Hoàn thiện quá trình và tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong các ngân hàng thương mại Nhà nước Việt nam - Pdf 19

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH


VŨ THÙY LINH

hoµn thiÖn qu¸ tr×nh vµ tæ chøc bé m¸y
kiÓm to¸n néi bé trong c¸c
ng©n hµng th-¬ng m¹i nhµ n-íc viÖt nam
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên
cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án
là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN Vũ Thuỳ Linh MỤC LỤC
Trang
Phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt

1.3.1. Kinh nghiệm của một số nƣớc về kiểm toán nội bộ Ngân hàng
thƣơng mại 63
1.3.2. Bài học kinh nghiệm về kiểm toán nội bộ Ngân hàng thƣơng
mại đối với Việt Nam 68
Kết luận chƣơng 1 70
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
NHÀ NƢỚC VIỆT NAM 72
2.1. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI NHÀ
NƢỚC VIỆT NAM 72
2.1.1. Khái quát về hệ thống Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc Việt Nam 72
2.1.2. Đặc điểm hoạt động của Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc
Việt Nam tác động tới quá trình và tổ chức bộ máy kiểm toán
nội bộ 77
2.2. THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN
NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI NHÀ NƢỚC
VIỆT NAM 80
2.2.1. Môi trƣờng pháp lý đối với lĩnh vực kiểm toán nội bộ Ngân
hàng thƣơng mại Việt Nam 80
2.2.2. Thực trạng tổ chức quá trình kiểm toán nội bộ trong các Ngân
hàng thƣơng mại Nhà nƣớc Việt Nam 82
2.2.3. Thực trạng tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong các Ngân
hàng thƣơng mại Nhà nƣớc Việt Nam 105
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY
KIỂM TOÁN NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
NHÀ NƢỚC VIỆT NAM 119
2.3.1. Kết quả đạt đƣợc 119
2.3.2. Hạn chế 121
2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế 124
Kết luận chƣơng 2 127

Kết luận chƣơng 3 167
KẾT LUẬN 168
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Agribank : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
AICPA : Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
ATM : Máy rút tiền tự động
Basel : Ủy ban giám sát an toàn hoạt động ngân hàng
BCHTW : Ban chấp hành Trung ƣơng
BĐH : Ban điều hành
BIDV : Ngân hàng đầu tƣ và phát triển Việt Nam
BIS : Ngân hàng thanh toán quốc tế
BKS : Ban kiểm soát
CAR : Hệ số an toàn vốn
CIS : Hệ thống thông tin máy tính
CN : Chi nhánh
CP : Chính phủ
CRO : Giám đốc quản lý rủi ro
CS : Chính sách
CSTD : Chính sách tín dụng
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nƣớc
DPRR : Dự phòng rủi ro

NHTMNN : Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc
NHTMNN : Ngân hàng thƣơng mại nƣớc ngoài
PGD : Phòng giao dịch
PLN : Phân loại nợ
QĐ : Quyết định
QH : Quốc hội
RBIA : Kiểm toán nội bộ dựa vào rủi ro
ROA : Lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE : Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
RRKS : Rủi ro kiểm soát
RRTN : Rủi ro tác nghiệp
RRTT : Rủi ro tiềm tàng
TCKT : Tài chính kế toán
TGĐ : Tổng giám đốc
TMCP : Thƣơng mại cổ phần
TSĐB : Tài sản đảm bảo
TT : Thông tƣ
UBKT : Uỷ ban kiểm toán
VAS : Chuẩn mực kế toán Việt nam
VCB : Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam
Vietinbank : Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam
XHTD : Xếp hạng tín dụng

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu Nội dung bảng Trang

DANH MỤC CÁC BIỂU Số hiệu Nội dung biểu Trang

Biểu 2.1: Vốn điều lệ của các NHTMNN giai đoạn 2009 - 2013 73
Biểu 2.2: Hệ số an toàn vốn các NHTMNN giai đoạn 2009 - 2013 73
Biểu 2.3: Tỷ trọng dƣ nợ tín dụng của các TCTD chia theo khối cuối năm 2013 76

