Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 74 -
CHƯƠNG V: CÁC TÁC ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC KHAI THÁC VẬN TẢI TỚI
MÔI TRƯỜNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU
Tổ chức khai thác vận tải là một mắt xích trong quá trình giao thông vận tải. Cũng
tương tự như một phương tiện vận tải, hoạt động của dòng phương tiện vận tải cũng gây các
tác động xấu tới môi trường nhưng ở mức độ cao hơn. Các tác động đặc tr
ưng như:
- Gây ô nhiễm không khí do sự phát tán các loại khí thải độc hại và chất thải cứng;
- Ảnh hưởng tới chất lượng nước, đất do quá trình khai thác và tổ chức vận tải;
- Tác động tới các hệ sinh thái;
- Gây tiếng ồn, rung động;
- Các nguy cơ gây tai nạn giao thông và các tác động có hại khác.
Các loại hình vận tải khác nhau cũng gây các tác động khác nhau đến môi trường
(Bảng 4.1).
Để có các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, ngoài những bi
ện pháp có tính
phổ biến áp dụng cho các ngành nói chung và ngành GTVT nói riêng, trong tổ chức khai
thác vận tải cũng có những nét đặc thù.
Bảng 4.1. Tác động môi trường của một số loại hình vận tải
Các hợp
phần môi
trường
Vận tải
đường thuỷ
Vận tải
đường sắt
Vận tải
đường bộ
Vận tải
hàng không
làm thay đổi hệ dòng
chảy do xây dựng
cảng, đào kênh hoặc
nạo vét.
Nước thải sinh
hoạt, nguyên liệu,
dầu bôi trơn rơi vãi,
nước thải từ quá trình
rửa đầu máy, toa tàu.
Ô nhiễm nước mặt và
nước ngầm do nước rửa xe
làm dầu mỡ chảy trên mặt
đất và các chất thải cứng.
Do xây dựng sân
bay làm thay đổi dòng
chảy, tầng nước ngầm
và thoát nước.
TÀI
NGUYÊN
ĐẤT
Mất đất để xây
dựng cơ sở hạ tầng;
chứa các phương tiện
cũ của cảng, đào các
kênh.
Mất đất để xây
dựng hệ thống đường,
ga, kho tàng, đề
p
ô;
động chủ yếu do hoạt
động của các phương
tiện bốc xếp, vận
chuyển hàng hoá, do
vận hành máy nạo
vét, ôtô tải công suất
lớn.
Tiếng ồn và chấn
động tại khu vực ga
và dọc các tuyến
đường, chủ yếu do
còi tàu, va đập của
bánh tàu và đường
ray.
Tiếng ồn và chấn động
do mọi phương tiện giao
thông gây nên tại các
đô thị và
dọc những tuyến đường.
Tiếng ồn quanh
khu vực sân bay, chủ
yếu do động cơ máy
bay phát ra.
NGUY
CƠ TAI
NẠN
Các tàu chở
nhiên liệu và các chất
độc hại bị va chạm
gây hư hỏng và rỉ
Chia cắt hoặc
phá hoại các khu vực
lân cận, đồng ruộng
hoặc nơi cư trú của
các loài hoang dại
Chia cắt hoặc phá hoại
các khu vực lân cận, đồng
ruộng hoặc nơi cư trú của
các loài hoang d
ại; ách tắc
giao thông
Tác động tới khu
vực dân cư xung
quanh.
5.1. Các tác động môi trường trong tổ chức khai thác vận tải đường bộ và các biện
pháp giảm thiểu ô nhiễm
a) Các tác động môi trường trong tổ chức khai thác vận tải đường bộ
Hoạt động của các phương tiện vận tải là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi
trường. Đặc điểm nổi bật của nguồn ô nhiễm sơ cấp do một phương tiện vận tải cơ gi
ới
đường bộ gây ra là rất thấp, nếu cường độ giao thông lớn (dòng xe) thì lại tạo thành nguồn
gây ô nhiễm đáng kể (nguồn đường) chủ yếu là ở hai bên đường giao thông. Khả năng
khuếch tán các chất ô nhiễm phụ thuộc rất lớn vào mật độ nguồn thải, tốc độ gió, địa hình,
quy hoạch khu vực hai bên đường,
Số lượng các phương tiện tham gia vào dòng giao thông có ảnh hưởng đáng kể đế
n
nồng độ các chất gây ô nhiễm như CO, HC, NOx, SO
2
, Pb,… Trong những năm gần đây, số
lượng phương tiện cơ giới đường bộ ở Việt Nam tăng nhanh (Bảng 4.2), trong khi đó hạ
3÷5 lần so với khi chạy ở tốc độ cao.
