Hải Dương.
6. Vấn đề nghiên cứu
Sử dụng phần mềm Geometer’s Sketchpad trong dạy học phép dời hình
và phép đồng dạng chương trình nâng cao như thế nào để nâng cao hiệu quả

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.2. Nhu cầu đổi mới và định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở trường
phổ thông
1.1.1. Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Lịch sử loài người chưa bao giờ trải qua giai đoạn bùng nổ thông tin
như ngày nay. Lượng thông tin tăng theo cấp số nhân. Chính điều đó buộc học
sinh phải biết lựa chọn các tri thức để học, thời gian học ở trường thì có hạn
do đó phải có được kỹ năng tự học, đồng thời giáo viên phải đổi mới phương
pháp dạy học nhằm hoàn thành mục tiêu giáo dục. Việc đổi mới phương pháp
dạy học để giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người có tiêu chuẩn
hiện đại với thực trạng lạc hậu nói chung của phương pháp dạy học còn lạc
hậu ở nước ta hiện nay. Nhu cầu này đã được thể hiện bức xúc trong các nghị
quyết của Đảng , các văn bản chỉ đạo của Nhà nước, Bộ Giáo dục. Đặc biệt,
đã viết thành các điều khoản trong Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam.
Theo Nguyễn Bá Kim (2004): “Phải thừa nhận rằng trong tình hình hiện
nay, phương pháp dạy học ở nước ta còn có những nhược điểm phổ biến:
‘’Thầy thuyết trình tràn lan.
Tri thức được truyền thụ dưới dạng có sẵn , ít yếu tố tìm tòi , phát hiện.
Thầy áp đặt , trò thụ động.
Thiên về dạy , yếu về học , thiếu hoạt động tự giác , tích cực và sáng
tạo của người học.
Không kiểm soát được việc học.’’
Mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người xây dựng xã hội công nghiệp
hóa , hiện đại hóa với thực trạng lạc hậu của phương pháp dạy học đã làm nảy
sinh thúc đẩy cuộc vận động đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp
trong ngành Giáo dục và Đào tạo từ một số năm cuối thập kỷ thế kỷ XX đến
5
nay. Những tư tưởng chủ đạo của cuộc đổi mới được phát biểu dưới nhiều

kết gắn giữa các kiến thức trong sách vở với thực tế, phát triển tư duy, nhân
cách của học sinh.
Hiện nay, thực tiễn giáo dục nước ta còn nhiều bất cập từ nội dung,
chương trình dạy học đến PPDH, hình thức tổ chức, quản lý giáo dục. Một số
nhà lý luận dạy học cho rằng để thực hiện được mục tiêu giáo dục thì cần phải
coi đổi mới PPDH là trọng tâm, quản lý giáo dục là khâu đột phá, dạy học
phải hướng vào người học, “lấy người học làm trung tâm”. Để thực hiện được
các mục tiêu giáo dục thì sử dụng tốt các PPDH truyền thống và đồng thời kết
hợp với các PPDH không truyền thống, trong đó sử dụng CNTT – TT là yếu
tố không tách rời.
Mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con người xây dựng xã hội công nghiệp
hóa, hiện đại hóa với thực trạng lạc hậu của PPDH toán đã làm nảy sinh và
thúc đẩy cuộc vận động đổi mới PPDH toán với định hướng đổi mới là tổ
chức cho người học học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, tự giác, tích
cực, sáng tạo.
1.1.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học
Theo tác giả Đặng Xuân Hải [16, tr.319] quá trình dạy học là một thể
thống nhất toàn vẹn và có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau:
Hình 1.1 Quá trình dạy học
Cộng tác
Dạy Học
Nội dung dạy học
Truyền đạt
Điều khiển Tự điều khiển
Lĩnh hội
7
Theo sơ đồ trên thì dạy và học là hai mặt của một quá trình, luôn tác
động qua lại, bổ sung cho nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập vào nhau thông
qua HĐ cộng tác nhằm tạo cho người học khả năng phát triển trí tuệ, góp phần
hoàn thiện nhân cách. Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình người học