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu Nội dung sơ đồ Trang

Sơ đồ 1.1: Định nghĩa kiểm toán nội bộ dựa vào rủi ro 38
Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức tập trung của bộ phận kiểm toán nội bộ 54
Sơ đồ 2.1: Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ của NHTMCP VCB 109
Sơ đồ 3.1: Các bƣớc lập kế hoạch kiểm toán nội bộ dựa vào rủi ro 144
Sơ đồ 3.2: Các bƣớc của cuộc kiểm toán dựa vào rủi ro 149
Sơ đồ 3.3: Mô hình bộ máy kiểm toán nội bộ trong các NHTM Nhà nƣớc
sau cổ phần hoá 154
Sơ đồ 3.4: Cơ cấu quản lý rủi ro theo thông lệ 156
Sơ đồ 3.5: Mối quan hệ của kiểm toán nội bộ với các bộ phận trong tổ chức
quản lý rủi ro tác nghiệp tại các NHTM nhà nƣớc 160
Sơ đồ 3.6: Phẩm chất và năng lực đối với KTV nội bộ ngân hàng 163


lệ và NHTM cổ phần do Nhà nƣớc sở hữu trên 50% vốn điều lệ; 05 NHTM
Nhà nƣớc trong tổng số 39 NHTM cổ phần của Việt Nam thƣờng chiếm
khoảng gần 60% thị phần tiền gửi, khoảng trên dƣới 50% thị phần tiền vay,
cung cấp 65-68% dịch vụ phi tín dụng. Vì vậy các NHTM Nhà nƣớc không chỉ
2
là những nhà tài trợ vốn lớn, cung cấp dịch vụ ngân hàng hàng đầu cho các
doanh nghiệp, mà còn là công cụ quan trọng để Nhà nƣớc định hƣớng cho sự
vận động của thị trƣờng tài chính, nhằm thực hiện mục tiêu, chính sách tiền tệ
trong từng thời kỳ, là lực lƣợng chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế về lĩnh
vực tiền tệ, ngân hàng.
Tuy nhiên hiệu quả và sự phát triển của khối các NHTM Nhà nƣớc chƣa
tƣơng xứng với tiềm năng thực sự của nó, nợ xấu tăng cao, hiệu quả đồng vốn
thấp. Trong quá trình hoạt động, tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lƣờng trong hầu hết
các nghiệp vụ, đặc biệt trong môi trƣờng kinh doanh khó khăn và luôn biến động
nhƣ hiện nay. Vì vậy để có một hệ thống ngân hàng ổn định và phát triển bền
vững trong bối cảnh hội nhập, cần phải giải quyết nhiều vấn đề - một trong
những vấn đề cấp thiết là hoàn thiện quá trình và tổ chức bộ máy kiểm toán nội
bộ trong các NHTM Nhà nƣớc. Đó là lý do nghiên cứu sinh (NCS) đã nghiên
cứu đề tài: “Hoàn thiện quá trình và tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong
các Ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam”.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan tới luận án
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong thời gian qua có một số công trình nghiên cứu về KTNB ở những
lĩnh vực cụ thể. Luận án Tiến sĩ của Phan Trung Kiên (2008) với đề tài “Hoàn
thiện tổ chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp xây dựng Việt Nam”. Nội
dung nghiên cứu của tác giả đề cập tới hoạt động kiểm toán nội bộ trong các
Tổng công ty xây dựng Việt Nam, với cơ sở pháp lý cho hoạt động này là Quy

