Báo cáo nghiên cứu khoa học: "BÀN VỀ VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG KẾT CẤU BAO CHE NHÀ CAO TẦNG" potx - Pdf 19


BÀN VỀ VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG KẾT CẤU
BAO CHE NHÀ CAO TẦNG

PGS., TS. TRẦN CHỦNG
Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng

Tóm tắt:
Nội dung bài viết bàn về công tác quản lý chất lượng hệ kết cấu bao che nhẹ
(Lightweight Facades) tạo thành từ kính và khung kim loại trong nhà cao tầng trên thế giới
và ở Việt Nam; những vấn đề đang tồn tại và những kiến nghị cần quan tâm.
1. Mở đầu

Đối với mỗi đô thị, công trình nhà cao tầng có vị trí đặc biệt quan trọng. Nhà cao tầng không chỉ là
sự đòi hỏi tất nhiên về nơi ở, nơi làm việc trong bối cảnh đất chật người đông mà công trình nhà cao
tầng còn là sự phản chiếu trung thực nhất trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ phát triển cộng
đồng.
Mặc dù chưa có sự thống nhất về định nghĩa nhà cao tầng nhưng có một ranh giới được đa
số các kỹ sư kết cấu chấp nhận, đó là từ nhà thấp tầng đến nhà cao tầng có một sự chuyển tiếp
từ phân tích tĩnh học sang phân tích động học [3]. Hay nói một cách khác, về mặt kết cấu, đối
với công trình được định nghĩa là cao tầng khi độ bền vững và chuyển vị của nó do tải trọng
ngang quyết định. Tải trọng ngang có thể dưới dạng tải trọng gió bão hoặc động đất. Thách
thức đối với các kỹ sư kết cấu hiện nay là các công trình cao tầng sẽ ngày càng cao hơn, nhẹ
hơn và mảnh hơn so với nhà cao tầng trong quá khứ. Rõ ràng, những vấn đề liên quan tới bộ
phận kết cấu bao che đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết vì chính nó có nhiệm vụ tiếp
nhận toàn bộ tải trọng ngang để truyền vào công trình và cũng chính nó phải ứng xử trước
các loại tải trọng và tác động hết sức phức tạp. Song cho tới nay, chúng ta chưa thực sự quan
tâm tới việc kiểm soát chất lượng đối với các loại vật liệu cùng giải pháp kết cấu bao che
trong các tòa nhà cao tầng mà nhất là loại kết cấu khung kim loại và kính.
2. Vai trò của kết cấu bao che trong tòa nhà cao tầng


thế giới hiện đại.
3. Tải trọng và tác động lên kết cấu bao che
Trong tính toán thiết kế nhà cao tầng, tải trọng ngang do gió bão hoặc động đất có
ảnh hưởng nhiều hơn đến hệ kết cấu so với tải trọng đứng và ảnh hưởng này càng nhiều
đối với các công trình có chiều cao càng lớn.Xác định tải trọng gió theo phương pháp
tựa tĩnh được sử dụng phổ biến trên thế giới cho các công trình thấp tầng. Tuy nhiên nếu
sử dụng phương pháp này cho nhà siêu cao tầng thì thiết kế sẽ thiên quá về an toàn và
không kinh tế. Thêm vào đó phương pháp tính tải trọng gió tĩnh còn có nhược điểm là
chỉ cần một sai sót nhỏ trong tính toán có thể dẫn tới sai số lớn về kết quả, thậm chí mất
an toàn nghiêm trọng. Nguyên nhân chính là do phương pháp tính gió tĩnh không thể kể
tới các hiệu ứng động học của nhà cao tầng trong điều kiện gió bão, ví dụ như các hiện
tượng cộng hưởng, gia tốc chuyển động, hệ số cản, tương tác với các công trình xung
quanh [2], chuyển động của công trình vuông góc với hướng gió… Các yếu tố trên có
ảnh hưởng lớn đến phản ứng của công trình khi chịu tải trọng gió lớn. Hình 1.


