TRUỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Khoa Sư phạm
Bộ môn Địa lý - Du lịch Bài giảng môn học
MSMH: SĐ 604
• Hiểu và giải thích các sai số bản đồ. Biết chọn bản đồ sử dụng một cách phù
hợp với mục đích.
• Sử dụng bản đồ địa hình tỷ lệ lớn. Khai thác và hiểu được các yếu tố nội dung
bản đồ địa hình tỷ lệ lớn
• Nắm rõ đặc điểm bản đồ địa chính. Cách thành lập. Các hạn sai. Chia mảnh
danh pháp bản đồ địa chính và việc sử dụng bản độ địa chính hiệu quả
• Thành lập bản đồ địa chính đúng nguyên tắc, yêu cầu.
3. Phân phối chương trình
Chương trình phân thành 60 tiết, trong đó có 30 tiết lí thuyết bao gồm các
chương:
• Chương 1: Khái niệm chung
• Chương 2: Cơ sở toán học của bản đồ
• Chương 3: Bản đồ địa hình
• Chương 4: bản đồ địa chính
1. Cách đánh giá
Chia làm 3 phần:
• Môn thực tập: Lấy điểm trung bình cộng các bài thưck tập
• Môn lí thuyết:
o Trao đổi, làm các bài tập online 40%
o Thi cuối học kỳ 60%
Địa chỉ liên lạc: Trần Thị Phụng Hà, MSc
Bộ môn Địa lý – Du lịch
Khoa Sư phạm - Đại học Cần Thơ
[email protected]
1. Định nghĩa bản đồ học
2. Mối quan hệ giữa bản đồ học và các môn khoa học khác
3. Những giai đoạn phát triển của bản đồ học
4. Khái quát về việc đo vẽ thành lập bản đồ tại Việt Nam
5. Mối quan hệ giữa bản đồ học và các môn khoa học khác
6. Ý nghĩa bản đồ học trong thực tiễn và trong giảng dạy địa lý
1. Định nghĩa bản đồ học
- Nhiệm vụ của các nhà Địa lí là mô tả Trái đất bằng bản đồ. Chính từ đó xuất
hiện khái niệm: “Bản đồ học là khoa học về bản đồ địa lí”
- Các nhà trắc địa học, địa hình học … cho rằng: “Bản đồ học là khoa học về sự
biểu thị Trái đất”
- Trong thời kỳ bản đồ được vẽ bằng tay, ngoài nội dung chính còn phần trang trí
như một tác phẩm nghệ thuật, lúc ấy còn có định nghĩa: “Bản đồ học là khoa học
về kỹ thuật và kinh nghiệm trong lĩnh vực thành lập và sử dụng bản đồ”
- Ngày nay cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật, sự hợp tác chặt chẽ và mở
rộng giữa các ngành nghiên cứu khác nhau trong các lĩnh vực nghiên cứu và thực
tiễn sản xuất. Bản đồ học trở thành môn khoa học độc lập và luôn phát triển. Từ
đó nhiều định nghĩa về bản đồ học được đưa ra ngày càng hoàn chỉnh hơn. Trong
đó có định nghĩa của Salisep (nhà bản đồ học Nga) được coi là đầy đủ và hoàn
chỉnh nhất: “Bản đồ học là khoa học nghiên cứu và phản ánh sự phân bố không
gian, sự phối hợp và mối liên kết của các hiện tượng, đối tượng tự nhiên và xã
hội (cả những biến đổi của chúng theo thời gian) bằng các mô hình kí hiệu tượng
trưng đặc biệt, đó là biểu hiện bản đồ.
B
ản đồ học là
g
ì?
Bản đồ học SĐ 604 3 Trần Thị Phụng Hà, MSc
3. Những giai đoạn phát triển của bản đồ học
3.1. Bản đồ học thời cổ đại (trước CN đến TK V sau CN)
Lòng ham muốn khám phá và ghi nhận lại những hiểu biết về khu vực đang sinh
sống, canh tác … đã có từ lâu đời, xuất hiện và phát triển cùng với sự phát triển
xã hội loài người. Những hình vẽ có yếu tố hình học giản đơn đó chính là tiền
thân của bản đồ.
Khi khai quật thành phố Gasur (khoản 320 km Bắc Babylon – Irac hiện nay),
người ta tìm thấy hình vẽ bản đồ đầu tiên trên tấm đất sét. Tác phẩm đấy được ra
đời cách 4500 năm trước Công Nguyên và được xem là bản đồ cổ nhất.
Tương tụ người ta cũng tìm thấy những hình vẽ khắc trên hang động, phiến đá,
trên các tấm xương, vỏ cây … ở Thụy Sĩ, Ai Cập, Hy Lạp, Trung Quốc, Sibia…
Ai Cập, cổ Hy Lạp, Trung Quốc được xem như chiếc nôi của nền văn minh, nơi
sản sinh ra những tri thức về bản đồ, về toán học, thiên văn, đo được hình dạng
và kích thước quả đất.
