Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 87 -
CHƯƠNG VI – KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
PHẦN II KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
2.1. Khái quát về kinh tế môi trường (KTMT):
2.1.1. Kh¸i niÖm:
KTMT mới chỉ xuất hiện và phát triển trong những năm gần đây do nhu cầu bức
bách của thực tiễn. Để hiểu rõ nội dung nghiên cứu về KTMT, trước hết cần phải nắm được
cơ sở nền tảng của kinh tế học.
KTMT nghiên cứu các vấn đề môi tr
ường với viễn cảnh và những ý tưởng phân tích
kinh tế. Nó khai thác từ cả hai phía: Kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô, nhưng từ kinh tế vi mô
nhiều hơn. KTMT tập trung chủ yếu vào vấn đề người ta ra quyết định như thế nào, tại sao
gây ra những hậu quả đối với môi trường và chúng có thể thay đổi các thể chế, chính sách
kinh tế ra sao để đưa các tác động môi trường vào thế cân bằng hơn, ổn định hơ
n với những
mong muốn và yêu cầu của chúng ta và cả hệ sinh thái.
KTMT nghiên cứu mối quan hệ tương tác, phụ thuộc vào quy định lẫn nhau giữa
kinh tế và môi trường (hệ thống hỗ trợ cuộc sống của trái đất) nhằm bảo đảm một sự phát
triển ổn định, hiệu quả liên tục và bền vững trên cơ sở bảo vệ môi trường và lấy con người
làm trung tâm.
Vậy, KTMT là m
ột môn khoa học kinh tế, ứng dụng các lý thuyết và những kỹ thuật
phân tích kinh tế để giải quyết những vấn đề MT theo chiều hướng đảm bảo hiệu qủa KT-
XH tối đa trong các hệ ràng buộc của MT hoặc trong khả năng của hệ sinh thái
2.1.2. Nội dung nghiên cứu:
• Nội dung nghiên cứu của KTMT:
- Đánh giá tầm quan trọng về mặt kinh tế của sự suy thoái môi trường;
- Tại sao môi trường lại bị suy thoái? Suy thoái MT dẫn đến những hậu quả gì?
- Làm gì để ngăn chặn và giảm sự suy thoái MT một cách có hiệu quả nhất?
• Một số câu trả lời cho các vấn đề trên:
- Môi trường bị suy thoái là do hành vi và thái độ của con người
gây các tác động
xấu đến môi trường, do vậy cần phải giáo dục đạo đức môi trường cho toàn thể
cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau và đòi hỏi có thời gian;
- Các cơ quan thiết chế kinh tế và xã hội chưa có những “khuyến khích” để hướng
người sản xuất và người tiêu dùng có những quyết định đúng đắn phù hợp với
mục tiêu bảo vệ môi trường (vi
ệc người sản xuất và người tiêu thụ gây ô nhiễm
môi trường là vì đó là phương cách rẻ tiền nhất để thanh toán chất thải sau khi sản
xuất xong hoặc đã dùng xong một thứ gì đó);
- Do động cơ lợi nhuận: Việc làm giảm ÔNMT bằng giảm động cơ lợi nhuận là
đúng nhưng chưa đủ vì không phải chỉ có các công ty, xí nghiệp bị thúc đẩy bởi
động cơ lợi nhu
ận mà cả người tiêu dùng cũng gây ÔNMT.
- Suy thoái môi trường dẫn đến hậu quả như: không khí nóng lên, mưa axit, ô
nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, ….
• Phân tích trên chứng tỏ các “khuyến khích” có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt
động của một hệ thống kinh tế. Từ “khuyến khích” ở đây được hiểu là thu hút người
ta vào hay đẩy người ta ra khỏi một chuẩn nhất định, kích thích, hướng dẫn ngườ
i ta
phát huy cách ứng xử hợp chuẩn, sửa đổi cách ứng xử lệch chuẩn. Các hệ thống
khuyến khích có thể được chia thành các nhóm chủ yếu sau:
- Khuyến khích cá nhân và hộ gia đình giảm dần lượng chất thải trong sinh hoạt và
tăng cường sử dụng các sản phẩm có ít chất thải hơn. Ví dụ: trả lệ phí theo số
lượng rác thải thay vì trả bình quân và cố định theo thời gian hay theo hộ
.
