MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam thực hiện mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với phương châm công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đến năm 2020 đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp. Với
đường lối chính sách và cơ chế hợp lý, cùng với lộ trình hội nhập kinh tế quốc
tế phù hợp với điều kiện cụ thể, Việt Nam đã thực hiện được chủ trương đa
dạng hóa thị trường, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài
và chủ động phát huy nội lực, nền kinh tế đất nước đã có những bước phát
triển vượt bậc với tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trưởng bình quân
tăng gần 8% năm, xã hội ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững.
Động lực cơ bản đưa đất nước ta trở thành một nước công nghiệp mà
Đảng và nhà nước ta đã đề ra, chính là nguồn nhân lực được đào tạo, đó là
nhân tố con người tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã
khẳng định: "Con người vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển.
Là nhân tố quyết định mọi thắng lợi".[ 9, tr 120]. Muốn thực hiện thành
công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết phải chú
trọng đến phát triển nguồn nhân lực mà chất lượng nguồn nhân lực đó phụ
thuộc vào chất lượng giáo dục. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX chỉ rõ:
"Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung
phương pháp dạy - học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục,
thực hiện chuẩn hóa hiện đại hóa và xã hội hóa".[11, tr 132]
Bên cạnh nhu cầu bức thiết nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế trọng
điểm, thì nhu cầu về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đã đặt ra những
áp lực lớn của xã hội với mục tiêu của ngành y tế là đảm bảo cho mọi người
được chăm sóc sức khỏe cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công
bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hóa, trật tự an toàn
xã hội, tạo niềm tin của nhân dân đối với xã hội chủ nghĩa.
Trước yêu cầu của xã hội, để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa,
về chất lượng và số lượng cho nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân
trong thời kỳ CNH và HĐH đất nước.
- Đề tài khoa học "Một số vấn đề về cơ sở khoa học, thực tiễn của việc
xã hội hóa y tế" do Thạc sĩ Vũ Thị Minh Hạnh thực hiện nhằm làm rõ một số
cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề xã hội hóa y tế ở nước ta giai đoạn
hiện nay.
- Đề tài khoa học “Đánh giá hiệu quả hoạt động của bác sĩ
xã/phường tại một số địa phương” do tác giả Lưu Hoài Chuẩn và các cộng
sự thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của bác sĩ tuyến xã/phường và
đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của họ.
- Luận văn thạc sĩ khoa học triết học “Xu hướng và giải pháp phát
triển nguồn nhân lực ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa” do Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân thực hiện nhằm phân tích những xu
hướng và đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở nước ta trong
thời kỳ CNH, HĐH.
- Trong những năm gần đây đã có một số bài nghiên cứu, trao đổi xung
quanh vấn đề đổi mới và phát triển nguồn lực lao động y tế đăng trên các tạp
chí và website như website Việt báo, tạp chí Thông tin y học thư viện trung
ương, tạp chí Y học công cộng, tạp chí Chính sách y tế…
+ PGS.TS Nguyễn Thị Kim Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế "Bốn rào cản
chất lượng nguồn nhân lực y tế” đã chỉ ra nhiều vấn đề còn hạn chế về chất
lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế.
3
+ Tác giả Thái Bình báo Sức khỏe và Đời sống “Đào tạo nguồn nhân
lực y tế: mấu chốt nâng cao chất lượng khám chữa bệnh” nhằm tìm những
bước đi thích hợp trong việc đảm bảo đào tạo được số lượng và chất lượng
cán bộ y tế.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế đã tổ chức nhiều hội nghị, hội
thảo mở rộng về vấn đề phát triển nguồn nhân lực y tế, gần đây nhất là hội
thảo quốc gia về đào tạo nhân lực y tế theo nhu cầu xã hội được Bộ Giáo dục
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn tập trung làm rõ thực trạng của việc đào tạo nguồn nhân lực
ngành Y tế Việt Nam hiện nay, từ đó bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực ngành y tế ở nước ta hiện
nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng
dạy, học tập, hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực ngành Y tế Việt
Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Vai trò của việc đào tạo nguồn nhân lực đối với ngành Y tế
Việt Nam hiện nay trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Chương 2: Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế Việt Nam
hiện nay (qua khảo sát một số cơ sở đào tạo cán bộ y tế).
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo
nguồn nhân lực ngành Y tế Việt Nam hiện nay.
