VIÊM CẦU THÂN CẤP TÍNH – Phần 2 5.3. Tăng huyết áp (THA):
Tăng huyết áp là một triệu chứng lâm sàng thường gặp. Tăng huyết áp là dấu hiệu
gián tiếp về tình trạng viêm, phù nề, xuất tiết, tăng sinh tế bào trong cầu thân gây
tăng tiết renin, hoạt hoá hệ thống co mạch dẫn đến tăng huyết áp. Tăng huyết áp
giao động: ở trẻ em 140/90 mmHg, ở người lớn 160/90 mmHg. Một số trường hợp
THA kịch phát và tương đối hằng định kéo dài trong nhiều ngày với huyết áp
»180/100 mmHg, bệnh nhân cảm giác đau đầu dữ dội, choáng váng, co giật, hôn
mê do phù não dẫn đến tử vong.
5.4. Suy tim:
Suy tim thường kèm với THA kịch phát, mặt khác do tăng khối lượng tuần hoàn
đột ngột và cũng có thể do bệnh lý cơ tim trong viêm cầu thân cấp tính. Suy tim
cấp tính với biểu hiện khó thở, không nằm được và có thể dẫn đến phù phổi: bệnh
nhân khó thở dữ dội, toát mồi hôi, thở nhanh và nông; co rút hố trên ức, hố trên
đòn, co rút khoang gian sườn; ho và khạc ra bọt màu hồng; nghe phổi có nhiều ran
ẩm, nhịp tim nhanh, huyết áp giảm. Nếu không được cấp cứu kịp thời thì bệnh
nhân sẽ tử vong.
Hiện nay, tình trạng THA dẫn đến co giật, hôn mê, suy tim cấp tính, phù phổi
ngày một ít dần do điều kiện phục vụ y tế tốt hơn và dân trí đã được nâng cao.
5.5. Đái ít (thiểu niệu, vô niệu):
Tình trạng thiểu niệu bao giờ cũng có, khối lượng nước tiểu dưới 500ml/ngày,
thường gặp trong tuần đầu của bệnh và kéo dài 3-4 ngày; không có tăng urê và
creatinin máu hoặc là tăng không đáng kể. Tình trạng thiểu niệu có thể tái phát trở
lại trong 2-3 tuần đầu. Một số trường hợp xuất hiện suy thân cấp tính: thiểu niệu,
vô niệu kéo dài, tăng urê máu, tăng creatinin máu. Nếu suy thân cấp tái diễn nhiều
đợt là một dấu hiệu xấu, nguy cơ có thể dẫn đến viêm cầu thân tiến triển nhanh,
viêm cầu thân tăng sinh ngoài mao mạch.
5.6. Một số triệu chứng khác:
- Sốt nhẹ 37,5oC - 38,5oC.
6.1.3. Tiến triển mạn tính:
Protein niệu kéo dài trên 6 tháng, bệnh không còn khả năng tự hồi phục, viêm cầu
thân cấp tính trở thành viêm cầu thân mạn tính với các hình thái lâm sàng sau:
- Viêm cầu thân mạn tính tiềm tàng: protein niệu và hồng cầu niệu không có triệu
chứng lâm sàng.
- Viêm cầu thân mạn với biểu hiện: phù, protein niệu, hồng cầu niệu. Tiến triển
thành từng đợt kéo dài trong nhiều năm.
- Hội chứng thân hư: phù to, protein niệu, giảm protein máu và giảm albumin máu,
tăng lipit máu. Hội chứng thân hư không đơn thuần thường kèm theo hồng cầu
niệu, thể bệnh thường gặp là viêm cầu thân màng tăng sinh.
- Viêm thân tiến triển nhanh hay còn gọi là viêm cầu thân tăng sinh ngoài mao
mạch, viêm cầu thân bán cấp, viêm cầu thân ác tính. Bệnh tiến triển liên tục với
những đợt suy thân cấp tính, dần dần xuất hiện suy thân mạn tính không hồi phục:
tăng urê máu, tăng creatinin máu tuần tiễn, tăng huyết áp, thiếu máu; bệnh nhân tử
vong trong vòng 2 năm.