thông cơ bản , thiết thực.
Góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành khả
năng suy luận đặc trưng của toán học cần thiết cho cuộc sống.
Góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, phong cách lao động
khoa học , biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học thường xuyên.
Tạo cơ sở để HS tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, THCN, học nghề hoặc
đi vào cuộc sống lao động.
1.2.2. Quan điểm chung về đổi mới PPDH Toán ở trường THPT
Vận dụng những thành tựu của lý luận dạy học hiện đại trên thế giới,
đặc biệt là lý thuyết hoạt động vận dụng vào dạy học và một số quan điểm của
dạy học kiến tạo, dạy học khám phá, các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam
đã nêu bật được bản chất của đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam. Điển
hình là trong cuốn “Phương pháp dạy học môn Toán’’ của Nguyễn Bá Kim đã
chỉ rõ: “Phương pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho người học học
tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo’’,
định hướng này nêu bật bản chất của đổi mới phương pháp dạy học là học tập
trong hoạt động và bằng hoạt động , hay nói gọn: hoạt động hóa người học.
Theo Nguyễn Bá Kim, mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những
hoạt động nhất định. Trước hết đó là những hoạt động đã được tiến hành trong
quá trình lịch sử hình thành và ứng dụng những tri thức được bao hàm trong
nội dung này, cũng chính là những hoạt động để người học có thể kiến tạo và
ứng dụng những tri thức trong nội dung đó. Tất nhiên, còn phải kể tới cả
những hoạt động có tác dụng củng cố tri thức, rèn luyện những kỹ năng và
9
hình thành những thái độ có liên quan. Ông cũng đã chỉ ra rằng, phát hiện
được những hoạt động như vậy trong một nội dung là vạch được một con
đường để người học chiếm lĩnh nội dung đó và đạt được những mục tiêu dạy
học khác, cũng đồng thời là cụ thể hóa được mục tiêu dạy học nội dung đó và
chỉ ra được một cách kiểm tra xem mục tiêu dạy học đó có đạt được hay
không và đạt đến mức độ nào. Cho nên điều căn bản của phương pháp dạy học

chiếm lĩnh nó thông qua hoạt động tư giác, tích cực và sáng tạo của bản thân.
Theo lý thuyết kiến tạo, học tập là một quá trình trong đó người học xây
dựng kiến thức cho mình bằng cách thích nghi với môi trường sinh ra những
mâu thuẫn, những khó khăn và những sự mất cân bằng. Tuy nhiên, một môi
trường không có dụng ý sư phạm thì không đủ để chủ thể kiến tạo tri thức theo
đúng yêu cầu xã hội mong đợi. Vì thế, điều quan trọng là thiết lập những tình
huống có dụng ý sư phạm để người học học tập trong hoạt động, học tập bằng
thích nghi.
1.2.2.2.Dạy việc học , dạy tự học thông qua toàn bộ quá trình dạy học
Các nhà Tâm lý học đã chứng minh rằng năng lực của mỗi cá nhân
được hình thành và phát triển chủ yếu trong quá trình hoạt động và giao lưu
của con người. Con đường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất để nâng cao chất
lượng đào tạo và đạt được mục tiêu giáo dục – đào tạo là: học bằng hoạt động
tự học, tự nghiên cứu của người học, thông qua chính bằng hoạt động tự lực
chiếm lĩnh kiến thức, mà hình thành năng lực và thái độ cho học sinh.
Hoạt động học nhằm mục tiêu cải tạo, phát triển chính học sinh là hoạt
động không ai có thể làm thay. Vì thế, đòi hỏi học sinh phải tự giác, tích cực,
sáng tạo, phải có khả năng tự học. Các nghiên cứu về dạy học phát triển đã
cho kết quả rằng trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân đều có tính tích
cực bên ngoài và tính tích cực bên trong. Tính tích cực bên ngoài thể hiện ở ý
chí quyết tâm thực hiện các yêu cầu học tập của giáo viên, nhà trường. Các
11
thao tác hành vi bên ngoài có thể kiểm soát được. Tính tích cực bên trong thể
hiện ở chỗ người học sinh có động cơ học tập, mục đích học tập tiếp thu các
tác động bên ngoài để biến thành nhu cầu nhận thức, tích cực đào sâu suy nghĩ
một cách chủ động tự giác, tự lực. Tính tích cực bên trong dẫn đến sự độc lập
phát triển của mỗi cá nhân học sinh, là cơ sở cho tự học suốt đời. Người giáo
viên Toán cần quán triệt tư tưởng dạy học là sự hợp tác giữa giáo viên và học
sinh. Tự tạo và khai thác những phương tiện dạy học để tiếp nối và gia tăng
sức mạnh của con người. Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và