kiểm toán nội bộ trong các tập đoàn kinh tế của Việt Nam” đề cập tới hoạt động
kiểm toán nội bộ trong các tập đoàn kinh tế. Luận án Tiến sĩ của Lê Thị Thu Hà
(2011) với đề tài “Tổ chức kiểm toán nội bộ tại các công ty tài chính Việt Nam”
với phạm vi nghiên cứu trong các công ty tài chính là các tổ chức tín dụng phi
ngân hàng. Mặt khác, đề tài của tác giả cũng dựa trên quy định cũ về KTNB
ngân hàng.
Ngoài ra còn một số đề tài Luận văn Thạc sỹ đã nghiên cứu về KTNB,
nhƣng phạm vi nghiên cứu chỉ ở từng nghiệp vụ cụ thể về hoạt động ngân hàng
4
tại một số ngân hàng, hoặc nghiên cứu không mang tính toàn diện về loại hình
kiểm toán này trong hệ thống các NHTMNN. Do vậy việc tiếp tục nghiên cứu về
tổ chức quá trình và bộ máy kiểm toán nội bộ các NHTMNN sau khi môi trƣờng
pháp lý về KTNB ngân hàng đã thay đổi toàn diện từ năm 2011 đến nay là thực
sự cần thiết.
2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu giá trị về lĩnh vực KTNB đƣợc thực
hiện bởi Viện kiểm toán nội bộ (IIA) và nhiều tổ chức, cá nhân khác. Một trong
những tài liệu có chiều sâu và hệ thống hóa toàn diện các vấn đề có liên quan
đến KTNB trong thế kỷ này là: “Nghiên cứu về những cơ hội của kiểm toán nội
bộ” (Research Opportunities in Internal Auditing) do Quỹ nghiên cứu của Viện
kiểm toán nội bộ (The Institute of Internal Auditors Research Foundation) thực
hiện vào mùa xuân năm 2003 tại Florida, Mỹ nhằm kỷ niệm 60 năm sự ra đời
của Viện kiểm toán nội bộ (1941-2001). Cuộc nghiên cứu tập trung làm rõ bản
chất, quy trình, phƣơng pháp, công nghệ thông tin hỗ trợ KTNB và mối quan hệ
giữa kiểm toán nội bộ với các bộ phận kiểm tra, kiểm soát trong doanh nghiệp;
đồng thời chỉ ra triển vọng phát triển KTNB trong tƣơng lai. Từ kết quả nghiên
cứu này, nhiều quan niệm hiện đại về KTNB đƣợc đƣa ra nhƣ: vai trò đảm bảo

KTNB nhƣ nghiên cứu của Tiến sỹ David Griffiths (2006) về “Kiểm toán nội bộ
dựa vào rủi ro- Ba quan điểm về cách thực hành” (Risk Based Internal Auditing
- Three views on implementation) đề cập tới khái niệm KTNB truyền thống và
KTNB dựa vào rủi ro, cũng nhƣ mô tả quy trình vận dụng KTNB dựa vào rủi ro
để thu thập bằng chứng.
2.3. Nhận xét chung về các công trình nghiên cứu đã công bố và điểm
mới của luận án
Nhƣ vậy tính đến thời điểm hiện nay, các nghiên cứu mà NCS đã biết về
lĩnh vực KTNB nói chung và trong từng lĩnh vực nói riêng ở Việt Nam đều tập
trung giải quyết những nội dung khác nhau về lý luận KTNB hoặc có nghiên cứu
về KTNB trong các tổ chức tín dụng nhƣng ở những khía cạnh cụ thể, không
mang tính toàn diện. Đặc biệt cơ sở dữ liệu và hệ thống văn bản pháp lý về
6
KTNB của những nghiên cứu này về lĩnh vực ngân hàng đều đã hết hiệu lực, đòi
hỏi phải có những nghiên cứu mới phù hợp hơn với yêu cầu hiện tại.
Đề tài nghiên cứu của NCS là: “Hoàn thiện quá trình và tổ chức bộ máy
kiểm toán nội bộ trong các Ngân hàng thƣơng mại Nhà nƣớc Việt Nam”. Đề tài
đƣợc nghiên cứu trong điều kiện tái cơ cấu hệ thống tài chính diễn ra mạnh mẽ ở
nhiều quốc gia nhằm giảm bớt rủi ro hệ thống và vận hành hiệu quả hơn và Việt
Nam cũng không phải ngoại lệ. Khi vĩ mô bất ổn, hệ thống ngân hàng chịu ảnh
hƣởng sâu sắc bởi những rủi ro tiềm ẩn lớn và khó lƣờng. Do vậy việc nhận biết,
đánh giá và kiểm soát rủi ro trong ngân hàng lại là điều quan trọng. Trong bối
cảnh đó, tiếp cận kiểm toán nội bộ dựa vào rủi ro chính là hƣớng nghiên cứu và
là điểm mới của luận án. Cụ thể:
(1) Điểm mới của đề tài luận án
Một là, luận án được nghiên cứu dựa trên bối cảnh quốc tế và quan
niệm về KTNB ngân hàng đã thay đổi

tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2010 do Quốc hội ban hành theo Luật số
47/2010/QH12 quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động và kiểm soát các tổ
chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 1/1/2011 và Thông tƣ số 44/2011/TT-NHNN
ngày 29/12/2011 quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ các
tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài (có hiệu lực từ ngày
12/02/2012). Sự ra đời của các văn bản pháp luật về lĩnh vực ngân hàng đã ảnh
hƣởng trực tiếp tới tổ chức bộ máy và quá trình kiểm toán nội bộ trong các
NHTM Việt Nam. Điều đó đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự nghiên cứu, đánh
giá kịp thời về hoạt động kiểm toán nội bộ của các ngân hàng, đặc biệt là
NHTMNN trong bối cảnh hiện nay nhằm đáp ứng nhiệm vụ cấp bách về cải tổ
toàn diện hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
(2) Các vấn đề trọng tâm sẽ đƣợc làm rõ trong nghiên cứu của NCS
Một số vấn đề trọng tâm đƣợc NCS làm rõ là nội hàm lý luận về kiểm toán
nội bộ NHTM hiện đại theo quan niệm mới của IIA; tổ chức quá trình và bộ máy
kiểm toán nội bộ NHTM; cũng nhƣ kinh nghiệm về KTNB ở một số quốc gia và
bài học cho Việt Nam. Đồng thời NCS cũng làm rõ thực trạng quá trình và tổ
8
chức bộ máy KTNB theo Thông tƣ 44/2011 của NHNN về KTNB trong các
NHTMNN, từ đó đƣa ra giải pháp hoàn thiện quá trình và tổ chức bộ máy kiểm
toán nội bộ các NHTMNN trên cơ sở định hƣớng rủi ro phù hợp với điều kiện
hiện nay của Việt Nam.
3. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là khái quát hóa và làm rõ hơn một số vấn đề lý
luận cơ bản về kiểm toán nội bộ các Ngân hàng thƣơng mại. Cụ thể phân tích nội
hàm của kiểm toán nội bộ nói chung thông qua sự thay đổi theo thời gian về
quan điểm kiểm toán nội bộ từ khi ra đời đến nay. Ảnh hƣởng của thông lệ quốc
tế tới tổ chức kiểm toán nội bộ ngân hàng. Phân tích sâu sắc quá trình kiểm toán