Nhà thiên văn học, kiêm toán học nổi tiếng của Hy Lạp Eratosphen (thế kỷ thứ
III trước Công nguyên)
1
xác định quả đất hình cầu và đo được chiều dài cung
kinh tuyến. Bằng cách dựng 2 cọc ở 2 thành phố trên cùng một kinh tuyến Sient
và Alexandri, quan sát tia sáng mặt trời coi như thẳng góc vào ngày Hạ chí
(22/6) tại Sient và đã lệch đi 7
0
12’
2
tại Alexandri bằng cách đo chiều dài cọc và
X
ác định cung
kinh tuyến
Bản đồ học SĐ 604 4 Trần Thị Phụng Hà, MSc
H1: Đo chiều dài cung kinh tuyến Câu hỏi bài tập
1. Bạn hiểu và giải thích cách tính chiều dài cung kinh tuyến theo
Eratosphen như thế nào? Ngày nay người ta có thể tính được bằng
cách nào khác?
3.2 Bản đồ học thời Trung đại (tk 5 – tk17)
Sau khi đế chế La Mã sụp đổ, châu Âu hình thành chế độ phong kiến, thời kỳ
Trung cổ bắt đầu, văn hoá Cổ đại bị suy sụp dần, phủ định những thành tựu
khoa học ở các thế kỷ trước, giáo hội bước lên vũ đài truyền bá kinh thánh,
kiềm chế những công trình nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên càng về cuối thời kỳ Trung cổ, quyền lực của giáo hội càng kém và
xuất hiện những thành tựu khoa học kỹ thuật.
Cuối tk 13 Trung Quốc tìm ra la bàn, thành lập bản đồ thế giới các đường bờ
biển “portulan”. Bản đồ có dạng hoa gió với 16 tia toả tâm. Trên các bản đồ địa
bàn này dần dần có vẽ lưới địa lí, có tỷ lệ tuyến tính, bờ biển được vẽ chi tiết
cao. Bản đồ này được sử dụng đến tk 17-18 và là tiền thân cho các bản đồ hàng
hải sau này. Ngoài ra Trung Quốc thời bấy giờ còn phát minh ra giấy và bản
khắc trên gỗ.
Thời kỳ Phục hưng với các cuộc hành trình trên biển và phát kiến địa lí ảnh
hưởng đến sự phát triển bản đồ.
• Năm 1492 Christop Colombo, nhà hàng hải người Italy đã phục vụ quyền lợi
vua chúa Tây Ban Nha, tiến hành 4 cuộc hành trình từ Châu Âu sang Châu
Mỹ (1492-1502) đến quần đảo Bahama, Cuba, Haiti
Các phát kiến
địa lí
Câu hỏi bài tập
1. Bạn dùng bản đồ thế giới để đánh dấu lại những cuộc phát kiến
địa lí.
3.3 Bản đồ học thời hiện đại (sau tk 17)
Bước sang tk 18, đòi hỏi cơ sở khoa học bản đồ phải chắc chắn, nội dung bản đồ
phải chuyên sâu. Trung tâm hoạt động bản đồ đã chuyển sang các viện hàn lâm
khoa học Đức, Pháp, Nga.
Viện hàn lâm khoa học Pháp có các nhà bản đồ nổi tiếng Bon, Cassini đã chiếm
vị trí hàng đầu trong ngành bản đồ và xây dựng các bản đồ rất cụ thể và chi tiết.
Trong thời gian này các nước đã xây dựng hệ thống tam giác nhà nước làm cơ sở
cho việc thành lập lưới khống chế toạ độ thống nhất, thành lập các bản đồ tỷ lệ
lớn, nhiều chi tiết, ghi chú dày đặt, góp phần làm chính xác hơn cho việc thành
lập bản đồ, trong đó có Lambert, Mollweide, Gauss
Cuối thế kỷ 18 đầu tk 19 nhu cầu bản đồ địa hình tỷ lệ lớn càng tăng (mục đích
phục vụ quân đội). đến giữa tk 19 nhiều bản đồ địa hình tỷ lệ lớn ở các nước
được thành lập.
Yêu cầu phát triển kinh tế cấp bách, bản đồ phục vụ cho nhiều ngành kinh tế
khác nhau, để đáp ứng nhu cầu thực tế đó, nhiều trường đào tạo chính qui và các
cơ quan nghiên cứu riêng đuợc thành lập.