- Khuyến khích DNNN và tư nhân giảm chất thải trong QTSX qua việc cưỡng chế
- Phân tích chi phí - l
ợi ích đối với tài nguyên và môi trường nhằm mục đích lựa
chọn giữa các giải pháp thay thế có tính cạnh tranh với nhau, để tìm ra một giải
pháp tối ưu nhất về mặt kinh tế và môi trường (đảm bảo phát triển kinh tế và bảo
vệ môi trường)
KTMT còn quan tâm nghiên cứu và giải quyết các vấn đề quốc tế của môi trường.
Môi trường là vấn đề mang tính vùng, không phân biệt ranh giới hành chính địa phương hay
quố
c gia. Để giải quyết những vấn đề môi trường cấp bách toàn cầu như bảo tồn đa dạng
sinh học, sự thay đổi khí hậu… cần nỗ lực chung của cộng đồng thế giới.
2.2. Quan hệ giữa kinh tế và môi trường:
2.2.1. Mối quan hệ tương tác giữa kinh tế và môi trường:
Mối quan hệ tương tác giữa kinh tế và môi trường là một biểu hiện cụ thể của m
ối
quan hệ tương tác rộng lớn hơn, bao trùm hơn, thường xuyên hơn và xuyên suốt mọi thời
đại kể từ khi xuất hiện xã hội con người trên hành tinh chúng ta. Đó là mối quan hệ tương
tác giữa con người, xã hội và tự nhiên. Tuy nhiên, ở đây ta chỉ phân tích mối quan hệ
tương tác giữa kinh tế và môi trường, phần cốt lỗi nhất của mối quan hệ nêu trên.
Hệ thống môi trường bao gồm các thành phầ
n môi trường với chức năng cơ bản là
nguồn cung cấp tài nguyên cho con người, là nơi chứa đựng phế thải, và là không gian sống
của con người. Các khả năng này của hệ thống môi trường là hữu hạn, trong khi đó, hệ
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 90 -
thống kinh tế luôn diễn ra các hoạt động khai thác tài nguyên, sản xuất chế biến nguyên liệu
và phân phối để tiêu dùng và trong các quá trình đó đã thải ra môi trường một lượng thải
nhất định
chúng sẽ “tìm đường trở về” với thế giới tự nhiên. Tµi
n
g
u
y
ªn R
Ho¹t
®éng s¶n
Ê
Tiªu
th
ô
C
W
W
W
h
h
h
t thải và tác động của chúng đến thế giới tự
nhiên đuợc gọi là kinh tế môi trường. Kiểm soát ô nhiễm là một chủ đề quan trọng nhưng
không phải là duy nhất của kinh tế môi trường. Tác động của con người đến môi trường vô
cùng đa dạng và bằng nhiều cách không chỉ là gây ô nhiễm. Chẳng hạn, sự phá hại môi
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 92 -
trường sống do phát triển nhà ở gây nên, không liên quan gì đến việc thải các chất ô nhiễm
đặc trưng cả.
2.2.2. Giải pháp kinh tÕ trong vấn đề làm giảm ÔNMT:
Việc phân tích các yếu tố trong sơ đồ cho thấy mối quan hệ tương tác giữa kinh tế và
môi trường là sự tác động lẫn nhau và phức tạp. Xem xét các yếu tố này ở góc độ xem xét
tác động đến môi trường có thể giúp tìm ra giải pháp trong việc làm giảm ô nhiễm môi
trường. Một số
giải pháp được đưa ra như sau:
a) Giảm hàng hóa (G)
Tức là giảm chất thải bằng cách giảm số lượng hàng hoá và dịch vụ do nền kinh tế
sản xuất ra. Có nhiều quan điểm khác nhau. Một số người cho rằng, sử dụng giải pháp giảm
đầu ra. Một số khác tìm giải pháp qua chủ trương không tăng trưởng dân số. Dân số tăng
chậm hoặc không tăng có thể làm cho việc kiểm soát tác động môi tr
ường dễ dàng hơn,
nhưng không thể kiểm soát tác động môi trường bằng bất cứ cách nào với hai lý do: một là,
dân số không thay đổi có thể tăng về kinh tế và do đó làm tăng nhu cầu về nguyên vật liệu;
hai là tác động môi trường có thể lâu dài và tích lũy, cho nên ngay cả khi dân số không tăng,
môi trường vẫn có thể bị suy thoái dần. Ở các quốc gia phát triển, điều này có thể dễ dàng
nhận ra mặc dầu dân số không t
ăng trưởng cao nhưng do nền kinh tế phát triển, nhu cầu về
nguyên vật liệu vẫn tăng. Ngoài ra, các nước này đã trải qua các giai đoạn phát triển kinh tế
và đã tác động đến môi trường một thời gian dài trong quá khứ. Tác động môi trường luôn
tích lũy nên cho dù không tăng trưởng về kinh tế tác động đến môi trường vẫn xảy ra.