Cùng với sự gia tăng số lượng phương tiện vận tải, các trạm bảo dưỡng sửa chữa, trạm
rửa xe, trạm tiếp nhiên liệu cũng gia tăng. Các trạm này gây ô nhiễm không khí bởi nhiên
liệu bốc hơi, gây ô nhiễm đất và nước ngầm bởi lượng dầu mỡ rơi vãi ngấm xuống đất, gây
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 76 -
ô nhiễm nước mặt bởi nước thải từ các trạm rửa xe, trạm bảo dưỡng thường không qua xử lý
mà xả thẳng ra hệ thống cống chung hoặc sông hồ ở gần đó.
Việc vận chuyển các hoá chất phục vụ sản xuất công nghiệp, nếu không có biện pháp
bảo đảm an toàn và để xảy ra bay hơi, rơi vãi, cháy nổ,… cũng là nguồn gây ô nhiễm không
khí nghiêm trọng.
Các phương tiệ
n vận tải đường bộ là nguyên nhân chính gây sự tập trung khí CO cao ở
các khu vực đô thị. Các hợp chất hydrocacbon (CmHn) phát sinh từ khí thải của động cơ
hoặc sự bay hơi của hợp chất nhẹ từ nhiên liệu. Ở điều kiện thời tiết phù hợp, các hợp chất
NOx, SO
2
,… sẽ bị biến đổi gây ô nhiễm thứ cấp: mưa axit, khói quang hoá ở diện rộng.
Các phương tiện vận tải cũng là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính (CO
2
từ
khí xả), CFC (chlorofluorocacbon) từ hệ thống điều hoà nhiệt độ gây suy thoái tầng ôzôn,
ảnh hưởng lớn đến sự sống trên Trái Đất.
Sự phát sinh NOx gia tăng nhanh khi nhiệt độ tăng từ hệ thống động cơ đốt trong, xe
hơi là ví dụ điển hình. Nhiệt độ trong động cơ xe có thể lên đến mức 500÷1000
o
C.
Đối với các xe sử dụng dầu diezel, sự phát thải NOx cao hơn xe chạy xăng rất nhiều. Ở
nước ta, tỉ lệ ôtô có động cơ chạy xăng ước tính chiếm khoảng 75% tổng số xe ôtô.
Bảng 4.4. Mật độ NOx (NO) khi tăng nhiệt độ không khí
Cùng với sự gia tăng của các phương tiện vận chuyể
n, các trạm bảo dưỡng, trạm rửa
xe và các trạm tiếp nhiên liệu gia tăng theo. Tại đó, vấn đề ô nhiễm không khí cục bộ xảy ra
bởi các chất bay hơi từ xăng dầu, lượng dầu mỡ rơi vãi cũng tác động tới tầng đất, nguồn
nước mặt. Những vùng đất xốp, dầu mỡ dễ dàng ngấm vào, khả năng theo nước mưa xuống
tầng n
ước ngầm cao. Thực tế hiện nay, lượng nước thải tại các trạm rửa xe trạm bảo dưỡng
xe xả thải trực tiếp ra ngoài môi trường không qua xử lý.
Vấn đề độ ồn và độ rung phát sinh từ hoạt động của phương tiện phụ thuộc vào một số
yếu tố chính:
- Tốc độ của phương tiện;
- Số lượng và loại phương tiện;
- Bề
mặt đường: Chất lượng đường, điều kiện đường (khô hay ướt), độ dốc, chất
liệu nền đường;
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 77 -
- Chất lượng của phương tiện vận tải: chất lượng động cơ, loại lốp xe,
Mức ồn chung của dòng xe trên đường giao thông phụ thuộc vào mức gây ồn của từng
xe, lưu lượng xe, thành phần của dòng xe, đặc điểm đường và địa hình xung quanh. Mức ồn
của dòng xe thường không ổn định và thay đổi rất nhanh theo thời gian. Để đo mức ồn của
dòng xe người ta thường dùng máy
đo tiếng ồn có bộ phân tích giá trị trung bình.