Ngày nay nhờ vào thành tựu các ngành KHKT khác: máy trắc địa, máy móc đo
vẽ, chụp ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, GPS (hệ định vị toàn cầu), GIS (hệ thống
thông tin địa lí), in nhiều màu, phần mềm vẽ bản đồ và quản lí số liệu v.v… mà
công việc đo vẽ thành lập bản đồ, atlas được tiến hành nhanh chóng, bản đồ đa
dạng và mạng tính chính xác cao.
Câu hỏi bài tập
1. Những ngành nào cần đến bản đồ mà bạn biết? Cần để làm gì?
Cần như thế nào?
o 1:4.000 bản đồ giải thửa
• Năm 1951 – 1954 liên đoàn Anh Pháp Mỹ đã bay chụp toàn bộ Đông
Dương.
• Sau năm 1954 quân đội Mỹ đo vẽ bản đồ tỷ lệ lớn, bản đồ pictomap, bảnđồ
địa hình 1:50.000, 1:25.000 … phục vụ cho ý đồ xâm lược.
• Năm 1959 Cục đo đạc bản đồ ra đời và là tiền thân ngành trắc địa bản đồ
nước ta
• Năm 1960 tổ bộ môn Bản đồ khoa Địa lí trương Đại học Sư phạm được
thành lập.
• Năm 1962 thành lập bộ môn trắc địa thuộc khoa Mỏ địa chất trường Đại học
Bách khoa Hà nội (nay là khoa Trắc địa Bản đồ trường đại học Mỏ Địa chất).
• Những năm sau đó đào tạo chuyên ngành Bản đồ ngày càng mở rộng ở các
trường Đại học khác.
• Hiện nay chúng ta đã thành lập lưới khống chế I, II, III, IV cho toàn quốc,
đang đo vẽ bản đồ địa chính với mục đích: quản lí đất đai, lập sổ mục thống
kế, xác nhận sự biến đổi hiện trạng đất v.v… nhằm phát triển kinh tế.
5. Ý nghĩa bản đồ học trong thực tiễn và trong giảng dạy địa lý
• Bản đồ cung cung cấp số liệu điều tra, đánh giá đúng đắn điều kiện tự nhiên,
KTXH, từ đó bố trí hợp lý lực lượng sản xuất, sử dụng đúng đắn nguồn tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường.
• Trong quốc phòng, ngành bản đồ quân sự cung cấp thông tin về địa hình, địa
thế, toạ độ, dụng bản đồ để bố trí lực lượng các binh chủng, lập kế hoạch tác
chiến.
Bản đồ học SĐ 604 7 Trần Thị Phụng Hà, MSc
• Bản đồ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực văn hóa, thông tin, tuyên
truyền và trong công tác quản lý xã hội.
• Trong công tác giảng dạy địa lý ở nhà trường phổ thông, các bản đồ giáo
khoa có một ý nghĩa đặc biệt. Bản đồ giáo khoa vừa là công cụ để giảng dạy
Mục lục
1. Định nghĩa bản đồ
2. Đặc điểm
3. Nội dung bản đồ
4. Phân loại bản đồ
1. Định nghĩa bản đồ
Trước đây người ta thường quan niệm: bản đồ địa lí là sự biểu hiện thu nhỏ một
phần hay toàn bộ bề mặt trái đất lên bản vẽ. Quan niệm trên chưa đầy đủ và
chính xác về bản đồ. Bản đồ không phải là một bức ảnh chụp hàng không hay
bức tranh phong cảnh vẽ thu nhỏ toàn bộ trái đất mà nó còn có khả năng giải
thích toàn bộ tính chất của các đối tượng có trên bản đồ. Mặt khác nói như trên,
Bản đồ học SĐ 604 8 Trần Thị Phụng Hà, MSc
bản đồ chỉ hạn chế trong việc biểu hiện những đối tượng có trên bề mặt trái đất,
trong khi đó nó còn biểu hiện những đối tượng hiện tượng phức tạp phân bố trên
bề mặt, trong không gian, dưới lòng đất và cả những hiện tượng đó có thể biến
đổi theo thời gian.
Từ việc phân tích những đặc tính cơ bản và những yếu tố nội dung của bản đồ
địa lí mà các định nghĩa về bản đồ ngày càng chính xác và hoàn chỉnh hơn. Định
nghĩa của nhà bản đồ học người Nga K.A. Salisev được mọi người thừa nhận là
đầy đủ và hoàn chỉnh nhất: “Bản đồ địa lí là mô hình kí hiệu hình tượng không
gian của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên và xã hội, được thu nhỏ, được tổng
hợp hoá theo một cơ sở toán học nhất định, nhằm phản ánh vị trí, sự phân bố
không gian và mối tương quan giữa các đối tượng và hiện tượng và những biến
đổi của chúng theo thời gian để thoả mãn mục đích yêu cầu đã định trước”.
B
ản đồ là gì?
