MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt i
Danh mục bảng biểu ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Số thứ tự Ký hiệu Nguyên nghĩa
1 CCKT Cơ cấu kinh tế
2 CM- KT Chuyên môn kỹ thuật
3 CN- XD Công nghiệp- Xây dựng
4 CN và DV Công nghiệp và dịch vụ
5 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
6 GQVL Giải quyết việc làm
7 KCN Khu công nghiệp
8 KT- XH Kinh tế- xã hội
9 NSNN Ngân sách Nhà nước
10 TB- XH Thương binh- Xã hội
11 TM- DV Thương mại- Dịch vụ
12 UBND Ủy ban nhân dân
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT Số hiệu Tên bảng Trang
1 2.1 Cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành 44
2 2.2 Nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp
năm 2012
49
3 2.3 Ngành nghề mới và việc làm được tạo ra tính đến
9/2012
52
4 2.4 Cơ cấu lao động theo ngành 53
5 2.5 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn kỹ
thuật
55
quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của hệ thống
chính trị và toàn xã hội [12] ”.
Sau gần 30 năm đổi mới nền kinh tế, nông nghiệp đã có sự phát triển
vượt bậc giúp cho Việt Nam từ chỗ là một nước nhập khẩu lương thực đã trở
thành một trong những quốc gia hàng đầu về sản xuất và xuất khẩu lúa gạo.
Đặc biệt, tỷ lệ nghèo đói ở khu vực nông thôn giảm nhanh, mức sống chung
của đông đảo người dân cũng đã được cải thiện; đời sống kinh tế- xã hội ở
nông thôn đã có những chuyển biến quan trọng trên con đường hình thành và
phát triển một nông thôn mới, hiện đại.
Tuy nhiên, trong quá trình CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn nói riêng cũng kéo theo nhiều hệ lụy, làm nảy sinh nhiều
vấn đề bất cập đe dọa đến sự phát triển trong tương lai của nông nghiệp, nông
thôn, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế đang hội nhập ngày càng sâu vào nền
kinh tế thế giới. Có thể kể đến một số bất cập lớn như: chất lượng và hiệu quả
tăng trưởng kinh tế nông nghiệp thấp, năng lực cạnh tranh quốc tế của các mặt
hàng nông sản Việt Nam hạn chế, và đặc biệt là tình trạng lao động thuần
nông bị mất việc làm ngày càng gia tăng…Tất cả những điều đó đang trở
thành những vấn đề quan trọng cần được đặt lên hàng đầu để giải quyết vấn
đề kinh tế- xã hội có tính toàn cầu là giải quyết việc làm cho người lao động.
Quốc Oai là một huyện ngoại thành Hà Nội. Cùng với quá trình phát
triển chung của cả nước, của toàn thành phố thì kinh tế- xã hội của Huyện
cũng đang phát triển rất sôi động. Với những thành tựu đạt được trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nông dân
huyện Quốc Oai cũng phải chịu sức ép nặng nề của quá trình đó. Đó là: diện
tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, phân hóa giàu nghèo ngày càng xa,
ô nhiễm môi trường ngày càng nặng, …và đặc biệt là tình trạng thất nghiệp,
thiếu việc làm gia tăng, theo đó là sự tăng lên của các tệ nạn xã hội.
Để giải quyết vấn đề này, chính quyền địa phương cũng đã thực hiện
nhiều giải pháp: đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; phát
triển các hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn; đẩy mạnh chuyển
số vấn đề về lối sống văn hóa ở nông thôn nước ta trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” hay là bài viết “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất” của Thạc sỹ Nguyễn thị Thu
Hoài,…Các bài viết đã phân tích những tác động tích cực cũng như những hệ
lụy không thể tránh khỏi của quá trình CNH, HĐH nói chung, quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng tới việc làm, đời sống của người lao
động ở nông thôn Việt Nam; một số bài viết khác như: “ Quan điểm và giải
pháp đảm bảo việc làm, thu nhập và đời sống cho người dân bị thu hồi đất
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Vũ Trường Giang; “ Đào
tạo nghề cho nông dân- yêu cầu cấp bách của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” của PGS. TS Bùi Thị Ngọc Lan,… thì lại tập trung đưa ra và
phân tích một số giải pháp cho những vấn đề đang tồn tại trong nông nghiệp,
nông thôn; ngoài ra, còn một số các bài viết phân tích về vai trò, quan điểm,
chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp phát triển nông
nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
- “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận
tới thực tiễn ở Việt nam hiện nay” của Phạm Ngọc Dũng (Chủ biên), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011. Trong cuốn sách này, các tác giả đưa ra
khái niệm về công nghiệp hóa, chỉ ra những đặc điểm của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay. Các tác giả có một cái nhìn xâu chuỗi về
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiêp, nông thôn từ Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ III (1960) đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
(2011). Từ định hướng của Đảng về quan hệ công – nông nghiệp, qua các Đại
hội và các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, các tác giả làm rõ sự
thay đổi tư duy lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ.