từ thực tế đến tƣ duy, mà còn phải liên hệ tới những mối quan hệ và quy luật vận
động trong hoạt động kiểm toán nội bộ để hình thành các phƣơng pháp cụ thể.
5.2. Phương pháp cụ thể
Đây là các kỹ thuật, thủ tục cụ thể đƣợc vận dụng để thu thập và phân tích
số liệu / tài liệu nhằm đạt đƣợc mục tiêu của luận án, bao gồm: phƣơng pháp thu
thập tài liệu (thứ cấp và sơ cấp) và phƣơng pháp phân tích tài liệu. Cụ thể:
Luận án đã sử dụng các phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa,
khái quát hóa các thông tin thu thập đƣợc để làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng nhƣ
thực trạng tổ chức quá trình kiểm toán và tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong
các NHTM NN.
Kết hợp với nghiên cứu thực tiễn qua điều tra, khảo sát bằng bảng hỏi,
phỏng vấn và xuống quan sát trực tiếp để thu thập thông tin, số liệu phục vụ cho
đề tài luận án. Cụ thể:
Một là, phƣơng pháp thống kê: NCS đã thu thập thông tin, tài liệu sơ cấp,
thứ cấp của NHNN, các NHTM liên quan tới quá trình kiểm toán và tổ chức bộ
máy kiểm toán nội bộ của các NHTMNN;
Hai là, phƣơng pháp điều tra khảo sát, phỏng vấn thực tế: NCS đã đi
thực tế tại Hội sở chính một số NHTMNN nhƣ VCB, Vietinbank, BIDV để
trực tiếp trao đổi với lãnh đạo và cán bộ phòng kiểm toán nội bộ về công việc
kiểm toán nội bộ tại đây. Mặt khác NCS cũng gửi phiếu khảo sát tới các
10
NHTMNN (bỏo cỏo kho sỏt ph lc) lm rừ thc trng kim toỏn ni b
ti cỏc NHTM ny.
6. Kt cu ca lun ỏn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, cỏc cụng trỡnh ca tỏc gi ó cụng b liờn
quan n ti lun ỏn, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
của luận án gồm 3 ch-ơng (157 trang)

đầu, nhu cầu thiết lập một chức năng đảm bảo nội bộ (internal assurance
function) trong doanh nghiệp đƣợc đặt ra, nhằm giúp nhà quản lý soát xét thông
tin tài chính phục vụ cho việc ra quyết định. Lúc này trọng tâm công việc kiểm
toán nội bộ là kiểm tra sự ghi chép kịp thời, chính xác của các nghiệp vụ, giảm
thiểu những sai sót khi hạch toán các bút toán kép, cũng nhƣ ngăn chặn những
gian lận về tiền lƣơng và tài sản có thể phát sinh trong doanh nghiệp. Bộ phận
kiểm toán nội bộ đƣợc coi nhƣ là “tai và mắt” của nhà quản lý và đến năm 1986,
kiểm toán nội bộ đã chuyển vai trò từ “kiểm toán vì nhà quản lý” sang“kiểm
12
toán của nhà quản lý” [40]. Theo chuẩn mực Hành nghề kiểm toán nội bộ do
Học viện các kiểm toán viên nội bộ (IIA) ban hành tháng 5 năm 1978, thì “kiểm
toán nội bộ là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ
chức để xem xét và đánh giá các hoạt động của tổ chức đó, với tư cách là một sự
trợ giúp đối với tổ chức đó” [2]. Trong những năm đầu sau khi IIA thành lập,
hoạt động kiểm toán nội bộ vẫn chỉ đƣợc coi là một phần quan trọng trong sự mở
rộng công việc của kiểm toán bên ngoài, với sự hạn chế về trách nhiệm trong
hoạt động quản lý và điều hành doanh nghiệp.
Khi thị trƣờng chứng khoán phát triển, đứng trƣớc đòi hỏi cao hơn về độ tin
cậy của thông tin trên báo cáo tài chính đƣợc niêm yết, vai trò và trách nhiệm
của kiểm toán nội bộ đã mở rộng bao gồm cả việc phân tích, đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ nhằm giúp nhà quản lý hoàn thiện các chính sách và thủ tục
kiểm soát đối với hoạt động bên trong đơn vị. Đặc biệt sự ra đời của hàng loạt
các đạo luật và báo cáo nhấn mạnh vào hoạt động kiểm soát nội bộ trên thế giới
nhƣ: Luật chống hối lộ ở nƣớc ngoài của Mỹ năm 1977; báo cáo của Ủy ban
quốc gia Mỹ về gian lận trong báo cáo tài chính (Treaway Commission Report,
1987); báo cáo của COSO 1992 (the Report of the Committee of Sponsoring
Organization); cũng nhƣ sự xuất hiện của khung kiểm soát nội bộ của nhiều

