Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Quảng Nam - Pdf 19

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG & QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP
CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH QUẢNG NAM
Sinh viên thực hiện :
Lớp : NH & KDTT_B
Giáo viên hướng dẫn : ThS. ĐẶNG THỊ THƠI
QUY NHƠN, 2014
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTM Ngân hàng thương mại
NHNN Ngân hàng Nhà nước
ĐVT Đơn vị tính
TMCP Thương mại cổ phần
PGD Phòng giao dịch
TCTD Tổ chức tín dụng
NHTW Ngân hàng Trung ương
USD Đồng đô la Mỹ
VNĐ Đồng tiền Việt Nam
VIETINBANK Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam
EUR Đồng tiền liên minh Châu Âu
GTCG Giấy tờ có giá
TS Tài sản
NH Ngân hàng
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2011-2013 26

hợp. Mặt khác việc tăng cường huy động vốn và sử dụng vốn hợp lý cũng giúp
cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng được an toàn, hiệu quả hơn.
5
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, nhu cầu về vốn ngày càng
tăng và đòi hỏi phải được đáp ứng nhanh chóng, kịp thời. Do vậy, trong thời
gian tới để phát huy hơn nữa vai trò của mình và đáp ứng cho sự phát triển của
nền kinh tế cũng như cho chính bản thân hệ thống Ngân hàng, việc huy động
vốn cho kinh doanh trong tương lai chắc chắn sẽ được đặt lên hàng đầu đối với
NHTM và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Quảng Nam
cũng không ngoại lệ. Vấn đề tìm ra những giải pháp để hoàn thiện công tác huy
động vốn là rất thiết thực và cấp bách.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở
trường, cùng với những kiến thức thu nhận được trong thời gian thực tập, tìm
hiểu tình hình thực tế tại Ngân hàng vừa qua, em đã chọn đề tài: “thực trạng huy
động vốn tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Quảng
Nam” để làm báo cáo thực tập tốt nghiệp.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thực hiện báo cáo này với mục đích nghiên cứu thực trạng huy động
vốn của Ngân hàng thông qua kết quả kinh doanh, số liệu của Ngân hàng. Trên
cơ sở đó đánh giá và đưa ra những biện pháp thích hợp để nâng cao chất lượng
trong công tác huy động vốn của Ngân hàng góp phần đem lại lợi nhuận tối ưu
cà tạo niềm tin cho các nhà đầu tư.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
+ Về tài liệu: Các số liệu trong bảng tổng kết tài sản và báo cáo kết quả
kinh doanh của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Quảng
Nam từ năm 2011 đến năm 2013, mạng interrnet, giáo trình, báo chí
+ Về không gian: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – chi
nhánh Quảng Nam
+ Về thời gian: Trong suốt quá trình thực tập tại đơn vị theo sự sắp xếp
của nhà trường.

tài chính”.
• Ở Việt Nam, theo luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ tháng 10 năm 1998,
NHTM được định nghĩa như sau: Ngân hàng Thương mại là tổ chức kinh doanh
tiền tệ mà họat động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng
với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ
chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế
tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ
cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra,
NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản
phẩm dịch vụ của xã hội.
1.1.2. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Thương Mại
 Sự ra đời:
 Sơ khai là nơi cất giữ tài sản.
 Tại Ai cập thế kỷ 18 trước công nguyên, Hy Lạp và La Mã thế kỉ 4 trước Công
nguyên, người dân gửi tài sản vào các nhà thờ, nhà thờ giao “ giấy biên nhận ”.
Người giữ giấy này khi cần có thể đem cầm cho người khác để nhận thứ mình
8
cần dẫn đến xuất hiện các hành vi sơ khai của hoạt động NH. Pythius ( Hy Lạp)
được xem là người sáng lập NH đầu tiên vào thế kỉ 5 trước Công nguyên.
 Đến thế kỉ 15, đã xuất hiện những tổ chức kinh doanh tiền tệ có những đặt trưng
gần giống NH, đầu tiên gồm NH Amstexdam ( Hà Lan năm 1960), Ham Bourg
(Đức năm 1619) và Bank of England (Anh năm 1694).
 Các giai đoạn phát triển:
 Từ thế kỉ 15 đến nay, ngành NH đã trải qua những bước tiến dài và góp nhiều
phát minh vĩ đại vào lịch sử phát triển của loài người, có thể chia ra các giai
đoạn phát triển thanh 3 giai đoạn:
 Giai đoạn 1: (Từ thế kỉ 15 đến cuối thế kỉ 18).
Hoạt động của những giai đoạn này có nhưng đặt trưng sau:
- Các NH hoạt động một cách độc lập, chưa hình thành một hệ thống NH