5
Chương 1
VAI TRÒ CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
ĐỐI VỚI NGÀNH Y TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY TRONG CÔNG TÁC
CHĂM SÓC, BẢO VỆ SỨC KHỎE NHÂN DÂN
1.1. Khái quát về đào tạo nguồn nhân lực và nguồn nhân lực y tế
1.1.1. Về đào tạo nguồn nhân lực
Trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của mình, luôn trung thành với tư
tưởng “vì con người và giải phóng con người” của C.Mác, Đảng ta thường
xuyên khẳng định “con người là vốn quý nhất của chế độ ta”. Bắt đầu từ đại
hội VI, đặc biệt là từ Đại hội VII, Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn
vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội. Từ đó đến
nay, Đảng ta luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
của đất nước.
Như vậy, khái niệm “nguồn nhân lực” chỉ những thế hệ nối tiếp nhau
của những “con người chủ thể” với những phẩm chất nhất định (thể lực, trí
lực, nhân cách) đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Báo cáo chính trị tại Đại hội X Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định:
“Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển
nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững";
Đầu tư đào tạo phát triển nguồn lực con người được hiểu ở cả ba lĩnh
vực chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục đào tạo,
7
nhưng trong đó giáo dục đào tạo có vị trí quan trọng nhất. Trong Từ điển bách
khoa Việt Nam, khái niệm đào tạo được hiểu là:
“Đào tạo, quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người
đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ
thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng
nhận một sự phân công nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã
hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là
giảng dạy và học tập trong nhà trường phải gắn với giáo dục đạo đức, nhân
cách. Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của một người còn
do việc tự đào tạo của người đã thể hiện ra ở việc tự học và tham gia các
hoạt động xã hội, lao động sản xuất rồi tự rút ra kinh nghiệm của người đó
quyết định. Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào
tạo một cách tích cực, tự giác thì quá trình đào tạo mới có hiệu quả cao. Tùy
theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt
đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ
cho nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã
hội, của tình trạng khoa học kỹ thuật và văn hóa của đất nước… Có nhiều
thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, hành vi… của mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ
có thể thực hiện một cách có năng suất và hiệu quả trong lĩnh vực công tác
của họ, hoặc để làm các công việc khác trong tương lai. Đào tạo là quá trình
tác động đến con người nhằm làm cho con người lĩnh hội và nắm vững những
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống, chuẩn bị cho con người
thích nghi với cuộc sống và khả năng tiếp nhận sự phân công lao động nhất
định, hoàn thành tốt công việc được giao.
1.1.2. Về đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế
Đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế là việc đào tạo trong các trường đại
học, cao đẳng hoặc trung học chuyên nghiệp thuộc khối ngành Y tế nhằm
9
trang bị những kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức… cho người
làm công tác y tế nhằm mục đích chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho con người.
Nội dung của đào tạo về chuyên môn nguồn nhân lực nói chung, và
nguồn nhân lực y tế nói riêng, bao gồm ba nội dung chính là:
Đào tạo mới: tức là đào tạo cho những người chưa biết nghề, để họ có
một nghề nào đó trong nền kinh tế.
Đào tạo lại: Là đào tạo cho những người đã có nghề, nhưng nghề đó
hiện không còn phù hợp nữa.
Đào tạo nâng cao trình độ tay nghề: là đào tạo cho những người đã có
nghề, để họ có thể đảm nhiệm những công việc phức tạp hơn, có yêu cầu trình
độ cao hơn.
Mục tiêu chung của đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế:
Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng thực hành cho đội
ngũ cán bộ làm công tác y tế, nâng cao chất lượng toàn diện nguồn nhân lực y
tế, đáp ứng nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong
tình hình mới.
Trang bị nâng cao kiến thức, kỹ năng quản lý điều hành cho đội ngũ
cán bộ làm công tác quản lý từ đó nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về y tế.
Nói tới vai trò của đào tạo nguồn nhân lực đối với ngành Y tế, Nghị
- Thêm vào đó các cán bộ y tế còn tham gia các chương trình đào tạo
sau đại học khác như thạc sĩ, tiến sĩ tùy theo nhu cầu của công việc và nguyện
vọng của cá nhân.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với vấn đề đào tạo
nguồn nhân lực nói chung, đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế có chất lượng
cao là yêu cầu cơ bản, lâu dài đối với tất cả các quốc gia. Ở nước ta, vấn đề
này trở thành vấn đề hệ trọng, vừa cơ bản vừa cấp bách. Bởi lẽ, nếu không có
11
nguồn nhân lực đủ mạnh thúc đẩy ngành Y tế phát triển thì chúng ta khó tránh
khỏi những nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn với các nước.