6.2. Tiên lượng xa:
Một số VCTC hồi phục hoàn toàn nhưng sau từ 15-30 năm lại xuất hiện suy thân
mạn giai đoạn cuối và mở đầu bằng cơn THA kịch phát với biểu hiện đau đầu dữ
dội, choáng váng, tai ù, nẩy đom đóm, buồn nôn và nôn. Sau một vài tháng xuất
hiện suy thân giai đoạn mất bù, đòi hỏi phải chạy thân nhân tạo.
7. Các thể bệnh.
7.1. Thể tiềm tàng:
Triệu chứng duy nhất là protein niệu và hồng cầu niệu. Hầu như không có triệu
chứng lâm sàng, không phù, không đái máu, không tăng huyết áp. Bệnh chỉ tình
cờ phát hiện được khi kiểm tra sức khoẻ.
Thể tiềm tàng rất dễ bỏ qua và có thể là cội nguồn của những suy thân giai đoạn
cuối ở lứa tuổi 20-30 mà trong tiền sử không có bệnh cảnh lâm sàng của viêm cầu
thân.
7.2. Thể đái ra máu:
- Đợt bột phát của viêm cầu thân mạn tính tiên phát, cũng có thể bột phát sau
nhiễm khuẩn nhưng không có mối liên quan chặt chẽ với nhiễm khuẩn, chỉ cần sốt
một vài ngày đã xuất hiện bệnh cảnh của viêm cầu thân. Bệnh thường gặp ở người
lớn tuổi, không tự hồi phục trong vòng 6 tháng.
9. Điều trị.
9.1. Chế độ nghỉ ngơi:
Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi tại phòng trong thời gian bệnh tiến triển cho đến
lúc protein niệu âm tính. Không làm việc nặng, tránh nhiễm lạnh và tránh bị nhiễm
khuẩn thêm (bệnh tái phát với bất kỳ một nhiễm khuẩn nào kể cả nhiễm virut) và
không nên tiếp xúc với người nhiễm khuẩn cấp tính có tính lây truyền. Nhiễm
khuẩn, nhiễm lạnh, lao động nặng là những yếu tố nguy cơ gây tái phát.
9.2. Kháng sinh:
Kháng sinh chống liên cầu khuẩn nhằm mục đích loại nguồn cung cấp kháng
nguyên cho sự hình thành phức hợp miễn dịch. Kháng sinh thường dùng là:
Penicillin 2.000.000 đv/ngày, tiêm bắp thịt làm 2 lần (thử phản ứng trước khi
tiêm). Penixilin vẫn có hiệu quả với liên cầu khuẩn, vừa kinh tế và hiệu quả. Nếu
có phản ứng với penicillin thì có thể dùng:
Rovamycin 3.000.000 đv/ngày (với trẻ em) và 6.000.000 đv/ngày (với người lớn).
Hoặc erythromycin 1g/ngày (đối với trẻ em) và 2g/ngày (đối với người lớn).
9.3. Điều trị phù:
Phù nhẹ và thường đáp ứng tốt với lợi tiểu furosemid với liều 40 mg ´ 2-3
viên/ngày, chia làm 2 lần, uống để duy trì lượng nước tiểu trên 1000ml/ngày.
Nếu đáp ứng kém hoặc kèm theo tăng huyết áp kịch phát, kèm theo suy tim cấp
tính thì nên cho furosemid tiêm bắp thịt hoặc tĩnh mạch 1-2 ống/ngày.
9.4. Điều trị tăng huyết áp:
- Chỉ cần dùng lợi tiểu furosemid, khi bệnh nhân đa niệu thì có thể tự điều chỉnh
huyết áp trở về bình thường 110/70 - 120/80 mmHg.
- Nếu huyết áp vẫn tăng, có thể cho kết hợp với các thuốc ức chế bêta hoặc ức chế
canxi. Có thể lựa chọn một trong các thuốc sau:
. Tenormin 50-100 mg/ngày.