- NH là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn bổ sung cho đầu tư phát triển, nghĩa là
vừa giúp doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích lũy vốn mở rộng cho sản
xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế.
1.1.3.2. Chức năng trung gian thanh toán
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,
thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản
tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản
tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của
họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện
lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín
dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh
toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi,
mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ
có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do
vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo
10
thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng
hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát
triển kinh tế.
1.1.3.3. Chức năng tạo tiền
Quá trình tạo tiền hay quá trình tạo ra tiền “ bút tệ ” là khả năng biến mức
tiền gửi ban đầu tại một NH đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoảng tiền lớn
gấp nhiều lần khi thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán qua nhiều NH.
Một NH này cho vay xong là hết vốn, thì số vốn đó lại chuyển sang NH khác
thành vốn tiền gửi và làm tăng thêm vốn tiền gửi của NH khác.
Vậy quá trình tạo tiền là hệ quả tổng hợp của hoạt động nhận tiền gửi,
thanh toán và cho vay của các NHTM, liên hệ và luôn luôn có sự trợ giúp của
NH trung ương (NH trung ương sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để gia
tăng hay khống chế khả năng tạo tiền của NHTM theo chủ ý của mình).

NHTM. Nó là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của NH
và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NH. Mặt dù bị giới hạn
về mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguồn vốn này thì
không những nguồn lợi của NH được tăng lên mà cồn tạo cho NH uy tín càng
cao. Qua đó NH có thể mở rộng được vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh
doanh của NH.
Nguồn vốn huy động bao gồm:
- Huy động tiền gửi: Đây là nguồn vốn huy động thường xuyên của NH.
- Huy động thông qua việc phát hành giấy tờ có giá, kỳ phiếu, trái phiếu.
- Đi vay: Thực hiện vay vốn ngắn hạn tại NHNN, ở các NH và các tổ chức tín
dụng khác.
• Vốn tiếp nhận
Đây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách
nhà nước… để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội,
cải tạo môi sinh… nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục
tiêu đã được xác định.
12
• Vốn khác
Là nguồn vốn phát sinh trong hoạt động của NH. Trong quá trình là trung
gian thanh toán, các NHTM cũng tạo được một khoảng gọi là vốn trong thanh
toán: Vốn trên tài khoản mở thư tín dụng, tài khoảng tiền gửi séc bảo chi, séc
định mức và các khoản tiền phong tỏa do NH chấp nhận các hối phiếu thương
mại Các khoản tiền tạm thời được trích khỏi tài khoản này nhập vào tài khoản
khác chờ sử dụng, nên tạm thời coi là tiền nhàn rỗi.
Thông qua nghiệp vụ đại lý, NH thu hút được một lượng vốn đáng kể
trong quá trình thu hoặc chi hộ khách hàng, làm đại lý cho các tổ chức tín dụng
khác, nhận và chuyển vốn cho khách hàng hay một dự án đầu tư Do đó NH có
thể sử dụng tạm thời những tài khoản đó vào kinh doanh.
Để mở rộng nghiệp vụ này các NHTM cần chú trọng đến phát triển các
dịch vụ và không ngừng nâng cao uy tín của mình trên thương trường.