Khi xem xét tác động của ô nhiễm tiếng ồn đối với môi trường xung quanh, cần xác
định mức độ lan truyền của các nguồn gây ồn.
Mức độ lan truyền tiếng ồn của dòng xe trên đường phụ thuộc đáng kể vào khoảng cách
giữa các xe chạy.
Bảng 4.6. Độ ồn phát sinh từ hoạt động của phương tiện vận tải
b
)
- Quy định niên hạn sử dụng đối với các lo
ại phương tiện vận tải. Ở Việt Nam, từ
năm 2005 đã quy định niên hạn cho xe ô tô tải và ô tô khách là 25 năm và theo
tiến trình sẽ giảm dần con số này. Việc quy định niên hạn sử dụng ngoài mục đích
đảm bảo an toàn giao thông còn phục vụ mục đích bảo vệ môi trường vì xe càng
cũ lượng nhiên liệu tiêu thụ trên 100km quãng đường chạy càng lớn.
Để quản lý môi trường tốt cần đánh giá thường xuyên hi
ện trạng ô nhiễm môi trường
do GTVT gây ra bằng các trạm quan trắc môi trường giao thông, đặc biệt tại các nút giao
thông điển hình ở các đô thị lớn.
Môi trường tiếng ồn
Mức âm (dB)
ở tần số 1000 Hz
Độ to (
Son)
- Ôtô nhỏ chạy với tốc độ tiết kiệm xăng
nhất
- Tàu điện ngầm
- Ôtô vận tải hạng nặng chạy bằng dầu diezel
ở cách 8m
70
75
90
8
13
32
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 78 -
- Sử dụng các chế tài như xử phạt, thu giữ những phương tiện phát thải quá tiêu
chuẩn cho phép bằng các thiết bị kiểm soát khí thải di động.
động môi trường để có
phản ánh lựa chọn tối ưu nhằm giảm thiểu các tác động môi trường trong xây dựng và hoạt
động giao thông (giảm ùn tắc, giảm ô nhiễm không khí, tiếng ồn,…). Ở nước ta, các dự án
xây dựng các đường cao tốc chất lượng cao, cầu vượt đã và đang triển khai phần nào khắc
phục được vấn đề quá tải của phương tiện cơ giới hiện nay.
Ưu tiên phát tri
ển mạng lưới vận tải hành khách công cộng nhằm hạn chế sự phát triển
của các phương tiện cá nhân, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Tổ chức khai thác phương tiện vận tải bộ
Đảm bảo xe chạy đúng trọng tải thiết kế vì non tải lượng nhiên liệu bị đốt cháy và
phát thải cũng xấp xỉ như khi đủ tải; còn khi quá tải phương tiện phả
i đi ở số thấp nhiều làm
tăng lượng phát thải. Do vậy, đối với ô tô con và ô tô khách cần chở đủ người theo quy
định, ô tô tải cần hạn chế chạy khi không có hàng. Các loại xe không được chở quá tải.
Lượng phát thải ngoài việc phụ thuộc vào chất lượng phương tiện còn phụ thuộc vào
trình độ và phương pháp lái xe. Các phương pháp tăng tốc - chạy trơn, lái xe ép số,… đều
làm tăng ô nhiễm môi trường. Ch
ạy xe không giữ cự ly quy định giữa các xe trên đường vừa
không đảm bảo an toàn giao thông vừa tăng mật độ phương tiện.
Các phương tiện cần chạy đúng luồng tuyến theo quy hoạch để giảm tắc nghẽn giao
thông. Khi xảy ra ùn tắc không nổ máy tại chỗ.
Thực hiện tổ chức vận tải hợp lý giữa các phương tiện giao thông như: dịch chuyển
phương thức vận t
ải đường bộ sang vận tải đường sắt hoặc vận tải đường thuỷ khi cự ly vận
tải lớn; chuyển nhu cầu đi ô tô, xe máy riêng sang đi các phương tiện vận tải công cộng như
xe buýt, xe điện,…
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 79 -
Thực hiện các biện pháp nhằm giảm số phương tiện và người tham gia giao thông
như: hoàn thiện mạng lưới thông tin (điện thoại cố định, điện thoại di động, internet,…);
hầm không quá 30km/giờ. Phần lớn tại các đường hầm, sự lưu thông không khí kém dẫn tới
lượng khí phát thải cao khi tàu chạy qua.