Khái niệm kiểm toán nội bộ đã đƣợc IIA bổ sung, sửa đổi theo sự phát triển
của kinh tế thị trƣờng. Từ năm 1978 đến nay đã có 5 lần sửa đổi, lần sửa đổi gần
nhất là vào tháng 10/2010, đƣợc áp dụng vào ngày1/1/2011, theo đó “kiểm toán
nội bộ là hoạt động xác nhận và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được
thiết lập nhằm tạo ra giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả hoạt động của một tổ
chức. Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông
qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỷ luật để đánh giá, nâng
cao hiệu lực của quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và việc
quản lý rủi ro” [33]. Ngoài ra IIA còn sửa đổi chuẩn mực về thực hành nghề
nghiệp của kiểm toán viên nội bộ (Standard for the Professional Practices of
Internal Auditng) và khung thực hành nghề nghiệp đã ban hành vào năm 2002
(Professional Practices Framework - IIA, 2002a). Điều này thể hiện sự cải tiến
14
theo lịch sự phát triển về bản chất kiểm toán nội bộ. Theo đó, kiểm toán nội bộ
đƣợc giải thích rõ ở 4 nội dung sau: [32], [33].
Một là: Kiểm toán nội bộ là một hoạt động độc lập, khách quan và có thể
không cần thiết lập bên trong một tổ chức. Định nghĩa mới cho phép dịch vụ
kiểm toán nội bộ có thể đƣợc thuê ngoài mà vẫn đảm bảo chất lƣợng. Khi một
nhà cung cấp dịch vụ độc lập phục vụ hoạt động kiểm toán nội bộ, thì họ phải
làm cho tổ chức nhận thức đƣợc rằng tổ chức này có trách nhiệm cho việc duy
trì hoạt động kiểm toán nội bộ có hiệu quả. Trong bối cảnh này các chuẩn
mực thực hành nhấn mạnh rằng vai trò của các giám đốc điều hành kiểm toán
vẫn cần phải duy trì trong nội bộ. Nếu thuê ngoài thì cần quan tâm đến việc
đảm bảo rằng sự độc lập của giám đốc điều hành kiểm toán không bị ảnh
hƣởng đến các trách nhiệm điều hành khác của họ trong doanh nghiệp. Trách
nhiệm này đƣợc thể hiện thông qua việc đảm bảo chất lƣợng và chƣơng trình
cải tiến nhằm đánh giá sự tuân thủ Định nghĩa Kiểm toán nội bộ, Đạo luật về

nghiệp thuộc mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là trong hệ thống Ngân hàng
thƣơng mại. Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ có tính
nhạy cảm cao. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn đòi hỏi một sự minh
bạch về kế toán, tài chính, đảm bảo tính thanh khoản. Do vậy các giao dịch cũng
phải đƣợc kiểm soát chặt chẽ và các rủi ro phát sinh phải đƣợc giảm thiểu. Bộ
phận kiểm toán nội bộ ngân hàng sẽ trợ giúp cho nhà quản trị cấp cao đạt đƣợc
mục tiêu về phát triển an toàn, hiệu quả. Báo cáo kiểm toán nội bộ ngân hàng sẽ
là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu về tính hiệu quả của quản lý rủi ro và hệ
thống kiểm soát nội bộ. Vì vậy kiểm toán nội bộ đóng vai trò thiết yếu đối với sự
tồn tại, phát triển và hoạt động hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Theo Ủy ban
Basel về giám sát ngân hàng, “kiểm toán nội bộ Ngân hàng thương mại là quá
trình hoạt động một cách có hệ thống, có kỷ luật và độc lập của những người có
thẩm quyền trong ngân hàng nhằm kiểm tra, đánh giá về chất lượng và độ tin
cậy của các thông tin tài chính và phi tài chính của ngân hàng, đồng thời đưa ra
khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý rủi ro, kiểm soát nội
bộ và quản trị điều hành của ngân hàng”. [2], [37]


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status