Vốn huy động là vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Ngân
hàng. Ngân hàng mua quyền sử dụng các khoản vốn của Ngân hàng trong một
thời gian nhất định và có trách nhiệm hoàn trả số vốn đó theo đúng kế hoạch.
Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với
bất kỳ một NHTM nào vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu cho các
NHTM.
1.2.1.2. Vai trò của huy động vốn
• Vai trò huy động vốn đứng trên góc độ NHTM:
- Là hoạt động chủ yếu của NHTM.
- Huy động vốn tốt còn là tiền đề thúc đẩy NHTM phát triển được các sản phẩm,
dịch vụ khác.
- Là hoạt động để Ngân hàng gia tăng thu nhập, cải tiến cơ cấu thu nhập của
NHTM. Vì hiện nay 90% thu nhập của NHTM là từ hoạt động tín dụng, là rủi ro
cao đối với NHTM.
• Vai trò huy động vốn đứng trên góc độ khách hàng:
14
- Giúp khách hàng tiết kiệm.
- Khách hàng có thể lựa chọn được hình thức tiền gửi phù hợp.
- Giúp khách hàng tăng nhu nhập qua việc trả lãi của Ngân hàng.
- Khách hàng còn được tiện ích trong thanh toán, an toàn tài sản, an toàn thanh
toán, tốc độ thanh toán nhanh hơn. Ngoài ra khách hàng còn có thể được bảo
hiểm số tiền gửi của mình.
• Vai trò huy động vốn đối với nền kinh tế:
- Điều tiết lượng tiền tệ lưu thông trong nền kinh tế, giúp ổn định thị trường tiền
tệ, kiểm soát được lạm phát.
- Huy động vốn giúp tăng vốn để phát triển nền kinh tế.
- Giúp phát triển thị trường tài chính, ví dụ như: kỳ phiếu, trái phiếu trở thành
hàng hóa trên thị trường chứng khoán.
1.2.1.3. Phân loại huy động vốn
• Theo thời hạn huy động

là một dạng của tiền gửi có kỳ hạn nhưng tuy nhiên cũng có một số điểm khác
biệt theo quy định của văn bản pháp luật mà Ngân hàng nhà nước quy định.
 Phát hành giấy tờ có giá
Các giấy tờ có giá là công cụ nợ do Ngân hàng phát hành để huy động
vốn trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục
đích nào đó. Lãi suất của loại này thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn
thông thường.
Các giấy tờ có giá do NHTM phát hành bao gồm kỳ phiếu, trái phiếu,
chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá.
• Theo đối tượng huy động
 Tiền gửi của cá nhân
Khách hàng cá nhân chiếm phần lớn đa số trong đối tượng hoạt động của
Ngân hàng. Chính vì vậy, các hoạt động dịch vụ của Ngân hàng đối với đối
tượng khách hàng này cũng rất đa dạng, đặc biệt đối với hoạt động huy động
vốn. Với mục đích gửi tiền chủ yếu là tiết kiệm, bảo quản, đem lại khả năng sinh
lời cho mình thì khách hàng cá nhân đã đem lại một lượng vốn huy động đáng
kể cho Ngân hàng với số tiền nhàn rỗi của mình. Đồng thời lượng vốn huy động
được thì ổn định góp phần làm cho Ngân hàng có thể dẽ dàng sử dụng lượng
vốn này để thực hiện các hoạt động đầu tư của mình một cách hiệu quả nhất.
16
 Tiền gửi của doanh nghiệp
Không chỉ khách hàng cá nhân mới đóng góp vai trò quan trọng trong
hoạt động của Ngân hàng mà các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế
khác cũng góp phần tạo nên sự đa dạng trong hoạt động của Ngân hàng.
Trong hoạt động huy động vốn của Ngân hàng, lượng vốn huy động từ
khách hàng là doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác cũng chiếm phần lớn.
Tuy nhiên mục đích gửi tiền của đối tượng khách hàng này là khác so với
khách hàng cá nhân nên Ngân hàng chỉ sử dụng được một phần nhỏ trong lượng
vốn huy động được đó là số dư trên tài khoản của các doanh nghiệp cũng như
của các tổ chức kinh tế. Bởi vì mục đích gửi tiền của đối tượng khách hàng này

thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Không có nghiệp vụ huy động vốn,
NHTM sẽ không đầy đủ nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động của mình. Mặc
khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn NHTM có thể đo lường được uy tín
cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với Ngân hàng. Từ đó, NHTM có các
biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy đọng vốn để giữ vững và mở
rộng quan hệ với khách hàng. Như thế nghiệp vụ huy động vốn đã giải quyết
đầu tư vào cho Ngân hàng.
1.2.2.2. Đối với khách hàng
Nghiệp vụ huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và
đầu tư nhằm làm cho tiền của họ sinh lời, tạo điều kiện cho việc gia tăng tiêu
dùng trong tương lai.
Mặc khác, nghiệp vụ huy động vốn còn cung cấp cho khách hàng một nơi
an toàn để cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi.
Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ
của Ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua Ngân hàng và dịch vụ tín
dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng.
1.2.3. Tiêu chí phản ánh hiệu quả huy động vốn
Ngân hàng huy động vốn bằng nhiều hình thức khác nhau. Mỗi cách huy
động vốn đem lại cho NHTM một nguồn vốn có tính chất khác nhau, với chi phí
18
khác nhau. Để đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của một NHTM ta cần
dựa vào các chỉ tiêu cụ thể. Mỗi chỉ tiêu nêu lên một mặt của hoạt động huy
động vốn của NHTM. Sau đây là một số chỉ tiêu:
• Đánh giá chi phí của một đơn vị vốn huy động
Chi phí (giá thành) của một
đơn vị vốn huy động (A)
=
Tổng chi phí (a)
Tổng số vốn huy động được
Trong đó:

• Hệ số sử dụng vốn
Hệ số sử dụng vốn (B) = Số vốn được sử dụng
Tổng số vốn huy động
19
Nếu một Ngân hàng có nguồn sử dụng vốn tương xứng với nguồn vốn
huy động, chứng tỏ nguồn vốn huy động đã có được sử dụng có hiệu quả và
công tác hoạt động vốn của Ngân hàng đã thành công. Bởi vì phần lớn thu nhập
từ hoạt động sử dụng vốn sẽ bù đắp phần nào chi phí huy động và đem lại lợi
nhuận chủ yếu cho Ngân hàng.
1.3. Các nghiệp vụ huy động vốn của Ngân hàng thương mại
1.3.1. Nghiệp vụ huy động qua tài khoản tiền gửi
1.3.1.1. Tiền gửi thanh toán
Tiền gửi thanh toán là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở
cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Tài khoản này mở
cho các đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh
toán qua Ngân hàng.
Để thực hiện nghiệp vụ thanh toán này, đòi hỏi khách hàng phải mở tài
khoản tiền gửi thanh toán ở Ngân hàng. Số dư có trên tài khoản thanh toán của
khách hàng có thể hình thành từ hai nguồn: (1) do khách hàng nộp tiền mặt vào.
(2) do khách hàng nhận tiền chuyển khoản từ các đơn vị khác. Số dư này nhằm
duy trì khả năng thanh toán và chi trả của khách hàng ở bất cứ thời điểm nào.
Tuy nhiên không phải lúc nào khách hàng cũng sử dụng số dư này, do vậy
số dư này nhàn rỗi tạm thời cho đến khi được huy động vào thanh toán. Những
lúc tạm thời nhàn rỗi này, số dư tài khoản thanh toán trở thành nguồn vốn của
Ngân hàng. Do đó Ngân hàng có thể sử dụng cho hoạt động của mình. Mặc
khác, tài khoản tiền gửi là loại tài khoản không kỳ hạn, khách hàng có thể rút bất
kì lúc nào mà không cần báo trước cho Ngân hàng nên Ngân hàng rất khó có kế
hoạch việc sử dụng nguồn tiền gửi này. Do đó đối với loại tiền gửi này Ngân
hàng trả lãi suất rất thấp, thậm chí không trả lãi suất cho khách hàng. Do không
được trả lãi cao, nên khách hàng không duy trì số dư tài khoản nhiều, chỉ đủ chi