Theo số liệu điều tra của CEPT (Trung tâm Khoa học Công nghệ và Bảo vệ Môi
trường Giao thông vận tải), sự tập trung bụi ở khu vực gần đường ray khi tàu chạy qua gấp
1,5÷3 lần so với khi không có tàu đi qua.
Ngoài ra tại các điểm gác chắn đườ
ng sắt, mỗi khi có đoàn tàu chạy qua, các phương
tiện giao thông đường bộ sẽ phải dừng lại, tập trung tại một điểm với số lượng lớn, khối
lượng các chất độc hại thải ra vào lúc này sẽ tăng lên đáng kể. Trên đoạn Gia Lâm - Giáp
Bát có 8 điểm giao cắt lớn có gác chắn. Bình quân thời gian chờ đợi tại một điểm là 5
phút/lần. Mỗi ngày có 40 đoàn tàu ch
ạy qua (40 lần đóng gác chắn). Các đầu máy diezel
chạy trên đoạn này đốt cháy mỗi ngày khoảng 6 tấn dầu và thải vào khí quyển một lượng
chất độc không nhỏ.
* Ô nhiễm nguồn nước
Trong hoạt động khai thác vận tải đường sắt, nước thải phát sinh từ quá trình rửa đầu máy,
toa tàu; từ hoạt động sinh hoạt; từ sự rơi vãi của dầu bôi trơn,…
Hàng năm, có khoảng 200m
3
nước thải (với 5÷8 tấn xà phòng) thải ra từ các toa chở
hành khách. Hiện nay lượng nước thải này được thải trực tiếp ra ngoài môi trường mà
không qua xử lý, ảnh hưởng tới nước mặt dọc theo các tuyến đường tàu vận hành. Sự rơi vãi
nhiên liệu, dầu bôi trơn trong hoạt động vận tải đường sắt cũng dẫn tới ô nhiễm môi trường
nước.
* Chất thải rắn
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 80 -
Theo đánh giá, mỗi hành khách thải bỏ 0,2kg rác. Vì vậy, mỗi năm, vận tải đường sắt Việt
Nam sẽ thải ra khoảng 7.000 tấn rác thải, một lượng nhỏ tập trung tại các ga, còn lại được thải
trực tiếp ra ngoài đường ray. Thành phần rác thải bao gồm các loại bao bì thực phẩm (kim loại,
hiện việc đăng kiểm và cấp phép lưu hành cho các đoàn tàu.
Khuyến khích việc sử dụng đầ
u máy chạy điện hoặc bằng các nhiên liệu khác thân
thiện với môi trường thay cho đầu máy diezel để giảm lượng phát thải. Sử dụng đệm từ
trường hoặc đệm không khí thay thế đường ray để giảm rung động và tiếng ồn. Sử dụng hệ
thống thu gom và xử lý chất thải, rác thải của hành khách trên các toa xe,…
Thực hiện đánh giá tác động môi trường thường xuyên đối với ngành vận tải đường
sắt.
* Quy hoạch mở rộng mạng lưới đường sắt
Vận tải đường sắt có sức chở lớn, tốc độ lữ hành cao và nhiều ưu việt khác. Do vậy,
việc phát triển mạng lưới đường sắt theo quy hoạch phù hợp sẽ có khả năng thu hút một
lượng lớn hành khách. Điều đó làm giảm số lượng phương tiện cá nhân và ô tô khách chạy
cùng hướng, dẫn
đến lượng phát thải gây ô nhiễm giảm.
Trong quy hoạch và mở rộng mạng lưới đường sắt cần lưu ý:
- Đưa các ga lớn ra khỏi khu đô thị đông dân cư để tránh ách tắc giao thông và
giảm thiểu ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường.
- Đường sắt cần phải đặt cách khu dân cư từ 200÷300m. Đối với những tuyến
đường cũ gần khu dân cư cần xây tườ
ng giảm ồn (nếu tường cao 1,5m, cách
đường sắt 2,5m thì ở khoảng cách 100m tiếng ồn giảm khoảng 10dB).
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 81 -
- Mở rộng chiều rộng đường sắt lên 1,4m, giảm số đường cua vòng để tăng tốc độ
chạy tàu.
- Sử dụng đường ray dài để giảm mối nối ray. Tăng cường dùng tà vẹt gỗ thay cho
tà vẹt bêtông.