Muốn như vậy, bản đồ địa lí cần phải có 3 đặc điểm cơ bản: cơ sở toán học, hệ
• Phép chiếu bản đồ
• Chia mảnh và danh pháp bản đồ
• Bố cục và khung bản đồ
Cơ sở toán học bản đồ cho phép ta có được tài liệu đúng đắn về vị trí, hình dạng,
kích thước các yếu tố biểu hiện trên bản đồ.
Bản đồ học SĐ 604 9 Trần Thị Phụng Hà, MSc
Biểu thị bằng phương pháp bản đồ
Chi
ếuthẳng góc
xu
ống mặtphẳng
Tổng quát hoá bản đồ là quá trình lựa chọn, phân cấp các đối tượng cần thể hiện
lên bản đồ, trong đó có sự cân đối hài hoà giữa các thành phần của một yếu tố và
giữa các yếu tố với nhau. Mục đích của tổng quát hoá bản đồ là phản ánh chính
xác bản chất của đối tượng và đáp ứng tối ưu yêu cầu đã đặt ra.
Tổng quát
hoá bản đồ
Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tổng quát hoá bao gồm: chủ đề, tỷ lệ, mục
đích sử dụng, đặc thù khu vực thành lập bản đồ và phương pháp biểu hiện bản đồ
Các dạng tổng quát hoá là: tổng quát hoá chọn lọc đối tượng, tổng quát hoá về
mặt số lượng, chất lượng của hiện tượng, tổng quát hoá về mặt hình học và tổng
quát hoá tập hợp các đối tượng. (Trình bày ở chương 5)
Tóm lại
Ta thấy rằng bản đồ là hình ảnh thu nhỏ của bề mặt trái đất lên mặt phẳng. Hay
nói cách khác bản đồ là hình chiếu thu được khi ta thực hiện chiếu bề mặt địa lí
của trái đất lên bề mặt toán học nào đó. Phép chiếu được thực hiện theo lưới của
các đường kinh vĩ tuyến. Hệ thống kinh vĩ tuyến trên bản đồ tạo thành lưới chiếu
bản đồ. Bề mặt đón nhận hình chiếu rất đa dạng, nó có thể là hình nón, hình trụ
Bản đồ học SĐ 604 10 Trần Thị Phụng Hà, MSc
P
hép chiếu,
lưới chiếu
hoặc hình cầu. Các qui luật toán học dùng để chiếu gọi là các phép chiếu bản đồ
cũng rất đa dạng. Chính vì vậy mà hiện nay người ta đã xây dựng rất nhiều lưới
chiếu bản đồ khác nhau. Trong mỗi phép chiếu sự biến dạng về mặt hình học của
các lãnh thổ thành lập bản đồ và giá trị sai số chiếu hình là khác nhau. Đó là một
trong những vấn đề cơ bản của toán bản đồ. Dựa vào các lưới chiếu, chúng ta,
những người sử dụng bản đồ có thể tiến hành đo đạc, tính toán toạ độ các điểm
hay các vật thể trên bản đồ.
• Mạng lưới địa giới hành chính chính trị: ranh giới quốc gia, tỉnh, huyện, xã
Tất cả các yếu tố nội dung trên được biểu thị nhiều hay ít, chi tiết hay sơ lược
(hoặc không biểu thị) phụ thuộc vào mục đích, nội dung và tỉ lệ bản đồ cần thành
lập. Tương tự, kích thước của các đối tượng trên bản đồ được lựa chọn phụ thuộc
vào tỉ lệ, mục đích sử dụng, phương pháp biểu hiện và đặc thù địa phương của
khu vực thành lập bản đồ.
3. Nội dung bản đồ
Mỗi một bản đồ địa lí bao gồm 3 yếu tố: yếu tố nội dung, yếu tố toán học và yếu
tố hổ trợ.
3 yếu tố trên
bản đồ
• Phần giới hạn trong khung bản đồ là yếu tố nội dung bản đồ, tức là sự thể
hiện bản đồ thuần tuý. Yếu tố nội dung bao gồm sự truyền đạt về TN và KT-
XH khác nhau. Các yếu tố TN như địa hình, thuỷ hệ, thổ nhưỡng, lớp phủ
thực vật… và các yếu tố VH-XH như các điểm dân cư, địa giới hành chính,
các đối tượng KT công nghiệp, hệ thống giao thông, các di tích văn hoá, lịch
sử… Các yếu tố nội dung nhiều hay ít không những chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ
Bản đồ học SĐ 604 11 Trần Thị Phụng Hà, MSc
bản đồ mà còn phụ thuộc vào mục đích thành lập bản đồ. Yếu tố nội dung
bản đồ không thể thống nhất trên các bản đồ khác nhau.