các phương tiện sẵn có để phục vụ công việc dạy học của mình, đồng thời có
thể tự tạo một số phương tiện, khắc phục khó khăn, không trông chờ vào sự tài
trợ của nhà nước.
Trong thời đại hiện nay, các kĩ thuật đồ hoạ nâng cao cho phép mô
phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội mà con người không
thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà trường; với công nghệ tri
thức có thể tiếp nối trí thông minh của con người, thực hiện những công việc
mang tính chất trí tuệ cao của những chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực
khác nhau, với môi trường đa phương tiện được tạo nên từ những hình ảnh
trong các phương tiện như băng video, camera kết hợp với âm thanh, văn bản,
biểu đồ, được trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn có thể giúp đạt
hiệu quả tối đa cho một quá trình học tập đa giác quan, với những ngân hàng
dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với người sử dụng thông
qua những mạng máy tính kể cả Internet. Tất cả những điều đó đã tạo nên
những điều kiện hết sức thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để cho HS học
tập trong HĐ và bằng HĐ tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, được thực
hiện độc lập hoặc trong giao lưu.
13
1.2.2.4. Tạo niềm lạc quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản
thân người học
Muốn tổ chức cho HS học tập tự giác phải gắn liền với việc tạo niềm lạc
quan học tập dựa trên lao động và thành quả của bản thân người học.
1.2.2.5.Xác định vai trò mới của người thầy với tư cách là người thiết kế, uỷ
thác , điều khiển và thể chế hoá
Hoạt động hoá người học dễ dẫn đến việc ngộ nhận về sự giảm sút vai
trò của người thầy. Tuy nhiên điều đó không đúng.
Một mặt cần phải hiểu rằng hoạt động hoá người học hay việc xác lập
vị trí chủ thể của người học không hề làm suy giảm mà còn nâng cao vai trò,
trách nhiệm của người thầy. Một câu tục ngữ vẫn được nhắc đến là “Không
thầy đố mày làm nên”.

Mức 2: Ứng dụng CNTT và truyền thông để hỗ trợ một khâu , một công việc
nào đó trong toàn bộ quá trình dạy học.
Mức 3: Sử dụng PMDH để tổ chức dạy học một chương, một số tiết, một vài
chủ đề môn học.
Mức 4: Tích hợp CNTT vào quá trình dạy học.
Tuy nhiên qua nghiên cứu thực trạng sử dụng CNTT ở phổ thông tại Hà
Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài cũng cho thấy: đa số các cơ sở giáo
dục ở các địa phương đã có chủ trương khuyến khích việc ứng dụng CNTT
trong dạy học, nhưng các chủ trương này chưa thực sự biến thành các hành
động cụ thể ở từng trường phổ thông. Ở các vùng đồng bằng, miền núi, các
trường không có điều kiện trang bị cơ sở vật chất tối thiểu để ứng dụng CNTT
trong dạy học. Một số trường ở thành phố bước đầu đã xây dựng được cơ sở
vật chất, tuy nhiên chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu ứng dụng CNTT trong một số
bộ phận GV và HS. Số lượng PMDH hạn chế, tài liệu hướng dẫn GV sử dụng
PMDH để dạy các môn học còn thiếu, GV còn hạn chế về kiến thức và kĩ
15
năng sử dụng PMDH các bộ môn.
Tham khảo thông tin đại chúng, chúng tôi thấy việc ứng dụng CNTT
vào giảng dạy ở các trường THPT còn ít, tỷ lệ GV sử dụng các chương trình,
phần mềm CNTT vào việc giảng dạy các môn học khác chiếm tỷ lệ nhỏ. Hiện
nay, việc ứng dụng CNTT trong các trường học chủ yếu mới chỉ ở mức độ
quản lý. CNTT và máy tính chủ yếu phục vụ cho công tác quản lí hồ sơ, thời
khoá biểu, điểm kiểm tra của GV và HS, soạn thảo và quản lí các văn bản chỉ
đạo và báo cáo của nhà trường hoặc phục vụ kế toán; việc ứng dụng CNTT
vào quản lí chủ yếu cũng chỉ được áp dụng ở các trường THPT và trung học cơ
sở. Việc sử dụng CNTT làm công cụ để phục vụ giảng dạy các môn học khác
còn rất ít, các phần mềm ứng dụng CNTT chưa được chú trọng. CNTT chưa thực
sự được ứng dụng mạnh mẽ và đồng bộ trong toàn bộ hệ thống giáo dục.
1.2.3.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong nhà trường THPT
Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT đã dẫn tới nhiều cuộc cách mạng trên hầu

