LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả các thầy cô giáo đã giảng dạy
em trong suốt 3 năm học qua để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp. Em xin
cảm ơn Ban giám hiệu trường CĐSP Hà Nội cùng các thầy cô giáo đã tạo điều kiện và
hướng dẫn em nghiên cứu đề tài: Biên tập tư liệu và sử dụng bài giảng điện tử trong
dạy học phần kiến thức Tế bào Thực vật trong sinh học 6.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ThS. Đinh Khánh Quỳnh –
giảng viên tổ Sinh học, khoa Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, đã tận tình hướng dẫn
em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, cùng các thầy cô giáo trong tổ Sinh học đã góp ý
để khóa luận đạt kết quả tốt nhất.
Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bạn lớp Sư phạm Sinh K37 đã cùng tôi
học tập, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Thầy cô giáo trường THCS Giảng Võ, đặc biệt là cô
giáo Đoàn Thị Quỳnh Như đã tạo điều kiện khi em thực nghiệm sư phạm tại trường.
Hà Nội, tháng 04 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Phương
MỤC LỤC TRANG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Tên đầy đủ Viết tắt
1 Bài giảng điện tử BGĐT
2 Biên tập tư liệu BTTL
3 Công nghệ thông tin CNTT
4 Đối chứng ĐC
5 Giáo viên GV
6 Học sinh HS
7 Sách giáo khoa SGK
8 Tế bào thực vật TBTV
9 Trung học cơ sở THCS
10 Thực nghiệm TN
11 Thực vật TV
và cần thiết.
5
Ngày nay, khối lượng tri thức khoa học trên thế giới khám ra ngày càng tăng,
tăng rất nhanh, nên chúng ta không thể hy vọng rằng trong thời gian nhất định ở trường
trung học cơ sở (THCS) có thể cung cấp cho học sinh (HS) với một kho tàng trí thức
khổng lồ mà nhân loại đã tích luỹ được. Vì vậy nhiệm vụ của người giáo viên (GV)
ngày nay không những phải cung cấp cho học sinh một vốn tri thức cơ bản mà điều
quan trọng là còn phải trang bị cho học sinh khả năng tự làm việc, tự nghiên cứu để tìm
hiểu và tự nắm bắt thêm tri thức. Trong những năm qua sự phát triển trí tuệ của học
sinh ngày càng mạnh mẽ, nhu cầu học tập các môn học ngày nhiều trong đó kiến thức
bộ môn trong nhà trường cũng không ngừng bổ sung, đi sâu và mở rộng.
Trước tình hình đó, ngày 10/ 12/ 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn
số 12966/BGD&ĐT-CNTT về việc đẩy mạnh triển khai một số hoạt động về Công
nghệ thông tin (CNTT). Trên cơ sở các ý kiến trong Hội thảo chuyên đề “Định hướng
ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học” được tổ chức ngày 19/ 01/ 2008,
sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội đã thống nhất kế hoạch triển khai nhằm đẩy mạnh ứng
dụng CNTT trong dạy học ở bậc trung học.
Trong thời đại của chúng ta sự bùng nổ công nghệ thông tin đã tác động đến
công cuộc phát triển kinh tế xã hội loài người. Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ ý
nghĩa và tầm quan trọng của CNTT, truyền thông cũng như yêu cầu đẩy mạnh ứng
dụng CNTT, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
mở cửa và hội nhập, hướng tới nền kinh tế tri thức. Vì vậy, việc ứng dụng CNTT trong
đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được đặt lên hàng đầu.
Trong chương trình sinh học hiện hành (bắt đầu từ năm học 2005 – 2006) kiến
thức “Tế bào thực vật” được đưa vào chương trình sinh học lớp 6. Đây là phần kiến
thực ban đầu cơ bản của chương trình sinh học lớp 6 nói riêng và sinh học THCS nói
chung. Hiện nay, phương pháp dạy học phổ biến vẫn là thuyết trình giải thích, minh
họa kiến thức bằng hình vẽ trong Sách giáo khoa (SGK) làm giảm khả năng tự nhận
6
thức, tự nghiên cứu, sáng tạo của học sinh. Mặt khác, nội dung SGK sinh học phổ
- Lý luận về ứng dụng CNTT trong dạy học sinh học.