• Sau yếu tố nội dung thì yếu tố toán học giữ vai trò quan trọng. Yếu tố toán
học chính là những nguyên tắc toán học trong việc thành lập bản đồ. Yếu tố
toán học bao gồm: phương pháp chiếu đồ, tỷ lệ bản đồ, hệ thống lưới trắc địa
cơ bản. Hệ thống lưới trắc địa đảm bảo việc chuyển từ bề mặt tự nhiên sang
mặt elipsoid mà vẫn đảm bảo chính xác. Mỗi bản đồ khác nhau có nội dung,
mục đích sử dụng khác nhau nhưng không thể khác nhau về yếu tố toán học.
• Yếu tố phụ, hổ trợ bao gồm bản chú giải, bản đồ phụ, đồ thị, lát cắt, số liệu
Bản đồ địa lý có thể phân loại theo lãnh thổ như sau: Bản đồ thế giới (gồm lục
địa và đại dương), bản đồ bán cầu: Đông Tây Nam Bắc. Bản đồ các lục địa chia
thành bản đồ các vùng tự nhiên, các miền, các khu vực quốc gia. Nếu chia theo
dấu hiệu hành chính thì từ bản đồ thế giới chia thành bản đồ các châu, quốc gia,
tỉnh huyện, xã
4.3 Phân loại theo mục đích
Bản đồ phục vụ cho các đốí tượng sử dụng khác nhau
• Bản đồ phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục văn hoá
• Bản đồ phục vụ cho nền kinh tế quốc dân
• Bản đồ phục vụ cho quân sự quốc phòng
Trong mỗi nhóm lại được phân loại sâu hơn nữa. Mục đích sử dụng bản đồ quyết
định việc lựa chọn các yếu tố nội dung, phương pháp biểu hiện và cả tỷ lệ bản
đồ. Hai bản đồ có chủ đề (nội dung) khác nhau nhưng giống nhau về mục đích sử
Bản đồ học SĐ 604 12 Trần Thị Phụng Hà, MSc
dụng thì giống nhau cả về mức độ khái quát, hình thức biểu hiện và tỷ lệ bản đồ.
Vd: Bản đồ giáo khoa treo tường địa lý tự nhiên và động thực vât
Ngược lại có những bản đồ giống nhau về nội dung nhưng khác nhau về mục
đích sử dụng thì các yếu tố nêu trên (tỷ lệ, phương pháp biểu hiện, mức độ tổng
quát hoá) sẽ khác nhau. Vd: bản đồ kinh tế dùng trong qui hoạch và giảng dạy
4.4 Phân loại theo đề mục
Căn cứ vào nội dung chuyên môn của bản đồ, bản đồ địa lý được phân thành 2
nhóm chính: nhóm các bản đồ địa lý chung và nhóm bản đồ chuyên đề
a. Bản đồ địa lý chung
Bản đồ địa lý chung thể hiện các đối tượng TN, KTXH một cách đồng đều, không
nhấn mạnh ưu tiên thể hiện đối tượng nào. Nội dung của bản đồ điạ lí chung bao
gồm: dáng đất, thuỷ văn, mạng lưới các đường giao thông, địa giới hành chính,
các điểm dân cư, lớp phủ thực vật. Bản đồ địa lí chung (địa lí khái quát) có tỉ lệ
Các bản đồ chuyên đề là những bản đồ mà nội dung của nó chỉ thể hiện một, hai
đối tượng hiện tượng địa lý. Khác với bản đồ địa lý chung, bản đồ chuyên đề tập
trung thể hiện những hiện tượng riêng biệt của tự nhiên , kinh tế xã hội
So với bản đồ địa lý chung bản đồ chuyên đề phong phú và đa dạng hơn về chủ
đề, thể loại và phương pháp biểu hiện. Theo đề mục, bản đồ chuyên đề được
phân thành 4 nhóm
+Bản đồ chuyên đề về hoàn cảnh tự nhiên (địa lý tự nhiên) Bao gồm:
• Bản đồ địa chất (địa tầng, nham thạch, kiến tạo, trầm tích đệ tứ, thuỷ địa
chất, khoáng sản có ích )
• Bản đồ địa vật lý
• Bản đồ địa hình bề mặt trái đất (bản đồ địa mạo, bản đồ độ cao )
• Bản đồ các hiện tượng khí quyển (bản đồ khí tượng, khí hậu )
• Bản đồ thuỷ quyển (thuỷ quyển đại cương, nước trên lục địa )
• Bản đồ thổ nhưỡng
Bản đồ học SĐ 604 13 Trần Thị Phụng Hà, MSc
• Bản đồ động thực vật
+ Bản đồ dân cư Bao gồm:
• Bản đồ phân bố dân cư
• Bản đồ thành phần dân cư (dân tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, tuổi tác, giới tính
)
• Bản đồ vận động tự nhiên (sinh tử)
• Bản đồ di cư, nhập cư
+ Bản đồ kinh tế
• Bản đồ tài nguyên tự nhiên cùng với sự đánh giá chung về mặt kinh tế
• Bản đồ công nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp
• Bản đồ giao thông vận tải và các phương tiện liên hệ
• Bản đồ thương nghiệp: nội thương, ngoại thương
Bản đồ đị
a
lí tự nhiên
Bản đồ học SĐ 604 14 Trần Thị Phụng Hà, MSc
Bản đồ học SĐ 604 15 Trần Thị Phụng Hà, MSc
Chương 2:
Cơ sở toán học bản đồ
Giới thiệu
Cơ sở toán học bản đồ là 1 trong 3 đặc điểm cơ bản của bản đồ. Cơ sở toán học bản đồ
cho phép ta tính toán và thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa toạ độ địa lí giữa các điểm
trên bề mặt trái đất
và hình chiếu của chúng trên mặt phẳng. Cho phép ta nghiên
cứu được mối quan hệ không gian, hình dạng, kích thước của các đối tượng,
hiện tượng thể hiện trên bản đồ. Cơ sở toán học của bản đồ bao gồm các vấn đề:
Mục tiêu
500.72
5,14
= 1:5000.