- Xây dựng hệ thống đường sắt chạy điện trên cao hoặc chạy ngầm dưới mặt đất sẽ
ít gây ảnh hưởng đến giao thông đườ
ng bộ và giảm ô nhiễm môi trường.
nhiên liệu 4 ÷ 7,4%.
I.2. Các loại dầu bôi trơn vành bánh
xe
Giảm sức cản do gió ở giao diện bánh
xe lửa, dự tính tiết kiệm năng lượng từ 5
÷ 30%.
I.3. Thay thế máy điều tốc chạy hơi
nước bằng các máy điều tốc chạy điện.
Tiết kiệm nhiên liệu 2 ÷ 5%.
I.4. Bộ vi xử lý dựa trên hệ thống điều
khiển để truyền điện của các đầu máy
diezel.
Tương xứng tối ưu giữa sức ngựa của
động cơ và nhu cầu máy phát điện, dự
tính tiết kiệm 2 ÷ 3%.
I.5. Hệ thống phun nhiên liệu chạy
điện
Dự tính tiết kiệm 2 ÷ 3%
I.6. Các bộ phận buồng đốt phủ gốm. Cho phép động cơ vận hành ở các
nhiệt độ cao, ưu điểm bổ sung trong giảm
ăn mòn do sản phẩm đốt gây ra.
I.7. Các động cơ không đồng bộ 3 pha
có các bộ biến áp và biến tần
Giảm sức cản lực quay, cũng như một
phần năng lượng có thể tái thu hồi để
chạy các bộ phận trợ giúp hãm động.
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 82 -
II. Các đầu máy xe lửa chạy điện
II.1. Các đầu máy siêu mạnh có bộ
Năm 1995, lưu lượng hàng hoá buôn bán qua các cảng biển là 35 triệu tấn (gồm 6 triệu tấn
dầu thô). Hàng năm, lượng buôn bán tăng 9,5%. Chiến lượ
c phát triển các cảng biển có quy
mô lớn phục vụ cho mục đích giao lưu buôn bán (100 triệu tấn hàng/năm, phục vụ cho
những loại tàu chở hàng cỡ lớn (70.000 ÷ 80.000 DWT).
Tổng số tàu biển đang hoạt động tại Việt Nam (tính tới tháng 5/2004) là 864 tàu với
tổng trọng tải 2.643.619 tấn.
Giao thông đường thuỷ gây ra nhiều ảnh hưởng tới môi trường. Người ta ước tính vận
tải biển đóng góp vào s
ự làm ô nhiễm môi trường biển khoảng 12%.
- Gây ô nhiễm không khí do khí thải từ tàu biển, khí thải từ các phương tiện xếp dỡ
hàng hoá, từ máy nổ diezel dự phòng, từ xe tải chở hàng trong khu vực bến cảng. Các chất
gây ô nhiễm tương tự như của các loại phương tiện vận tải dùng động cơ diezel.
- Tiếng ồn và rung động chủ yếu do các chuyển động của các phương tiệ
n vận tải,
phương tiện bốc xếp và vận chuyển hàng hoá trong khu vực bến cảng.
- Ô nhiễm nước:
Do nước thải sinh hoạt và rác thải từ các tàu vận tải. Người ta ước tính có khoảng
50% rác biển do hoạt động của tàu biển thải ra mặc dù trên mỗi tàu đều có thùng chứa rác;
Do thải nước lacanh (nước bẩn đáy tàu) ra sông biển. Việt Nam đã ký Công ước quốc
tế cấm xả n
ước lacanh xuống biển nhưng việc quan trắc và kiểm soát chưa thực hiện được;
Nước dằn tàu là nước dùng để giữ thăng bằng cho tàu được bơm lên từ cảng xuất phát
trước khi khởi hành và xả ra tại nơi tàu đến, loại nước này có thể chuyển tải các loài động
vật hay vi sinh vật có hại, dễ gây tác động xấu tới môi trường;
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 83 -
Nước làm mát động cơ, cùng với nhiên liệu rơi vãi thải xuống sông biển. Các loại
nước này chứa nhiều xăng, dầu mỡ gây ô nhiễm nước sông, biển;
Sự cố tràn dầu do va chạm giữa các tàu, do gặp thời tiết xấu, làm vỡ khoang chứa dầu
điểm thă
m dò và khai thác dầu khí nhộn nhịp nhất trong các khu vực và trên thế giới. Các
vùng có các hoạt động dầu khí là vùng biển phía Nam, vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan và quần
đảo Trường Sa. Các hoạt động khai thác và vận chuyển dầu gây ra tình trạng ô nhiễm
nghiêm trọng. Các tàu chở dầu làm thoát ra biển tới 0,7% tải trọng của chúng trong quá
trình vận chuyển thông thường. Sóng biển và gió đều có chiều hướng đưa lượng dầu thoát ra
hướng về phía bờ biển Việt Nam. Tháng 10 n
ăm 1994, tàu chở dầu của Singapore đã đâm
vào cầu tàu ở cảng Cát Lái trên sông Sài Gòn gần TP. Hồ Chí Minh làm tràn ra 1.700 tấn
dầu. Vùng bị ảnh hưởng bao gồm khu cảng và hơn 30.000 ha ruộng lúa, trại cá và trại vịt.