- Bộ tư liệu dạy học phần kiến thức TBTV trong Sinh học 6.
- Bài giảng điện tử trong dạy học phần kiến thức TBTV trong Sinh học 6.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về ứng dụng CNTT nói chung, trong đó có BGĐT
và BTTL.
- Nghiên cứu thực trạng và hiệu quả của việc sử dụng CNTT trong đó có BGĐT
và đặc biệt là phần mềm dạy học sinh học trong quá trình dạy học ở trường phổ
thông.
- Phân tích cấu trúc và thành phần kiến thức TBTV trong chương I- sinh học 6
- Biên tập tư liệu và xây dựng BGĐT sử dụng trong dạy học chương I – Tế bào
thực vật trong chương trình sinh học lớp 6.
5. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung vào biên tập và sử dụng BGĐT trong phần kiến thức Tế bào thực vật
trong chương trình sinh học 6 THCS.
6. Phương pháp nghiên cứu
8
- Nghiên cứu tài liệu, giáo trình lý luận dạy học giáo trình phương pháp dạy học
sinh học, từ đó xác định được cơ sơ lý luận để tổ chức quá trình dạy – học nhằm
phát huy cao độ tính tự lực, chủ động, sáng tạo của HS.
- Nghiên cứu vị trí, vai trò của ứng dụng CNTT trong quá trình dạy – học nhằm
làm sáng tỏ ý nghĩa của ứng dụng CNTT trong quá trình nhận thức của HS.
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn khai thác và xử lý tư liệu, biên tập tư liệu
trên máy tính nhằm xây dựng bộ tư liệu dạy học phần kiến thức TBTV.
- Nghiên cứu các tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint
2007 nhằm xác định quy trình thiết kế và các yêu cầu khi xây dựng và sử dụng
BGĐT trên máy tính.
7. Đóng góp mới của đề tài
- Cung cấp kiến thức về BTTL và sử dụng BGĐT có nội dung thiết thức, bám
sát nội dung chương trình phần kiến thức TBTV trong sinh học 6 THCS. Đây là
các phần mềm chuyên dụng và có thể trình chiếu để thay thế cho bài giảng viết
tay.
Biên tập: là thu thập tài liệu để biên soạn hay sửa soạn các bài để đăng
báo.
( Từ điển tiếng Việt – xuất bản năm 2007 – NXB ĐHSPHN)
Biên tập tư liệu: Là thu tập các tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau để tạo
thành tư liệu phục vụ công việc của mình.
Biên tập tư liệu dạy học: Là thu thập các tài liệu, biên soạn lại thành tư
liệu phục vụ dạy học có hiệu quả.
11
CNTT trong giáo dục và đào tạo
CNTT là một nội dung dạy học
CNTT là phương ện
dạy học
CNTT là một công cụ quản lý
CNTT là một công cụ để dạy
CNTT là một công cụ để học
CNTT là
môi trường dạy học
1.2. Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Đối với giáo dục, CNTT đóng nhiều vai trò khác nhau: vừa là phương tiện dạy
học mới với nhiều ưu điểm, vừa là môi trường học tập mới với nhiều hình thức dạy học
đa dạng, vừa là một ngành học với những đặc thù riêng. Trong giáo dục, CNTT được
“sử dụng” theo những cách khác nhau và được tóm lược qua sơ đồ .
Sơ đồ: CNTT trong giáo dục và đào tạo
Trong đó, hiện nay người ta quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu, tập huấn GV
sử dụng CNTT như phương tiện dạy học. Vì thực chất, khi sử dụng phương tiện này ở
mức độ cao thì GV đã có khả năng biến nó thành “môi trường” học tập mới, môi
trường học tập ảo (virtual learning environment).
CNTT với tư cách là một phương tiện dạy học hiện đại, kết hợp với biện pháp
hình ảnh video và do đó bài giảng sinh động hơn.