M được chọn là những số chẵn như 200, 500 1000,…,1.000.000,… để dễ dàng cho
việc nội suy thuận, nghịch, tiện lợi cho việc tính toán khi sử dụng bản đồ. Người ta phân biệt bản đồ tỷ lệ lớn và bản đồ tỷ lệ nhỏ.
• Bản đồ tỷ lệ lớn có tỷ lệ ≥ 1:200.000
• Bản đồ tỷ lệ trung bình có tỷ lệ từ 1:200.000 đến 1:1.000.000
• Bản đồ tỷ lệ nhỏ có tỷ lệ ≤ 1:1.000.000
2. Tỷ lệ chung
Như chúng ta đã biết, tỷ lệ bản đồ không giống nhau trên toàn bộ tờ bản đồ. Tỷ lệ bản
đồ được ghi dưới khung chỉ nói một cách khái quát về mức độ thu nhỏ bề mặt trái đất
mà thôi. Vì vậy nó là tỷ lệ chung. Tỷ lệ chung là tỷ lệ tại một điểm hay một đường
(tuỳ thuộc vào phép chiếu) nơi trái đất tiếp xúc với mặt chiếu (mặt hình học hổ trợ
đón nhận hình chiếu). Còn những điểm xa nơi tiếp xúc sẽ có tỷ lệ khác với tỷ lệ chung.
Tỷ lệ
chung
Quả cầu địa lý là mô hình của trái đất, chính vì vậy tỷ lệ ghi trên quả cầu địa lý là tỷ lệ
chung cho bất kỳ điểm nào trên quả cầu. Tính tỷ lệ quả cầu bằng công thức
R
r
M
=
1
Như vậy nơi nào có
• m < 1 nơi đó bản đồ co lại so với tỷ lệ chung M
1
Độ dài cung kinh, vĩ tuyến Elipsoid tra từ bảng 1 trang 216 Giáo trình bản đồ học của Ngô Đạt Tam, 1986
• m > 1 nơi đó bản đồ giãn ra so với tỷ lệ chung M
Tỷ lệ bản đồ không những phản ánh mức độ thu nhỏ của đối tượng mà còn
• Qui định mức độ tổng quát hoá bản đồ
• Quyết định mức độ chính xác của bản đồ và ảnh hưởng đến mục đích sử dụng
bản đồ
4. Độ chính xác của tỷ lệ bản đồ
Tỷ lệ bản đồ càng lớn, độ chính xác càng cao. Thông thường, mắt người chỉ phân
biệt được khoảng cách ≥ 0,1mm, nghĩa là khi có 2 điểm cách nhau một khoảng ≤
0,1mm thì 2 điểm ấy coi như trùng nhau. Vì vậy độ dài 0,1mm trên giấy được coi
là chuẩn để xác định độ chính xác của tỷ lệ bản đồ. Vd: bản đồ 1:10.000 có độ
chính xác là 1m, bản đồ 1:500 có độ chính xác là 0,05m
Tỷ lệ bản đồ càng lớn, trên bản đồ càng thể hiện được nhiều chi tiết địa hình địa
vật, độ chính xác càng cao. Ngược lại bản đồ càng nhỏ, địa hình, địa vật chỉ thể
hiện khái quát.
Bản đồ có tỷ lệ lớn mức độ chi tiết càng cao rất tốt đối với người sử dụng. Song
khi bản đồ có tỷ lệ càng lớn thì công đo vẽ càng lớn, giá thành bản đồ càng cao.