Nói đến nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trong ngành Y tế
nói riêng, không chỉ là số lượng mà điều quan trọng hơn là chất lượng của nó,
tức là những con người đã qua giáo dục và đào tạo. Ngành Y tế là một trong
những ngành đặc biệt cần những y bác sĩ có trình độ, không giống như trong
nhiều ngành công nghiệp chỉ cần nhân lực dồi dào, đối với công tác chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe nhân dân, cần có một nguồn nhân lực đạt đến một trình độ
nhất định, phải trải qua một quá trình giáo dục, đào tạo lâu dài và nghiêm khắc.
Nguồn nhân lực ngành Y tế cũng như nguồn nhân lực con người nói
chung được đào tạo sẽ có cơ hội phát triển và hoàn thiện các năng lực và tài
năng của mình. Thông qua giáo dục đào tạo, các cá nhân được cung cấp
những kiến thức cơ bản, cần thiết làm cơ sở cho việc hoàn thiện và phát triển
những phẩm chất và tài năng của cá nhân, góp phần tạo ra những giá trị mới
để thay đổi, làm tăng khả năng tiếp nhận những ý tưởng mới và làm thay đổi
quá trình chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người ngày càng tốt hơn.
Hiện nay, cũng như nhiều nước châu Á, ngành Y tế Việt Nam đang bị
thiếu hụt khá nghiêm trọng về lực lượng có trình độ tay nghề và chuyên môn
cao. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng đó là do công tác đào tạo chưa đáp
ứng kịp nhu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội. Biện pháp khắc phục cơ bản
và có tầm chiến lược chính là phát triển chất lượng nguồn nhân lực ngành qua
đào tạo chuyên môn sâu.
hình thành các trung tâm y tế chuyên sâu kỹ thuật cao, thực hiện được nhiều
tiến bộ khoa học, công nghệ y học hiện đại, chất lượng chẩn đoán và điều trị
được nâng cao rõ rệt. Về công nghiệp dược, đến nay chúng ta đã có gần 50
dây chuyền sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn thực hành tốt (GMP); mạng lưới y
tế cơ sở được củng cố, cung cấp các dịch vụ y tế gần dân hơn. Nhìn chung,
13
ngành Y tế đã đạt được các mục tiêu đề ra là, tuổi thọ của người dân được
tăng lên, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm, tỷ lệ chết mẹ và
chết trẻ sơ sinh giảm rõ rệt,… trong quá trình xây dựng và phát triển, ngành Y
tế Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn rất đáng tự hào trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển mặc dù vẫn còn những yếu kém và những thách
thức cần được giải quyết. Nhìn một cách tổng quát ở mọi góc độ khác nhau,
ngành Y tế Việt Nam đã làm biến đổi một cách sâu sắc về tất cả các mặt, từ
nhận thức tư tưởng cho đến tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động, từ y tâm,
y thuật cho đến y đức.
Bước vào thời kỳ đổi mới, ngành Y tế phải đối phó với những tác động
của nền kinh tế thị trường, từng bước tháo gỡ khó khăn để thích ứng với cơ
chế trị trường, đáp ứng được mong muốn của người dân ngày càng nhiều và
càng cao về chăm sóc sức khỏe đã bị giảm sút sau 30 năm chiến tranh. Do xác
định được phương châm: đa dạng hoá các hoạt động của ngành, xã hội hoá
công tác y tế, nên từ khi đổi mới đến nay, công tác chăm sóc sức khỏe nhân
dân đã tiến được một bước dài, bao gồm một hệ thống các cơ sở y tế nhà
nước, y tế tư nhân, hướng tới việc phục vụ nhân dân với số lượng nhiều hơn
và chất lượng cao hơn, hiệu quả hơn và công bằng hơn. Phương pháp quản lý
các cơ sở khám chữa bệnh của Nhà nước cũng thay đổi bằng cách thu một
phần viện phí của người bệnh, xây dựng hệ thống bảo hiểm y tế, cho phép mở
rộng bệnh viện tư, phòng khám tư, nhà thuốc tư. Nhiều tổ chức cá nhân đứng
ra thành lập quỹ hỗ trợ bệnh nhân nghèo, nhà nước cấp thẻ bảo hiểm y tế cho
người nghèo, cấp thuốc miễn phí cho người nghèo Các chỉ tiêu sức khỏe
nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt, năm sau tiến bộ hơn năm trước.