Bài giảng tiến hành trên lớp với các thông tin mới do giáo viên khai thác (nhất
là những hình ảnh động) có tác dụng gây hứng thú học tập cho học sinh và nếu khéo
khai thác nó còn có tác dụng tăng cường rèn luyện tư duy cho học sinh.
Với bộ môn Sinh học, CNTT càng có vai trò quan trọng trong giảng dạy và học
tập Với đặc thù môn học, rất nhiều nội dung học tập cần có đồ dùng dạy học để giúp
học sinh hình thành các biểu tượng cụ thể như tranh ảnh, mô hình. Nếu áp dụng CNTT
trong dạy học sẽ làm phong phú thêm các biểu tượng, không chỉ là tranh ảnh phẳng,
mà còn có cả các tranh ảnh với không gian ba chiều có thể thay thế các mô hình mang
vác cồng kềnh. Những kiến thức Sinh lí như quá trình tự sao của ADN, quá trình sao
mã tổng hợp ARN, hoạt động giảỉ mã tổng hợp prôtêin, nếu chỉ dùng phương pháp mô
tả với các hình ảnh tĩnh là các tranh ảnh thì việc tiếp thu của học sinh sẽ gặp nhiều khó
khăn. CNTT cho ta giải pháp khắc phục nhược điểm đó. Bằng các đoạn video mô tả
các quá trình sinh lí như sự duỗi xoắn và tháo xoắn của ADN với sự tham gia của
enzim, cùng với sự lắp ghép của các nucleôtit tương ứng trong hoạt động tự sao hoặc
sao mã, cùng như hình ảnh động về tác động của enzim vào quá trình lắp ghép của
Ribôxôm, hoạt động của ARN vận chuyển mang các axit amin tương ứng đi vào
Ribôxôm thực hiện quá trình hình thành chuỗi pôlypeptit sẽ giúp học sinh hình dung rõ
ràng các hoạt động sinh lí trong tế bào của cơ thể và việc mô tả của giáo viên sẽ trở nên
nhẹ nhàng hơn. Việc mô tả về các kiểu bay lượn của chim cũng sẽ rõ ràng hơn nếu ta
trình chiếu hình ảnh động về hoạt động bay của chim bồ câu, chim ưng cùng với chim
diều hâu. Qua các hình ảnh đó, học sinh sẽ dễ dàng phân biệt kiểu bay vỗ cánh với kiểu
bay lượn tĩnh và kiểu bay lượn động
Như vậy ứng dụng CNTT trong dạy học có vai trò tích cực đối với học sinh như
gây hứng thú học tập, khắc sâu kiến thức, hình thành các khái niệm với các dấu hiệu
14
bản chất, mở rộng hiểu biết, phát triển tư duy. Về mặt đức dục, ứng dụng CNTT trong
dạy học còn có vai trò giáo dục thế giới quan và kích thích lòng ham muốn nghiên cứu
khoa học.
1.3. Biên tập tư liệu trong dạy học sinh học
nhiều nguồn khác nhau, như: sách tham khảo, báo, tạp chí, tivi, radio, song trong
phạm vi này xin được trình bày các kĩ năng tìm kiếm tư liệu (TKTL) từ Internet -
một nguồn tư liệu vô cùng phong phú, đa dạng.
Chúng ta có thể tìm kiếm từ các trang Web cụ thể hoặc thông qua công cụ tìm
kiếm.
16
Bước 4. Phân loại và xây dựng kho tư liệu
Tiến hành phân loại Tư liệu theo nhiều cách tùy vào mỗi người.
Tạo cây thư mục ở trong máy tính tùy theo mỗi cách phân loại.
My Computer \ Chọn ổ đĩa \ kích chuột phải \ New \ Folder \ Đặt tên cho Folder \ Lặp
lại với các Folder con.