b) Giảm chất thải (R
ở
khía cạnh vĩ mô, chính sách kinh tế và sự phát triển kinh tế toàn cầu là những yếu tố tác
động không nhỏ đến môi trường. Sự phát triển của nền kinh tế quốc gia hay toàn cầu đã xây
dựng nên những vùng kinh tế khác nhau. Những vùng kinh tế này tác động đến môi trường
thông qua các hoạt động kinh tế. Tương ứng với mức độ của hoạt động mà phạm vi tác
động đến môi trường sẽ khác nhau. Kinh tế thế gi
ới đang từng bước hội nhập thì mức độ tác
động đến môi trường sẽ diễn biến phức tạp. Một số nhà môi trường học lo ngại rằng, khi thị
trường được mở cửa, các trang thiết bị khai thác triệt để nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ
được mang đến tận những nơi có nguồn tài nguyên quý hiếm và nguyên thủy để khai thác,
một khi nhu cầu của con người ngày càng gia tăng theo lối sống hiệ
n đại thì mức độ khai
thác nguồn tài nguyên sẽ gia tăng, hoặc các nước giàu sẽ tận dụng sự phát triển kinh tế mà
khai thác triệt để tài nguyên của những nước nghèo những nước đa phần là bán tài nguyên
dưới dạng thô để đổi lấy sự phát triển kinh tế, kém phát triển mang về sử dụng tại quốc gia
dẫn đến sự chêch lệch về cán cân tài nguyên dự trữ của các quốc gia. Như vậy, các n
ước
kém phát triển hơn, đang trong bối cảnh chịu sức ép từ dân số lên môi trường sẽ gánh chịu
thêm sức ép về cạn kiệt tài nguyên.
Phát triển kinh tế tất nhiên sẽ tổn hại đến môi trường. Hiểu rõ về quan hệ tương tác
giữa kinh tế và môi trường có thể giúp xác định được những nhân tố trong hoạt động kinh tế
tác động đến môi trường và từ đó góp phần trong việc xem xét và tìm giải pháp b
ảo vệ môi
trường.
2.3. Ngo¹i øng:
2.3.1. Kh¸i niÖm vµ ph©n lo¹i:
a) Kh¸i niÖm:
Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp các hoạt động kinh tế ngoài việc đem lại lợi
ích hay thiệt hại trực tiếp cho những người sản xuất, sử dụng sản phẩm, mà nó còn gây các
tác động bên ngoài, gây thiệt hại hoặc đem lại lợi ích một cách ngẫu nhiên (không chủ ý)
mà không phải trả một khoản nào, chủ
nhân của ngôi nhà đó cũng không được nhận một
khoản nào.