Từ việc trình bày các chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, các tác giả cũng chỉ rõ
thực trạng một số vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh trong thực hiện công nghiệp
hóa ở nông thôn Việt Nam như: tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, phân
hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội, ô nhiễm môi trường và suy thoái văn
vai trò của chính sách việc làm trong hệ thống chính sách xã hội ở Việt nam,
đồng thời đưa ra các khái niệm về lao động, thị trường lao động, việc làm,
thực trạng vấn đề việc làm ở Việt nam và phương hướng giải quyết, khuyến
nghị, định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm và mô hình tổng quát
về chương trình quốc gia xúc tiến việc làm.
- Dạy nghề cho nông dân là giải pháp quan trọng phát triển tam nông
bền vững, của Cao Văn Sâm, Tạp chí Lao động xã hội số tháng 9/ 2012. Trên
cơ sở số liệu thực tế đạt được tại các vùng nông thôn, bài viết đánh giá những
thành tựu căn bản đạt được ở khu vực nông nghiệp nông thôn trong quá trình
CNH, HĐH, trong đó, phân tích sâu phương diện chất lượng nguồn nhân lực
và chất lượng đời sống nông dân. Bài viết cho rằng để làm tăng thêm hiệu quả
của những chủ trương, chính sách, đề án của Đảng và Nhà nước thì dạy nghề
cho nông dân là một giải pháp cần phải đặc biệt quan tâm. Đồng thời tác giả
cũng đã đưa ra một số những khó khăn, thách thức gặp phải khi thực hiện chủ
trương này.
Nhìn chung, các công trình trên đã nêu ra được những vấn đề lý luận và
thực tiễn của CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn; việc làm và thị trường lao
động; thực trạng và những giải pháp để giải quyết vấn đề việc làm cho người
lao động ở nông thôn. Đó là nguồn tài liệu quý giá để chúng tôi kế thừa trong
quá trình thực hiện luận văn này. Tuy vậy, vấn đề tác động của quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tới việc làm của người lao động nhất là
tại địa bàn huyện Quốc Oai thì vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện và hệ thống. Đây là khoảng trống kiến thức mà luận văn này
mong muốn tìm hiểu và giải đáp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là từ sự nghiên cứu, phân tích tác động của quá
trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tới việc làm của nông dân đặc biệt
là tại huyện Quốc Oai, đề xuất những quan điểm, định hướng và giải pháp hạn
chế tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến việc làm của người lao động trên
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật, chính sách của
Nhà nước Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp chung của luận văn là sử dụng: luận văn dựa trên
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử và phương pháp trừu tượng hóa khoa học.
- Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một số phương pháp cụ thể khác, như:
+ Phương pháp thống kê- so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp này
để thống kê về thực trạng lao động nông thôn trong huyện cơ cấu làm việc
trong những ngành nghề nào, trình độ lao động,…
+ Phương pháp phân tích - tổng hợp: Luận văn trên cơ sở phân tích,
chia ra thành nhiều lĩnh vực khác nhau để từ đó tổng hợp lại, đưa ra những
đánh giá khái quát tới cụ thể nhất về tình hình việc làm của lao động nông
thôn trong huyện.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận dưới góc độ kinh
tế học chính trị về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và tác động của nó tới
việc làm của người lao động đặc biệt là đối với nông dân.
- Đánh giá tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn tới việc làm của nông dân trên địa bàn huyện Quốc Oai
trong thời gian qua trên cả hai mặt: tác động tích cực và tác động tiêu cực;
những biện pháp của chính quyền địa phương trong giải quyết việc làm cho
người lao động, rút ra những hạn chế trong vấn đề này và nguyên nhân của nó.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và một số giải pháp hạn chế tác động
tiêu cực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
tới việc làm của nông dân và nâng cao hiệu quả công tác giải quyết việc làm
cho nông dân trên địa bàn huyện trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
phạm trù có mối quan hệ với nhau, trong đó, công nghiệp hóa nông thôn bao
hàm cả công nghiệp hóa nông nghiệp; còn công nghiệp hóa nông nghiệp chỉ
là một mặt và là mặt chủ yếu của công nghiệp hóa nông thôn. Hay nói cách
khác thì công nghiệp hóa nông nghiệp mới chỉ phản ánh được một lĩnh vực
của công nghiệp hóa nông thôn là nông nghiệp. Thực ra công nghiệp hóa
nông thôn còn phản ánh sự phát triển của các ngành kinh tế khác trên địa bàn
nông thôn.
Hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình ứng dụng những tiến bộ khoa
học công nghệ tiên tiến vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao
năng suất, chất lượng và hiệu quả còn Hiện đại hóa nông thôn là quá trình
biến đổi cơ cấu kinh tế nông thôn từ trạng thái kinh tế thuần nông thành khu
vực nông thôn phát triển toàn diện, hiện đại dựa trên nền tảng của sự phát
triển khoa học công nghệ, phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Giữa hiện đại hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn có sự khác
nhau nhất định. Nếu hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình làm tăng năng suất
lao động, tăng chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp, thì hiện đại hóa
nông thôn, ngoài việc đó ra còn phải tạo sự phát triển của công nghiệp, dịch
vụ và mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội nông thôn như: phát triển hệ thống
điện, đường, trường, trạm,…và cả đời sống văn hóa- tinh thần.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung Ương Đảng
khóa IX đã chỉ ra nội dung tổng quát của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
gồm hai quá trình là: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn. Văn kiện ghi: “Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường;
thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa
học công nghệ, trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công
nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường.
CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
vững chắc thúc đẩy toàn bộ quá trình CNH, HĐH nền kinh tế đất nước . Ở các
nước chậm và đang phát triển trong đó có Việt Nam, nguồn đóng góp của
nông nghiệp vào GDP là rất quan trọng để phát triển kinh tế. Nếu như không
có các dòng đầu tư nước ngoài, chiến lược phát triển công nghiệp ở các nước
này trong giai đoạn đầu tất nhiên phải dựa vào tích luỹ từ nông nghiệp. Hơn
nữa, khi nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân được nâng cao thì họ mới
có sức mua để tiêu thụ hàng hoá công nghiệp và dịch vụ nội địa. Do vậy,
riêng đối với Việt Nam, là một đất nước đang phát triển, để thúc đẩy quá trình
CNH, HĐH nền kinh tế đất nước thì ta phải đặc biệt coi trọng CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn.
Mặt khác, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là mũi đột phá quan
trọng nhằm giải phóng sức lao động của giai cấp nông dân, tạo điều kiện khai
thác tốt nhất tiềm năng dồi dào về đất đai và lao động. Việt Nam có nguồn lao
động dồi dào, đây là một lợi thế tương đối quan trọng để tiến hành CNH,
HĐH ở nông thôn. Ngược lại, khi quá trình đó diễn ra, nó lại giải phóng sức
lao động ở nông thôn tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Ngoài lợi
thế về nguồn lao động thì nước ta có một nguồn tài nguyên về đất đai vô cùng
phong phú, trước đây mới chỉ khai thác bằng những kỹ thuật lạc hậu, qua kinh
nghiệm lâu đời. Thực hiện CNH, HĐH nông thôn ta có thể khai thác tốt nhất
tiềm năng về đất đai để phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.
Thứ hai, do vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong phát triển kinh
tế- xã hội.
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong phát triển KT-
XH, nhất là đối với một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu như Việt Nam.
Các vai trò cơ bản của nông nghiệp, nông thôn là: cung cấp lương thực- thực
phẩm cho xã hội; cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản
phẩm; cung cấp nguồn nhân lực cho công nghiệp và dịch vụ; tích lũy vốn cho
nền kinh tế và là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho CN và DV. Các vai trò đó sẽ
được nâng cao nếu nông nghiệp và nông thôn được CNH, HĐH. Cụ thể:
+ CNH, HĐH nông nghiệp sẽ làm tăng sản lượng lương thực, thực
nghiệp nhằm tạo ra giá trị thu nhập cao mặt khác sẽ tạo ra hàng hóa có giá trị
gia tăng cao, do đó tổng giá trị hàng hóa nông sản nói chung và giá trị kim
ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sẽ tăng nhanh. Đây là nguồn vốn tích lũy
quan trọng cho quá trình CNH, HĐH.
+ Nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của hàng hóa
CN và DV.
Một khi nông nghiệp và nông thôn được CNH, HĐH, đời sống của
người dân nông thôn được nâng cao, tất yếu sẽ làm tăng sức mua của thị
trường. Khi đó, CN và DV có cơ hội đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa tại thị
trường nông thôn. Vậy là, nông thôn đã thực sự trở thành động lực thúc đẩy CN
và DV mở rộng sản xuất, kinh doanh, nhờ đó, KT- XH cũng sẽ được phát triển.
+ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, đời sống dân cư được nâng
cao, là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị, xã hội
Nông thôn là khu vực kinh tế rộng lớn, tập trung phần lớn dân cư của
đất nước. Phát triển kinh tế nông thôn một mặt đảm bảo nhu cầu lương thực
thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ, là thị trường của CN
và DV … Mặt khác , phát triển kinh tế nông thôn trực tiếp nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn. Hơn thế nữa, cư dân nông thôn
chủ yếu là nông dân, người bạn đồng minh, là chỗ dựa đáng tin cậy của giai
cấp công nhân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc
xã hội chủ nghĩa. Phát triển nông nghiệp, nông thôn góp phần củng cố liên
minh công nông, tăng cường sức mạnh của chuyên chính vô sản.
1.1.2. Nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn
1.1.2.1. Trang bị kỹ thuật hiện đại cho sản xuất nông nghiệp và ngành
nghề ở nông thôn
Để trang bị kỹ thuật cho nông nghiệp và ngành nghề ở nông thôn,
CNH, HĐH có nội dung cơ bản là phải thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa,
thủy lợi hóa, sinh học hóa và tin học hóa.
Cơ khí hóa:
chủ yếu là do không chủ động được nguồn nước tưới tiêu hợp lý.
Như vậy, muốn đạt hiệu quả sản xuất nông nghiệp cao cần phải phát
triển mạnh hệ thống thủy lợi, thủy nông để đảm bảo việc tưới tiêu chủ động,
khoa học. Nội dung CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn về mặt này có nhiệm
vụ quan trọng và cấp bách là phải tăng cường hệ thống trạm bơm, tu bổ hệ
thống kênh mương, hồ đập, hệ thống đập ngăn mặn để giải quyết về cơ bản
yêu cầu nước tưới và tiêu úng, thoát lũ cho các vùng nông nghiệp. Đối với
vùng sản xuất tập trung chuyên canh trên một diện tích rộng như trong các
trang trại cà phê, hồ tiêu, cam, chè…thì cần phải trang bị công nghệ hiện đại
như hệ thống các dàn phun mới đảm bảo được hệ thống tưới nước một cách
khoa học, mang lại hiệu quả cao hơn.
Điện khí hóa:
Đây là điều kiện để các công cụ cơ giới phát huy tác dụng. Ở Việt
Nam, vai trò của điện khí hóa nông thôn mặc dù đã được đặt ra khá lâu,
nhưng thực tế mới chỉ được ứng dụng một cách rộng rãi vào cuối thập kỷ 90
của thế kỷ XX, khi mạng lưới điện quốc gia đã về tới các vùng nông thôn
Thực hiện nội dung điện khí hóa nông thôn trong những năm trước
mắt là đẩy mạnh xây dựng các trạm điện với công suất khác nhau không chỉ
đến các huyện mà còn phải đến các xã, thôn. Đối với nông thôn vùng sâu,
vùng xa do có khó khăn về vốn và đường điện thì cần chú trọng phát triển các
loại máy phát điện cỡ nhỏ, động cơ điện dùng trong nông nghiệp và nông thôn.
Đây là một quá trình khó khăn, lâu dài nên phải thực hiện dần dần từng bước.
Sinh học hóa:
Sự phát triển của công nghệ sinh học có vai trò ngày càng lớn đối với
kinh tế nông nghiệp. Nó không chỉ có tác động đến việc cải tạo giống cây,
giống con hay tạo ra những giống mới có năng suất, chất lượng cao mà còn có
tác động to lớn đến khâu chế biến, bảo quản giá trị của sản phẩm. Vì vậy,
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay có nội dung là: áp dụng nhanh
các thành tựu của cách mạng sinh học để tạo và nhân nhanh giống cây trồng,
vật nuôi đặc biệt là áp dụng thành tựu về giống có ưu thế lai như kỹ thuật cấy
Tình trạng độc canh, thuần nông là đặc trưng của nền sản xuất nhỏ, tự
cấp tự túc. Hậu quả của nó là không tạo được một sức bật cho sự phát triển
nông thôn. Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, cơ cấu nông
nghiệp ở nước ta được bố trí theo ý đồ chủ quan, đưa ra những mô hình cây
trồng, vật nuôi thoát ly thực tế các mối quan hệ kinh tế, kỹ thuật, môi trường
và thể chế… do đó ít mang lại hiệu quả. Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn đòi hỏi phải phá bỏ cơ cấu lạc hậu đó, hướng vào nền nông nghiệp
phát triển đa dạng về cây và con phù hợp với mọi điều kiện của nước ta.
Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đòi hỏi nông nghiệp phải thực hiện ba
nhiệm vụ lớn và trực tiếp là: bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, đảm bảo
tối đa nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tăng giá trị cho nông
sản đặc biệt là nông sản xuất khẩu. Để thực hiện các nhiệm vụ này thì việc
xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý cho nông nghiệp, nông thôn là một nhu cầu
cấp bách, sẽ cho phép chọn được những công nghệ thích hợp để phù hợp với
thế mạnh vốn có của nông nghiệp, nông thôn, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày
càng cao của xã hội
Thứ hai, chuyển nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn từ trạng thái tự
cấp, tự túc sang nền nông nghiệp hàng hóa, hướng mạnh vào xuất khẩu, mở
rộng phân công và hợp tác quốc tế
Đây là xu thế tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển chung của các nước
đang phát triển, mà Việt Nam cũng không nằm ngoài những vấn đề mang tính
quy luật đó. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa là phải
giảm dần tỷ trọng diện tích và tỷ trọng giá trị những cây, con cho năng suất và
giá trị hàng hóa thấp, tăng dần tỷ trọng diện tích và tỷ trọng giá trị các loại
cây và con có giá trị thương phẩm cao, có thị trường tiêu thụ lớn. Trước mắt,
phải giảm tỷ trọng giá trị trồng trọt, tăng tỷ trọng giá trị chăn nuôi; trong trồng
trọt thì giảm tỷ trọng giá trị cây lương thực, tăng tỷ trọng giá trị cây thực
phẩm, cây ăn quả, cây lâm nghiệp và cây công nghiệp, đặc biệt phải mở rộng
diện tích các loại cây đặc sản cho giá trị xuất khẩu cao như: bưởi Năm Roi,
bưởi Phúc Trạch, thanh long Bình Thuận, nhãn lồng Hưng Yên,…giảm tỷ
sâu và tinh, gây bất lợi lớn trong cạnh tranh. Vấn đề này đặt ra yêu cầu cấp
bách cho CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là phải phát triển mạnh mẽ
công nghiệp chế biến để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên cơ sở
khai thác lợi thế về điều kiện sinh thái, tiềm năng đất đai và lao động, thích
ứng với thế mạnh từng vùng. Ngoài ra, cùng với phát triển công nghiệp chế
biến thì việc phát triển các làng nghề truyền thống- với vai trò là cầu nối giữa
nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và thành thị, giữa truyền thống
và hiện đại, cũng là vấn đề hết sức quan trọng.
1.1.2.3. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho sự phát triển nông
nghiệp, nông thôn
Nói đến kết cấu hạ tầng kinh tế xã- hội nông thôn là nói đến những
điều kiện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn, bao gồm: hệ thống
hạ tầng kinh tế - kỹ thuật như điện, nước, giao thông, thông tin liên lạc,
phương tiện đi lại,…và hệ thống hạ tầng KT- XH như phòng khám đa khoa,
bệnh viện, các loại hình trường học, các loại hình dịch vụ văn hóa,…
Do nông thôn là những vùng rộng lớn trải khắp đất nước, với trình độ
phát triển KT- XH khác nhau nên cần phải xác định phương án và các bước
tiến hành xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng cho phù hợp với từng vùng nông
thôn, trong từng thời kỳ cụ thể. Cần phải nhận thấy một điều rằng sản xuất
nông nghiệp hàng hóa và phát triển công nghiệp nông thôn không thể thiếu
các công trình thủy lợi, đường sá, hệ thống điện, nước, hệ thống thông tin liên
lạc, chợ và các trung tâm buôn bán,…Việc xây dựng hệ thống này có vai trò
hết sức to lớn và trở thành một nội dung quyết định của sự nghiệp CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn nói riêng và CNH, HĐH đất nước nói chung.
Khi hệ thống kết cấu hạ tầng KT-XH ở nông thôn được quan tâm phát
triển sẽ tạo sự thay đổi về chất của bộ mặt nông thôn, đặt nền tảng cho tiến
trình phát triển lâu dài, hiện đại. Đó là điều kiện, động lực cho việc nâng cao
năng suất lao động xã hội, chuyển giao công nghệ nói riêng và thực hiện cách
mạng khoa học công nghệ nói chung. Đối với các vùng nông thôn chậm phát
triển thì xây dựng kết cấu hạ tầng còn là cách thức để xóa bỏ sự cách biệt về