Đây là vụ va chạm nghiêm trọng nhất từ trước tới nay.
Các vụ tràn dầu xảy ra vì nhiều nguyên nhân, trong đó có gia tăng mật độ đi lại, thiếu
sự kiểm soát giao thông và các biện pháp an toàn không phù hợp trên một số tàu chở
dầu.
Việc duy tu, bảo dưỡng luồng lạch định kỳ cũng gây ảnh hưởng tới hệ sinh thái động
thực vật thuỷ sinh.
Ngoài ra, tại các bến cảng, vấn đề an toàn lao động, sức khoẻ của công nhân, thuỷ thủ
cũng là vấn đề đáng quan tâm. Hoạt động vận tải thuỷ sẽ đẩy mạnh các hoạt động thương
mại khu vức cảng, nhu cầu giả
i trí, mua bán tăng lên, nhờ đó sẽ giải quyết được vấn đề việc
làm cho một số người, nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều vấn đề môi trường xã hội phức
tạp.
b) Các biện pháp giảm ô nhiễm môi trường trong vận tải đường thuỷ
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 84 -
Ô nhiễm lớn nhất do vận tải đường thuỷ tạo ra là ô nhiễm nguồn nước sông và nước
biển. Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, một số biện pháp được đặt ra:
- Thực hiện đăng kiểm chặt chẽ về an toàn kỹ thuật và môi trường đối với các
phương tiện vận tải thuỷ;
- Quy định niên hạn sử dụng các phương tiện v
hành khách và hàng hoá cùng với các trang bị phục vụ khác. Các công trình mặt đất khác
gồm bãi đỗ xe, kho nhiên liệu và mạng tiếp dầu, đài kiểm soát và chỉ huy bay, xưởng bảo
dưỡng phương tiện, các trạm máy phát điện dự phòng, nhà ăn, Sự hoạt động của các
phương tiện và thiết bị nói chung có tính gián đoạn và tập trung cao vào lúc có máy bay cất
cánh và hạ cánh. Trong giai
đoạn này mức độ ô nhiễm nói chung là cao nhất. Tuy nhiên sự
gây ô nhiễm của một cảng hàng không diễn ra liên tục do có nhiều nguồn gây ô nhiễm trong
cảng.
Các ảnh hưởng tới môi trường do các hoạt động sân bay gồm có:
- Tiếng ồn
Tiếng ồn chủ yếu do động cơ máy bay phát ra và là loại ô nhiễm đáng quan tâm nhất
của ngành hàng không. Giai đoạn gây ồn chính của máy bay trên sân bay là lúc máy bay cất
cánh và hạ cánh. Trên đoạn đường bă
ng dài từ 1.000÷3.000m với việc sử dụng toàn bộ công
suất động cơ để lấy đà, tăng tốc và lên cao, đã tạo ra tiếng ồn lúc cất cánh rất lớn. Tuy nhiên
tiếng ồn lúc hạ cánh cũng gây rất khó chịu, do máy bay cần thời gian hàng chục phút để tiếp
đất từ độ cao 1.000m và lăn bánh trên đường băng.
Ở độ cao 50÷100m cường độ ồn rất lớn do các tiếng ù và rít diễn ra t
ừng đợt 10÷30
giây.
Tiếng ồn của động cơ phản lực lớn hơn nhiều so với máy bay cánh quạt. Đặc biệt với
tốc độ lớn hơn tốc độ âm thanh, tiếng ồn đã trở thành hom âm thanh làm người nghe rất
khó chịu.