Từ vài trăm cán bộ y tế vào những ngày đầu thành lập nước, đến nay đã có 25
vạn người, trong đó có 47 nghìn cán bộ đại học các loại và trên 1000 cán bộ
trên đại học.
15
Số bác sĩ tính theo dân số hiện nay là 1 bác sĩ cho 2.600 dân (2000) so
với năm 1945 là 1 bác sĩ cho 220.000 dân. Tỷ lệ này chưa cao nhưng điều
đáng kích lệ là đến cuối năm 2000, dự kiến sẽ có 40% số xã có bác sĩ. Một
việc khác mà 55 năm về trước chúng ta còn mơ ước nay đã trở thành sự thật
là cán bộ y tế xã được hưởng trợ cấp hàng tháng do Nhà nước đài thọ.
Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cũng đạt được nhiều
thành tựu, trước hết là quan điểm chỉ đạo của ngành xuyên suốt 65 năm qua
trong mọi lĩnh vực hoạt động. Chúng ta kế thừa và phát huy được nhiều bài
thuốc, phương thuốc dân gian có hiệu quả, thành lập được 2 viện và 42 bệnh
viện y học cổ truyền, 262 khoa học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa,
8000 cơ sở hành nghề tư nhân về y học cổ truyền, khám và chữa bệnh bằng y
học cổ truyền cho khoảng 30% bệnh nhân đến bệnh viện, đào tạo được hàng
nghìn bác sỹ chuyên khoa y học cổ truyền, từng bước hiện đại hoá y học cổ
truyền, trồng và di thực được nhiều cây thuốc quý, đóng góp nhiều kinh
nghiệm cho các nước trên thế giới và đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết
cho việc mở một trường đại học y học cổ truyền.
Ngành Dược và ngành Trang thiết bị cũng đã trở thành ngành kinh tế
kỹ thuật. Chúng ta đã có những nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP,
thị phần thuốc trong nước tăng nhanh, mức sử dụng thuốc khoảng 6 USD/ đầu
người (2000). Tổng giá trị xuất khẩu thuốc và dược liệu đạt 15 triệu USD
(2000). Về sản xuất trang thiết bị, các nhà máy của ta đã liên doanh liên kết
với các nước sản xuất dụng cụ y tế thông thường, dụng cụ bằng cao su, chất
dẻo và lắp ráp một số máy móc hiện đại.
Hiện nay, ngành Y tế đã xây dựng được mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp
cả nước, từ Trung ương đến tỉnh, huyện, xã, từ đồng bằng trung du, các vùng
xa xôi hẻo lánh đến tận biên giới hải đảo và đang mở rộng khắp thôn xóm bản
rằng trong khoảng 2 thập kỷ tới, sẽ có sự tập trung vào các năng lực chung của
cán bộ y tế để cung cấp chăm sóc sức khỏe ban đầu ở tuyến y tế cơ sở.
Như vậy, bước vào thế kỷ XXI, ngành Y tế nước ta có nhiều thuận lợi,
nhưng cũng gặp không ít khó khăn và thách thức, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu
của người dân về các dịch vụ sức khỏe với khả năng của nền kinh tế còn hạn
hẹp, là phải giải quyết vấn đề công bằng trong việc chăm sóc sức khỏe và hiệu
quả đạt được trong nền kinh tế thị trường có sự phân tầng xã hội, vấn đề phục
vụ sức khỏe cho nhân dân các vùng sâu, vùng xa. Chúng ta phải tìm cho ra con
đường đi thích hợp, biết đón trước những thành tựu về khoa học công nghệ của
thế kỷ XXI để có thể tiến kịp các nước trong khu vực, hội nhập với nền y tế của
thời đại xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, của nhân dân đã dành cho ngành Y
tế Việt Nam. Một trong những vấn đề quan trọng đặt ra là việc đào tạo, phát
triển nguồn nhân lực ngành nhằm nâng cao cả về số lượng và chất lượng đào
tạo nhân lực y tế đáp ứng nhu cầu xã hội trong thời gian tới.