Mặc khác tỉ lệ bản đồ càng lớn, kích thước tờ bản đồ sẽ tăng lên, gây bất tiện cho
người sử dụng.
Vì những lí do trên, việc chọn lựa tỷ lệ khi đo vẽ một khu vực cần phải cân nhắc
tính toán kỹ. Một sự lựa chon sai tỷ lệ – quá lớn hoặc quá bé – đều gây ra lãng phí.
5. Thước tỷ lệ
vuông có cạnh 2cm, ứng với bản đồ tỷ lệ 1:2000 “đơn vị cơ bản” ứng với ngoài
thực tế là 40m.
NM
B A
H
ình 16: Thước tỷ lệ xiên
Theo định lí đường song song, ta có thể đọc được bề dài nhỏ nhất trên thước là
t=AB/100, trong đó AB là chiều dài đơn vị cơ bản. Theo ví dụ trên t = 0,02cm, ứng
ngoài thực tế là 0,4m. t gọi là độ chính xác của thước tỷ lệ xiên.
Cách sử dụng thước: muốn biết đoạn MN trên bản đồ dài bao nhiêu, ta đặt một đầu
lên N, rồi đầu kia lên M rồi lựa khẩu độ trên thước tỷ lệ. Tuỳ thuộc vào tỷ lệ bản
đồ mà đoạn MN được đo, sẽ tương ứng với ngoài thực tế bằng những giá trị khác
nhau.
Theo hình vẽ ứng với tỷ lệ khac nhau đoạn AB có độ dài thực tế khac nhau:
1:2.000 MN = 120 + 20 + 2 = 142 m
1:10.000 MN = 600 + 100 + 10 = 710 m
1:25.000 MN = 1500 + 250 + 25 = 1775m
đường kinh tuyến)
Ta có:
dx’: độ dài một đoạn theo kinh tuyến trên bản đồ
dx: đội dài một đoạn theo kinh tuyến ngoài thực tế
m: tỷ lệ riêng dọc theo kinh tuyên
sai số độ
dài
Hoặc
dx’: độ dài một đoạn theo vĩ tuyến trên bản đồ
dx: đội dài một đoạn theo vĩ tuyến ngoài thực tế
n: tỷ lệ riêng dọc theo vĩ tuyên
m
m
dx
dx
m
'
=
n
dx
n
n
'
=
Sai số về độ dài v
m
= (m-1)100% dọc theo kinh tuyến
3. Sai số diện tích
So sánh diện tích nhỏ trên bản đồ tương ứng với diện tích ngời thực tế; Tỷ lệ riêng về
diện tích được tính theo công thức
dp
dp
p
'
=
Sai số diện
tích
Trong đó dp’: diện tích trên bản đồ
dp: diện tích thực tế
Ví dụ: Nếu bản đồ tỷ lệ 1:100.000, một khu vực có diện tích 1cm
2
trên bản đồ ứng với
ngoaì thực tế nhỏ hơn hoặc lớn hơn 1km
2
thì
diện tích đã vẽ trên bản đồ bị sai. Nếu một
điểm có p là 1,15 (tỷ lệ riêng về diện tích) thì diện tích trên bản đồ lớn hơn diện tích
thất .
Sai số về diện tích
v
p
bao nhiêu?
9. Tính toán các BT chuyển số liệu đo trên bản đồ ra thực tế (và ngược
lại)
• 10 cm trên bản đồ 1:25.000 tương ứng với ngoài thực tế là bao
nhiêu?
• Một độ dài 2km ngoài thực tế thu nhỏ trên bản đồ 1:50.000 được
bao nhiêu cm trên bản đồ?
• Một cm
2
trên bản đồ 1:50.000 tương ứng với ngoài thực tế là bao
nhiêu?
• Một khu rừng đo được 10 ô vuông (cạnh ô vuông là 2mm) trên bản
đồ 1:25.000 vậy diện tích khu rừng ngoài thực tế là bao nhiêu?
• Một diện tích 25 hecta thu nhỏ trên bản đồ được 4cm
2
. Vậy tỷ lệ
bản đồ là bao nhiêu?
• Một diện tích 36 hecta thu nhỏ trên bản đồ 1:2.000 thì được bao
nhiêu cm
2
trên bản đồ?