Mức ồn lớn nhất của các loại máy bay (trừ bom âm thanh) nằm trong khoảng
88÷110dB(A).
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 85 -
Các vùng ảnh hưởng của tiếng ồn có thể được xác định dựa trên kết quả điều tra mang
tính xã hội về sự khó chịu của con người do ồn gây ra. Theo kết quả nghiên cứu của các
chuyên gia về Môi trường đã phân ra 3 khu vực đồng tâm như sau:
+ Các hoạt động dịch vụ thương mại khác.
- Thay đổi chế độ thuỷ văn
Trong quá trình xây dựng cảng hàng không, các thông số hiện tại của chế độ thuỷ văn của
cả một vùng rộng lớn có thể bị thay đổi. Nguyên nhân của những thay đổi có thể là:
+ Do tiêu nước để làm khô sân bãi sẽ làm giảm m
ức bốc hơi, gây ảnh hưởng đến động
vật và thực vật;
+ Việc san nền, thay đổi các độ dốc, các chỗ đào, đắp đất làm thay đổi chế độ các dòng
chảy trên mặt đất;
+ Do việc tạo nên những bề mặt rộng lớn không thấm nước (sân đường băng cho máy
bay) có thể gây ra ngập lụt khu vực do các bề mặt này làm tăng dòng chảy. Ngoài ra
còn do việc phá bỏ những kênh tiêu nướ
c tự nhiên;
+ Xói mòn do việc tăng lưu lượng dòng chảy. Nguyên nhân cũng là do có những bề
mặt rộng không thấm nước.
Ô nhiễm do cảng hàng không đã tác động xấu đến đời sống của dân cư khu vực và
những người làm việc trong cảng hàng không. Hiện nay, tại sân bay Tân Sơn Nhất, hiện
tượng lấn đất của các hộ gia đình thuộc khu dân cư gần đó làm cho hệ thống kênh thoát
nước bề m
ặt bị thu hẹp dẫn tới tình trạng úng ngập, tiêu thoát chậm vào mùa mưa.
Ngoài ra còn tác động đến động vật và thực vật làm cho một số loại cây có thể bị huỷ
diệt hoặc cằn cỗi không phát triển. Một số loài chim không có chỗ trú đậu và có thể tìm đến
tụ tập trên các đường băng gây nguy hiểm cho các máy bay Vì vậy cần phải có những
cách khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm.
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 86 -
b) Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong tổ chức khai thác vận tải
hàng không
* Các biện pháp giảm tiếng ồn
Thực hiện bảo dưỡng kỹ thuật và đăng kiểm nghiêm ngặt máy bay và các thiết bị mặt
từ các khu vực đỗ máy bay, ôtô, sân vận chuyển;
- Xử lý các chất thả
i từ các xưởng bảo dưỡng sửa chữa máy bay và ôtô.
* Giải quyết các vấn đề thuỷ văn
Ngay khi bắt đầu lập đồ án thiết kế đã phải biết chắc chắn nhu cầu về nước cho xây
dựng và khai thác cảng hàng không phù hợp với môi trường xung quanh. Phải đạt được
những yêu cầu sau:
- Tỷ lệ giữa nước trên mặt đất và việc tiếp nguồn cho nước ngầm phả
i được đảm bảo;
- Sử dụng các biện pháp chống xói mòn và lắng đọng khu vực xung quanh. Giữ nguyên
được lớp nước ngầm và chất lượng nước.
Cảng hàng không ngày càng có vai trò quan trọng trong ngành vận tải hàng không
quốc tế cũng như ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hoá. Song song với sự tăng lên của vai
trò là vấn đề gây ô nhiễm của cảng hàng không. Ngay từ bây giờ Việt Nam cần phải có
những qui
định và biện pháp giải quyết những ô nhiễm trong một cảng hàng không, đặc biệt
là với những cảng hàng không quốc tế như Nội Bài, Tân Sơn Nhất. Với những định hướng
phát triển hệ thống cảng hàng không gắn với bảo vệ môi trường ngay từ bây giờ, ngành
hàng không Việt Nam đã và sẽ góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường chung của cả nước,
phù hợp với nguyện vọng chung củ
a nhân loại trên trái đất về việc bảo vệ môi trường trong
sạch cần thiết cho sự sống.