1.3. Tầm quan trọng của việc đào tạo nguồn nhân lực ngành Y tế
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhu cầu về xây dựng
và phát triển nguồn nhân lực cho ngành Y tế để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
nhân dân đang đặt ra những áp lực lớn đối với công tác đào tạo. Bởi lẽ, sức
khỏe là vốn quý của mỗi con người và toàn xã hội. Sức khỏe cũng là nhân tố
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh thời Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới sức khỏe của đồng bào, ngay từ những ngày
đầu Cách mạng tháng Tám thành công, Bác đã căn dặn: “Mỗi người dân khỏe
thì cả nước khỏe”.
Do tính chất đặc biệt quan trọng của ngành Y ở chỗ nó trực tiếp liên
quan đến tương lai, nòi giống, đến sức khỏe và sự cường thịnh của dân tộc,
của toàn xã hội. Do vậy nghề y đòi hỏi người cán bộ y tế không những có tài
mà còn cân cả đức, đức và tài của người cán bộ làm công tác y tế như hai mặt
không thể thiếu đối với thành công của nghề nghiệp. Tài ở đây là năng lực
18
chuyên môn, thể hiện ở hiệu quả trị bệnh cứu người và chăm sóc sức khỏe
học và công nghệ thông tin; từng bước đưa nền y học nước ta đạt trình độ tiên
tiến trong khu vực và thế giới”. Thứ hai, bên cạnh mặt chuyên môn, mục tiêu
của quá trình đào tạo cán bộ y tế còn là đào tạo ra những người có y đức và có
đủ sức khoẻ để có thể hoàn thành được nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ
nhân dân. Đánh giá y đức không phải qua lời nói mà qua hành vi thái độ cụ
thể với người bệnh, với giáo viên, với đồng nghiệp. Trong giáo dục, nhiều khi
chúng ta chỉ chú ý đến kiến thức, kĩ năng, mà quên hoặc chưa quan tâm đúng
mức đến thái độ (hay hành vi ứng xử).
Giáo dục y đức cho sinh viên ngành Y chủ yếu diễn ra tại giảng đường,
nhất là tại bệnh viện thực tập, môi trường đụng chạm đến thực tiễn hàng ngày,
hàng giờ. Giáo dục y đức tại giảng đường là đặt mối liên hệ chủ yếu giữa thầy và
trò, còn tại bệnh viện thực tập, sinh viên đối mặt với nhiều đối tượng: bệnh nhân
và thân nhân bệnh nhân; ban giám đốc và phòng ban; thầy, các cán bộ giảng dạy
và các bác sĩ; tập thể sinh viên; xã hội. Mỗi đối tượng là một “tiểu môi trường”
sinh động, phong phú, qua đó thầy cũng như trò rèn luyện phong cách.
Tóm lại, giáo dục y đức là một công việc lâu dài, mỗi sinh viên và thầy
giáo phải tự rèn luyện suốt đời. Giáo dục ở trường, ở bệnh viện mới chỉ là
bước đầu. Đạo đức phải xuất phát từ tính tự nguyện, tự giác, tính không vụ lợi
của hành vi, lúc đó giá trị đạo đức mới cao. Để đạt được mục tiêu này, sinh
viên phải có tinh thần tự lập, có sự tự giác, tự nguyện, có ý chí rèn luyện y
đức bền bỉ.
Trong lịch sử y học Việt Nam, Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông,
Nguyễn Đình Chiểu đều rất quan tâm đến việc răn dạy y đức cho học trò của
mình và những người hành nghề y. Các ông đều là những tấm gương lớn về y
đức cả trong lời nói lẫn việc làm để muôn đời con cháu mai sau học tập.
20
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc rèn luyện đạo
đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ, nhân viên ngành Y
tế. Người đã để lại cho chúng ta nhiều di huấn quý báu về y đức, nhiều tư
tưởng, quan điểm vô cùng sâu sắc, phong phú, có ý nghĩa định hướng cho
công việc cao quý của mình” [5, tr.271].
Luôn luôn lo tới sức khoẻ của nhân dân và rất quan tâm tới ngành Y tế,
trong thư gửi cán bộ y tế nhân ngày Thầy thuốc Việt Nam 27/2/2002, đồng
chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh viết: “Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân
dân là một công việc đặc biệt liên quan đến tài sản vô giá là sinh mệnh con
người. Cán bộ y tế phải không ngừng rèn luyện, gắn “đức và tài”, phải có “cái
tâm trong sáng” mới làm được nghề cao quý này” và đồng chí Tổng Bí thư
cũng nhắc nhở cán bộ y tế rất cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ: “Phải tiếp
tục nâng cao y đức của cán bộ y tế, thể hiện bằng các hành động cụ thể từ tiếp
đón người bệnh, khám bệnh, chẩn đoán đến điều trị và chăm sóc tại các cơ sở
y tế. Mọi biểu hiện “thương mại hóa” trong ngành Y tế, dù dưới bất cứ hình
thức nào đều cần phải sớm được khắc phục” [5, tr.155].
Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm chỉ đạo ngành Y tế nâng cao y đức.
Tại Nghị quyết số 37/CP của Chính phủ ngày 20 tháng 6 năm 1996 về định
hướng chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời gian
1996-2000 và chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam đã ghi rất rõ “coi y
đức là phẩm chất quan trọng ngang với chất lượng chuyên môn của người
thầy thuốc. Ban hành chế độ chính sách thích đáng để khuyến khích lao động
sáng tạo và tận tình phục vụ người bệnh của cán bộ y tế”. Trong chuyến thăm
các cơ sở y tế Trung ương cũng như các địa phương, các đồng chí Thủ tướng
và Phó Thủ tướng đều căn dặn cán bộ y tế cố gắng khắc phục mọi khó khăn,
22
tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn và rèn luyện phẩm chất đạo
đức, tận tình phục vụ người bệnh theo lời dạy của Bác Hồ.
Bộ Y tế luôn quan tâm chỉ đạo cán bộ y tế học tập, rèn luyện nâng cao
y đức. Thực hiện nghiêm túc và sáng tạo chủ trương của Đảng và Chính phủ,
Bộ Y tế đã tập trung chỉ đạo nâng cao đạo đức nghề nghiệp. Cố Bộ trưởng
Phạm Ngọc Thạch thường căn dặn cán bộ trong ngành hết lòng, hết sức phục
vụ người bệnh với những lời y đức gần gũi, cụ thể, chân tình: “Đến đón tiếp
niềm nở, về dặn dò ân cần, ở tận tình chăm sóc”. Cả cuộc đời của ông là tấm
Trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những thành tựu to
lớn và toàn diện mà nhân dân ta đạt được, không ít vấn đề bức xúc cần phải
giải quyết. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống
trong một bộ phận cán bộ, công chức - trong đó có cả cán bộ công chức ngành
Y tế - diễn ra một cách nghiêm trọng, đang trở thành những tấm gương phản
diện, có tác dụng không tốt đến công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt
Nam nói chung, sinh viên ngành Y nói riêng. Vấn đề càng trở nên cấp bách
hơn khi Việt Nam bước vào thời kì hội nhập kinh tế thế giới. Hơn lúc nào hết,
việc đào tạo nguồn nhân lực y tế vừa có tài vừa có đức trong mọi môi trường
được đặt ra một cách vô cùng nghiêm túc.
Tóm lại, sức khoẻ là vốn quý của mỗi người và là tài nguyên vô giá của
đất nước. Chăm lo cho sức khoẻ của con người cũng chính là chăm lo cho sự
cường thịnh của đất nước, của sự phát triển xã hội. Chính vì vậy, từ bậc danh y
như Hải Thượng Lãn Ông, đến Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đều rất quan
tâm tới việc giáo dục và đào tạo đội ngũ thầy thuốc vừa giỏi về y thuật, vừa
ngời sáng về y đức. Có thể nói, giá trị truyền thống về y đức vốn có của dân tộc
cùng với những lời dạy của Hồ Chủ tịch đã trở thành kim chỉ nam, thành động
24
lực phấn đấu to lớn cho toàn thể đội ngũ cán bộ ngành Y tế nước ta trong
những năm kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chế độ xã hội mới đã
tạo ra những người thầy thuốc xã hội chủ nghĩa biết dấn thân trong các phong
trào cách mạng để hoàn thành tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng và phát triển nền y học nước
nhà, phát triển nguồn nhân lực y tế đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và đề cao
việc đào tạo người cán bộ ngành Y tế “vừa hồng vừa chuyên”, đặc biệt đối
với sinh viên ngành y, bên cạnh đào tạo chuyên môn, việc giáo dục y đức
càng cần thiết và cấp bách hơn. Bởi phần lớn các em ở độ tuổi từ 18-25 tuổi,
xét về mặt nhân cách thì đây là giai đoạn “định hình”, đó là nhân cách đang