Đưa dữ liệu vào cây thư mục vừa tạo bằng cách Copy và Paste. Sau khi xây dựng được
kho tư liệu chúng ta nên ghi vào đĩa CD để bảo quản lâu dài
1.4. Bài giảng điện tử trong dạy học sinh học
1.4.1. Vai trò của sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học sinh học.
Trong hai đợt thực tập sư phạm, tôi thấy so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc
dạy học bằng BGĐT vào trường học còn rất hạn chế. Chúng ta không thể phủ nhận
những kết quả to lớn mà các tiết dạy bằng bài giảng điện tử đã mang lại. BGĐT không
những giúp cho việc giảng dạy của GV đạt kết quả cao hơn mà nó còn góp phần làm
tăng hiệu quả dạy và học nói chung và môn sinh học nói riêng.
17
Hiện nay, nếu không sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học sẽ không phù hợp
với việc thay đổi phương pháp dạy học- phương pháp lấy học sinh làm trung tâm. Theo
tình hình thực tế hiện nay, nếu GV không sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn
SH lớp 6, thì nguy cơ lực học của HS sẽ đi xuống, vì kiến thức sách giáo khoa rất rộng
với nhiều hình ảnh minh họa còn kém sống động, phong phú…Chỉ có sử dụng bài
giảng điện tử trong dạy học thì mới đáp ứng được yêu cầu này.
BGĐT là một giáo trình sinh động lôi cuốn HS vào bài giảng, tìm tòi tri thức
mới và tích cực hơn trong quá trình học. Đặc biệt việc xây dựng giáo trình bài giảng
này rất linh hoạt, GV có thể bổ sung, chỉnh lí những gì họ muốn. Điều này đáp ứng
- Bảng phụ ghi các câu hỏi thảo luận hoặc bài tập để cho HS ghi trực tiếp
sau khi thảo luận nhóm giúp các em tích cực tư duy và khắc sâu kiến
thức.
- Phiếu học tập là những tờ giấy rời, in sẵn những công việc làm độc lập
hoặc làm theo nhóm, được phát cho HS để hoàn thành trong thời gian
ngắn của tiết học. Mội phiếu học tập có thể giao cho HS một vài câu hỏi,
bài tập cụ thể nhằm dẫn dắt tới kiến thức, tập một kỹ năng, rèn luyện một
thao tác tư duy hoặc tham dò ý kiến trước một vấn đề nào đó. Và cần chú
ý: Phiếu học tập không thể thiếu trong việc đổi mới phương pháp dạy
học.
Khi thiết kế bài giảng điện tử phải bám sát giáo án nền.
Bản trình chiếu nhằm mục đích hỗ trợ bài giảng, thể hiện nội dung tóm tắt và
những điểm nhấn của bài giảng, không sai chính tả.
Cần đảm bảo phong phú nhưng vừa đủ các dạng thông tin, phần nội dung HS
ghi không trình chiếu.
Hình ảnh liên quan đến quá trình thảo luận phải trình chiếu suốt thời gian thảo
luận .
19
Cấu tạo slide phải đảm bảo tính hệ thống của kết cấu bài giảng, phải thuận lợi
cho GV, kết hợp các phương pháp dạy, tổ chức hoạt động tương tác trong học
tập.
Chú ý xây dựng các câu hỏi, bài tập phong phú đa dạng xoay quanh kiến thức
trọng tâm. Lưu ý nội dung giáo dục tư tưởng tình cảm cho HS.
Sử dụng tốt các chức năng liên kết để tạo bài giảng mở, linh hoạt.
Sử dụng thước hoặc bút angten để chỉ màn hình.
GV tự nâng cao về tin học để phát huy các công năng của các phần mềm giáo
dục.
Thiết kế Slide: Nội dung trình bày trên một slide phải đảm bảo tính chính xác,
ngắn gọn, xúc tích thể hiện được kiến thức trọng tâm cơ bản nhất, không nên
chứa quá nhiều hình, nhiều chữ:
Chính vì vậy, về mặt nhận thức, nhiều giáo viên cho rằng việc ứng dụng CNTT,
nhất là trong biên tập và sử dụng BGĐT trong dạy học là hiệu quả nhưng sử dụng vẫn
rất e dè và thường chỉ áp dụng trong 1 số giờ học trường yêu cầu, đánh giá tiêu chí ứng
dụng.