ta tìm những "Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin
nhanh hơn , nhiều hơn và hiệu quả hơn".
Nhờ sự phát triển của KHKT, quá trình dạy học đã sử dụng PTDH như:
phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead; phần mềm hỗ trợ giảng bài,
minh họa trên lớp với Projector; phần mềm dạy học giúp học sinh học bài trên
lớp và ở nhà; công nghệ kiểm tra, đánh giá trắc nghiệm trên máy tính; sử dụng
Internet, thiết bị đa phương tiện để dạy học.
1.2.3.4. Một số hướng chính trong việc sử dụng CNTT trong dạy học toán
Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi phân tích một số tác động tiêu
biểu của CNTT-TT trong dạy và học toán.
Theo Trịnh Thanh Hải [9], Nguyễn Chí Thành [19] , CNTT-TT tác động
đến day-học toán ở những khía cạnh sau:
17
* Hoạt động dạy của GV
- CNTT-TT làm thay đổi vai trò của người GV, CNTT-TT giúp giáo viên
có thể điều chỉnh quá trình học tập của HS.
- Sự hỗ trợ của MTĐT với các phần mềm kiểm tra, đánh giá, giáo viên có
điều kiện kiểm soát , điều chỉnh toàn bộ quá trình học tập của HS.
- Qua sử dụng MTĐT GV có thể xây dựng các mô hình trực quan.
* Hoạt động học của HS
- CNTT-TT tác động trực tiếp đến HĐ của HS để HS có điều kiện hiểu
sâu kiến thức, mở rộng nội dung kiến thức.
* Hình thức dạy học
- CNTT-TT tạo điều kiện để GV tiến hành dạy học phân hoá trong quá
trình dạy học toán.
- Với sự hỗ trợ CNTT-TT, các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt,
dạy học theo nhóm, dạy học cá thể có điều kiện kết hợp một cách hiệu quả,
linh hoạt.
* Kiểm tra , đánh giá
- Sử dụng CNTT-TT trong dạy học toán tạo điều kiện thuận lợi để GV

và cả môi trường tin học như giáo viên phải thiết kế, tạo ra các tình huống dạy
học để HS HĐ với MTĐT.
Qua sự phân tích trên, chúng tôi thấy với sự hỗ trợ của CNTT-TT có thể
khắc phục lối dạy truyền thụ một chiều đồng thời tạo ra môi trường học tập
tương tác nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, phát triển tư duy,
phát triển năng lực của HS. Đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề, phát triển
khả năng tự học của HS. CNTT-TT góp phần tạo ra các hình thức dạy học
phong phú đa dạng, thay đổi cách thức HĐ của GV và HS, hình thành ở HS
phong cách làm việc mới phù hợp với xu hướng thời đại, trang bị cho HS
nhiều đức tính quý báu cần thiết trong xã hội ngày nay.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status