biết về sự phân bố áp lực gió lên từng vị trí của công trình. Những quy định về tải trọng gió
trong các tiêu chuẩn hiện hành là không “bao” được các tòa nhà siêu cao tầng. Các tham số
về Profil tải trọng gió và sự phân phối áp lực gió chỉ có được thông qua thử nghiệm trên
ống thổi khí động. Trong tiêu chuẩn của nhiều nước đều có quy định về sự cần thiết phải
thực hiện các thử nghiệm này. Thí dụ Quy chuẩn của Châu Âu [4] quy định những tòa nhà
cao trên 200m hoặc có lõi cứng và gây hiệu ứng xoắn bắt buộc phải thử nghiệm trong ống
thổi khí động trừ khi đã có kết quả thử nghiệm từ một công trình tương tự. Ở Mỹ, các tài
liệu cũng khuyến cáo về việc nên thử nghiệm trên mô hình trong ống thổi khí động trước
khi thiết kế các tòa nhà có chiều cao trên 40 tầng [5]. Ở Nhật Bản việc thử nghiệm trong
ống thổi khí động là bắt buộc đối với công trình cao tầng xây mới trong đô thị. Kết quả thử
nghiệm không chỉ là các số liệu liên quan đến giá trị áp lực gió và sự phân bố tải trọng gió
lên bề mặt công trình mà còn là sự thay đổi luồng gió khi công trình xuất hiện có ảnh hưởng
đến sự an toàn tính mạng cho người đi bộ gần tòa nhà. Như vậy, trên thế giới, nghiên cứu
thử nghiệm mô hình trong ống thổi khí động là cần thiết để phục vụ thiết kế. Không chỉ
phản ánh đúng sự làm việc của kết cấu mà có thể tiết kiệm chi phí do phương án thiết kế là
tối ưu và phù hợp với trạng thái làm việc thực của kết cấu. Ngoài ra, quy hoạch của một đô
thị cũng được hình thành và hoàn chỉnh từ những dữ liệu thử nghiệm mô hình trong ống
thổi khí động. Ở nước ta, ví tầm nhìn về xu thế phát triển xây dựng, Chính phủ đã đầu tư
cho năng lực nghiên cứu của ngành nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp về mặt kỹ thuật
trên thông qua các phòng nghiên cứu thực nghiệm cấp Quốc gia về gió bão. Phòng thí
nghiệm này đang được đặt tại Viện Khoa học công nghệ xây dựng thuộc Bộ Xây dựng
(hình 4, hình 5) sẽ là nơi các nhà khoa học nghiên cứu để đưa ra những giải pháp phòng
chống thiên tai hiệu quả, là nơi thực hiện kiểm chứng những dạng công trình mới, giải pháp
kết cấu mới và cả những giải pháp gia cường cho những công trình nằm trong vùng gió bão
mà chưa thoả mãn yêu cầu chống bão. Nhưng thực sự các phòng thí nghiệm này vẫn chưa
có đơn hàng. Chúng ta chưa có sự hiểu biết cần thiết về vai trò của thử nghiệm hay chưa có
các quy định của pháp luật? Có lẽ cả hai yếu tố này đang là sự cản trở tiến trình tiếp cận
cách làm chuyên nghiệp trong hoạt động xây dựng của thế giới. Các công trình siêu cao
tầng như tòa nhà Keangnam (cao 70 tầng), Bitexco Finacial Tower (cao 68 tầng), cầu Bãi
Cháy(cầu dây văng một mặt phẳng dây có khẩu độ lớn nhất Thế giới) do người nước ngoài

Hình 4. Sơ đồ ống thổi khí động

Với tư cách là một nhà chuyên môn, tôi có đôi điều suy nghĩ thậm chí lo lắng về một đối
tượng rất cần được quan tâm là vấn đề kiểm soát chất lượng kết cấu bao che nhẹ được hình
thành từ kính và khung kim loại trong các công trình nhà cao tầng. Không thể không lo lắng
khi các trận báo lớn xuất hiện ngày một nhiều. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam là một trong
những nước chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu trong khi các tòa nhà cao tầng, siêu
cao tầng đang mọc lên hàng ngày ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và hàng loạt thành phố lớn ven
biển Việt Nam như: Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu. Bỏ qua những yêu cầu về
chất lượng kết cấu bao che sẽ là những thiếu sót nghiêm trọng. Tôi hy vọng, những băn
khoăn của tôi sớm có câu trả lời trước sự an toàn của những công trình và của cả xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ahsan Kareem and Rachel Bashor: Performance of Glass/Cladding of High-Rise
Buildings in Hurricane Katrina.2. P. Brewick, L. Divel, K. Butler, R. Bashorand A: Consequences of Urban Aerodynamics
and Debris Impact in Extreme Wind Events.
Proceedings of the 11th Americas
Conference on Wind Engineering.
3. Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam và Trường Đại học Tổng hợp Melbourne, Australia
phối hợp tổ chức.Hội thảo về nhà siêu cao tầng và tháp Dầu khí,
Hà Nội tháng 8/2010.
4. Eurocode 1: Actions on structures- Part 1-4: General actions – Wind actions, BS EN
1991-1-4: 2005.
5. BUNGALE S. Taranath: Steel, Concrete & Composite Design of Tall Buildings –
Second Edition,
McGraw – Hill, New York – 1997.
Ngày nhận bài: 4/11/2010.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status