Tuy nhiên hiện nay, ngoài những khó khăn về cơ sở hạ tầng, thiết bị máy móc,
việc đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào nhà trường gặp phải những khó khăn sau:
- Thứ nhất: Hạ tầng cơ sở về thông tin còn rất hạn chế hoặc các phần mềm hỗ
trợ dạy và học Sinh học hiện có trên thị trường chưa tuân thủ các nguyên tắc xây
dựng phần mềm phục vụ đào tạo, chưa sát với nội dung môn học ở trường phổ
thông.
- Thứ hai: Khả năng Tin học của giáo viên và học sinh còn hạn chế và chưa có
thói quen lấy thông tin và trao đổi qua mạng máy tính và máy tính.
1.5.2. Năng lực của giáo viên sử dụng CNTT để biên tập tư liệu và sử dụng BGĐT
trong dạy học
21
Nhìn chung, năng lực của giáo viên về sử dụng CNTT không đồng đều. Khá
nhiều giáo viên chưa biết sử dụng các phần mềm dạy học, mà chỉ mới tập sử dụng máy
vi tính. Vì vậy để có thể sử dụng thông thạo các phần mềm dùng để biên tập tư liệu và
soạn thảo BGĐT dùng trong dạy học là rất khó khăn.
Những giáo viên thường xuyên soạn và dạy bằng giáo án điện tử đều tự trang bị
cho mình máy vi tính xách tay có nối mạng Internet nên có nhiều thuận lợi từ khai thác
thông tin đến soạn giảng và hầu như không lệ thuộc vào các đồ dùng dạy học có ở
trường. Nhiều giáo viên chưa trang bị được máy vi tính xách tay, nhưng đã trang bị
được máy vi tính để bàn, số ít có nối mạng Internet, họ cũng có thể soạn giảng rồi copy
sang USB để giảng dạy, nếu phòng học bộ môn của nhà trường có trang bị máy vi tính
với projector.
Trước thực trạng nêu trên, nhiều giáo viên mong muốn được học tập, bồi dưỡng
về CNTT và trang bị thêm cho các trường THCS các phương tiện nghe nhìn, nhất là
được trang bị máy vi tính có kết nối Internet và projector ít nhất là một bộ, đặt tại
phòng bộ môn. Trang thiết bị không có, giáo viên tích cực tự tìm tòi học hỏi, nhưng
2.2.1. Tư liệu dạy học bài 5 – Kính lúp , kính hiển vi và cách sử dụng.
Kính lúp.
• Kính lúp cầm tay gồm một tay cầm kim loại hoặc bằng nhựa, được gắn với tấm
kính trong, dày, hai mặt lồi. Có khung bằng kim loại hoặc nhựa. Kính lúp cho ta
hình ảnh phóng to của vật từ 3-20 lần.
Hình 2.1: Cấu
tạo của kính lúp
• Cách
dùng:
24
Tay trái cầm kính, để mặt kính vào gần vật cần quan sát, nâng kính từ gần đến
xa khi ảnh rõ.
• Kính lúp dùng trong dạy học sinh học:
Hình 2.2: Kính lúp dùng trong dạy học sinh học
Kính hiển vi
Giới thiệu chung
Kính hiển vi (microscope) là thiết bị để quan sát các vật thể có kích thước rất
nhỏ mà mắt thường không nhìn thấy được. Khoa học nhằm khám phá và kiểm tra
những vật thể nhỏ nhờ một thiết bị như vậy được gọi là khoa học hiển vi (microscopy).
Hình ảnh hiển vi của vật thể được phóng đại thông qua một hoặc nhiều thấu kính, hình
ảnh này nằm trong mặt phẳng vuông góc với trục của thấu kính (hoặc các thấu kính).
Khả năng quan sát của kính hiển vi được quyết định bởi độ phân giải.
Kính hiển vi là một dụng cụ quang học hỗ trợ cho mắt gồm có nhiều lăng kính
với các độ phóng đại khác
nhau, có tác dụng làm tăng góc
trông ảnh của những vật rất nhỏ
mà ta không thể nhìn thấy được
bằng mắt thường.
Lịch sử ra đời:
25