4. Các phép chiếu bản đồ tỷ lệ nhỏ
1. Khái niệm
Phép chiếu là nguyên tắc toán học để triển khai bề mặt chiếu hình trái đất lên mặt phẳng
bản đồ. Khi thành lập bản đồ người ta chiếu những điểm bất kỳ trên bề mặt trái đất theo
phương dây dọi đến đến mặt chiếu hình
2
. Mặt chiếu hình trái đất có thể là mặt phẳng (bản
đồ tỷ lệ lớn), mặt nước gốc (độ cao), mặt elipsoid hay mặt cầu (bản đồ tỷ lệ nhỏ). Khi đó ta
Để nghiên cứu tính chất biến dạng của các điểm, đường trên bản đồ, người ta dùng elip
sai số (elip biến dạng). Các vòng tròn nhỏ trên elipsoid trái đất khi chiếu lên mặt phẳng
do sai số chúng bị biến dạng thành các elip, gọi là elip sai số Trên bản đồ
Trên elipsoid Hình 18: Elip sai số 2
Trong thực tế, khi thay thế ở những bản đồ tỷ lệ lớn người ta dùng mặt phẳng thay cho mực nước gốc. Việc
biểu thị bề mặt trái đất lên mặt phẳng sẽ có sai số. Sai số của 10km trên mặt nước gốc so với mặt phẳng vào
khoảng 1:1.000.000 là sai số rất nhỏ, nên có thể coi việc đo dài trong khu vực bán kính 10km trên mặt phẳng
cũng như trên mặt nước gốc.
Mức độ sai của hình elip phản ánh mức độ sai của các hình dạng địa lý ở khu vực đó.
So sánh trục của elip và đường kính của vòng tròn ta có sai số về độ dài. So sánh diện
tích của elip và diện tích của đường tròn ta có sai số về diện tích
Phân loại phép chiếu dựa vào đặc tính sai số chiếu hình gồm 3 nhóm chính
ố
Phép chiếu đồng góc đảm bảo các giá trị về góc không có sai số, cho phép ta nhận
được giá trị đúng đắn về hình dạng đối tượng. Một vòng tròn nhỏ trên quả cầu cũng là
một vòng tròn nhỏ trên bản đồ nhưng có sự thay đổi về kích thước. Kích thước thay đổi
tỷ lệ thuận về 2 trục, trục này dài lên (ngắn lại) bấy nhiêu lần thì trục kia cũng vậy
(m=n)
2.2 Phép chiếu đồng khoảng cách
Trong phép chiếu này chiều dài của kinh tuyến (hoặc vĩ tuyến) là không đổi và bằng tỷ
lệ chính
Vòng tròn nhỏ trên quả cầu là elip với trục nhỏ không đổi (đồng khoảng cách theo kinh
tuyến). Tỷ lệ dài dọc theo 1 trong 2 hướng chính không đổi (m=1 hoặc n=1)
2.3 Phép chiếu đồng diện tích
Tỷ lệ diện tích ở mọi nơi trên bản đồ là không đổi
dp
dp
p
'
= = 1 (không có sai số về
diện tích). đảm bảo diện tích trên bản đồ chính xác bằng diện tích thật của nó ngoài
thực tế. Muốn vậy, một trục dài bao nhiêu lần thì trục kia ngắn lại bấy nhiêu lần. Một
vòng tròn nhỏ trên quả cầu bằng vòng tròn đó nhưng có dạng elip trên bản đồ. Vì vậy,
phép chiếu đồng diện tích và đồng góc không thể tồn tại trong một phép chiếu.
Tỷ lệ riêng về diện tích p = m.n = 1
Kết luận: Phải tiến hành lựa chọn các phép chiếu đồ sao cho phù hợp với mục đích sử
dụng bản đồ
H
ình 20: Các phép chiếu
Câu hỏi Bài tập
1. phân biệt phép chiếu và lưới chiếu
2. Trên quả cầu địa lí tìm 1 đường thẳng nối một số điểm dân cư lại với
nhau. Tìm lại các điểm dân cư đó trên bản đồ. đường nối các điểm dân
cư đó trên bản đồ có phải là đường thẳng hay không? Tại sao?
3. Chọn lưới chiếu phù hợp thành lập bản đồ Việt Nam. Tại sao?
4. Dựng các lưới chiếu hình trụ đồng diện tích, khoảng cách và đồng góc
trên khổ giấy tuỳ chọn. Tỷ lệ có thể chọn từ 1:100.000.000 đến
1:200.000.000. Nhận xét sự khác nhau các lưới chiếu
5. Dựng bản đồ Việt Nam trên lưới chiếu hình trụ đồng diện tích, khoảng
cách và đồng góc. Nhận xét.
4. Phép chiếu hình trụ
Hình trụ được đặt tiếp xúc hoặc cắt quả cầu. Chiếu bề mặt của quả cầu lên hình trụ, cắt
dọc hình trụ và trải ra mặt phẳng. Trong phép chiếu hình trụ đứng chuẩn, kinh vĩ tuyến
là những đường song song và thẳng góc với nhau, khoảng cách giữa các kinh tuyến bằg
nhau, khoảng cách giữa các vĩ tuyến tăng hoặc giảm dần từ xích đạo về cực (hình 21)
L
ưới chiếu hình
trụ