kiệm không kỳ hạn có kèm theo chứng minh nhân dân và chữ ký mẫu. Nhân
viên sẽ hoàn tất thủ tục nhận tiền và cấp sổ tiền gửi ngay cho khách hàng.
21
Với sổ tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền ra
bất cứ lúc nào trong giờ giao dịch. Tuy nhiên, khác với hình thức tài khoản tiền
gửi thanh toán, mỗi lần giao dịch khách hàng phải xuất trình số tiền gửi và chỉ
có thể thực hiện giao dịch ngân quỹ như là gửi tiền và rút tiền chứ không thể
thực hiện được các giao dịch thanh toán.
Mặc dù số dư tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng thường
kgoong lớn do lãi suất thấp nhưng nếu Ngân hàng thu hút được số lượng khách
hàng khá lớn thì tổng khối lượng vốn huy động qua hình thức tiền gửi này có thể
trở nên lớn đáng kể.
 Tiết kiệm định kỳ
Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm định kỳ được
thiết kế dành cho khách hàng cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu
an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai.
Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn
có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng tháng hoặc
hàng quý. Mục tiêu quan trọng khi gửi tiền loại này là lợi tức có được thep định
kỳ. Do vậy lãi suất đóng vai trò quan trọng khi để thu hút được đối tượng khách
hàng này. Dĩ nhiên lãi suất trả cho tiền gửi tiết kiệm định kỳ cao hơn không kỳ
hạn. Ngoài ra mức lãi suất còn thay đổi tùy theo loại kỳ hạn gửi, tùy theo loại
đồng tiền gửi tiết kiệm và tùy theo uy tín và rủi ro của Ngân hàng nhận tiền gửi.
Đối với loại tiền gửi này khách hàng chỉ được rút tiền gửi theo đúng kỳ
hạn, không được phép rút trước thời hạn. Tuy nhiên để khuyến khích và thu hút
khách hàng gửi tiền đôi khi Ngân hàng cho phép khách hàng được rút trước kỳ
hạn nếu có nhu cầu, nhưng khi đó khách hàng bị mất tiền gửi hoặc chỉ được trả
lãi suất không kỳ hạn.
Tiền gửi có kỳ hạn có thể được chia làm nhiều loại. Căn cứ vào thời hạn
có thể chia thành kỳ hạn 1, 2, 3,…, 12, hoặc lâu hơn đến 26 tháng. Căn cứ vào

vốn dài hạn, theo đó các Ngân hàng cam kết trả lãi và gốc cho các nhà đầu tư
mua trái phiếu.
23
Bằng việc phát hành trái phiếu bán cho nhà đầu tư, NHTM thu về được
một khối kượng nguồn vốn dài hạn dưới hình thức vay nợ. Nhu vậy khi phát
hành trái phiếu, nguồn vốn hoạt động của NHTM tăng lên. Tuy nhiện phát hành
trái phiếu không làm tăng vốn chủ sở hữu mà chỉ làm cho nợ dài hạn của Ngân
hàng tăng lên.
 Huy động vốn dài hạn thông qua phát hành trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi là loại trái phiếu mà tổ chức phát hành bán cho các
nhà đầu tư, trong đó có thỏa thuận đến một thời điểm nào đó sau khi phát hành,
các nhà đầu tư có quyền chuyển đổi thành cổ phiếu theo một tỷ lệ nào đó.
Loại trái phiếu này được xem như là một dạng chứng khoán lai do vừa có
tính chất của chứng khoán nợ, đồng thời vừa có tính chất của một chứng khoán
vốn. Nó phổ biến ở các nước có thị trường tiền tệ phát triển nhưng chưa được
phổ biến lắm ở Việt Nam.
 Huy động vốn dài hạn thông qua phát hành cổ phiếu
Cổ phiếu nói chung là chứng nhận đầu tư vào công ty cổ phần. Các
NHTM cổ phần cũng là một dạng công ty cổ phần, do đó có thể phát hành cổ
phiếu để huy động vốn. Có nhiều cách phân loại cổ phiếu thành nhiều loại cổ
phiếu khác nhau. Nhưng có hai cách phân loại như sau:
o Cổ phiếu vô danh và cổ phiếu ký danh: Cổ phiếu vô danh là loại cổ phiếu không
ghi tên người chủ sở hữu trên cổ phiếu. Loại cổ phiếu này dễ giao dịch trên thị
trường hơn do không phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu. Cổ phiếu
ký danh là loại cổ phiếu có ghi tên người chủ sở hữu trên cổ phiếu. Loại cổ
phiếu này muốn chuyển nhượng phải được sự đồng ý của hội đồng quản trị.
o Cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi: Cả hai loại cổ phiếu này đều là giấy
chứng nhận quyền sở hữu một phần của công ty. Tuy nhiên nó có sự khác biệt
nhau về quyền được chia cổ tức ưu tiên và quyền được chia tài sản ưu tiên trong
trường hợp công ty bị thanh lý.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status