Bảng 1. Ví dụ về ngoại ứng
Ngoại ứng tích cực Ngoại ứng tiêu cực
Ngoại ứng
trong sản
xuất
- Trồng rừng
- Trồng hoa hồng cho sản
xuất nước hoa
- Nuôi ong và trồng nhãn
- Sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu
- ô nhiễm nước thải từ các nhà máy sản xuất
- ô nhiễm không khí do nhiệt
Ngoại ứng
trong tiêu
dùng
- thu gom vỏ chai
- sơn sửa nhà cửa
- tái sử dụng túi nilong
- Tiếng ồn, bụi do các phương tiện giao thông
- Sử dụng CFC trong máy điều hoà nhiệt độ và tử
lạnh
2.3.2. Tác động của các yếu tố ngoại ứng
Ngoại ứng có thể tạo ra tác động tích cực (đem lại lợi ích ) hoặc tác động tiêu cực
(tạo ra chi phí) cho những người khác, dẫn đến sự chênh lệch giữa chi phí và lợi ích cá nhân
với chi phí và lợi ích xã hội bởi vì không có yếu tố thị trường nào chi phối được yếu tố
ngoại ứng. Cân bằng thị trường không còn phản ánh chính xác lợi ích và chi phí cũng như
giá cả và sản lượng sản xuất hiệ
e
0
a
b
e
p
p
p
m
s
m
p
s
q
m
q
msc = mpc + mec
s = mpc
mec
d = mpb = msb
Hình 4. Tác động của ngoại ứng tiêu cực
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 96 -
Đường S: đường cung của thị trường về sản phẩm, thể hiện chi phí cá nhân cận biên
(MPC) của việc sản xuất sản phẩm X ở các mức sản lượng khác nhau, thường là các yếu tố
đầu vào mà người sản xuất phải trả tiền
hội (NSB). Có thể xác đinh được lượng tổn thất này khi so sánh sự chênh lệch trong mức
gia tăng tổng lợi ích xã hội và sự gia tăng của tổng chi phí xã hội, khi đó
∫
−=Δ
M
S
Q
Q
dQMSBMSCNSB ).(
Như vậy, đối với trường hợp ngoại ứng tiêu cực thì sản lượng của nền kinh tế
thường được sản xuất ở mức thái quá và định giá của hàng hoá quá thấp
. Khi đó, nền
kinh tế không đạt hiệu quả, phần sản lượng vượt quá mức (ΔQ = Q
M
- Q
S
) đã gây nên một
tổn thất kinh tế vì ở đó chi phí xã hội để sản xuất ra một sản phẩm X thực tế lớn hơn lợi ích
tiêu dùng từ sản phẩm này đem lại. Trong trường hợp có tác động của yếu tố ngoại ứng tiêu
cực, tổn thất kinh tế được biểu thị bằng diện tích tam giác EAB.
b) Trêng hîp ngo¹i øng tÝch cùc
Giả sử chương trình lâm nghiệp cộng đồng đã tạo ra được các yếu tố ngoại tác tích
cực như: giải quyết được công ăn việc làm cho người dân nông thôn, tạo cảnh quan đẹp,
môi trường trong sạch, đem lại sản lượng gỗ cho tiêu dùng,…
Giả sử không có chi phí ngoại ứng (vì là ngoại ứng tích cực nên chi phí ngoại ứng
bằng 0) nên đường cung S là đường chi phí cận biên cá nhân (MPC) và là đường chi phí xã
hội cận biên (MSC), khi đó, S = MSC = MPC
Đường cầu D = MB thể hiện lợi ích biên của người tiêu dùng – là những lợi ích mà
Hình 5. Tác động của ngoại ứng tích cực
Đường cầu D = MB thể hiện lợi ích biên của người tiêu dùng – là những lợi ích mà
người tiêu dùng nhận được từ việc sử dụng gỗ, khi đó, D = MB
Tuy nhiên có rất nhiều lợi ích khác do việc trồng rừng không tính đến trong quyết
định tiêu dùng (người tiêu dùng không phải trả tiền vì coi là không được hưởng những lợi
ích đó như hạn chế xói mòn, giảm hạn hán), do vậy, đường MEB là
đường lợi ích bên ngoài
(là những giá trị bằng tiền của những lợi ích của việc trồng rừng đem lại lợi ích cho người
khác trong xã hội), khi đó, lợi ích biên xã hội (MSB) sẽ bằng lợi ích do việc tiêu dùng gỗ và
các lâm sản công với lợi ích biên ngoại ứng từ chương trình trồng rừng:
MSB = MB + MEB.
Để đảm bảo hiệu quả kinh tế, phải đảm bảo sự cân bằng giữa MSB và MSC Æ xuất
hiện điểm E với mức trồng rừng là Q
S
với mức giá là P
S
.
Sản lượng gỗ hiệu quả là sản lượng ở đó biên ích xã hội đúng bằng biên phí xã hội bỏ ra
và được xác định tại điểm Q
S
. Trong khi đó, sản lượng thực tế được sản xuất ra trên thị
trường lại là Q
M
, quá ít so với nhu cầu thực. Người trồng rừng và mức tiêu thụ sản phẩm
phụ thuộc vào thị trường, vì vậy họ chỉ trồng rừng với mức Q
M
với giá P
M
, khi đó, MB =
MPC. Khi đó, nền kinh tế kém hiệu quả, tổn thất kinh tế được xác định bởi phí bỏ ra lớn
lợi ích của mình.
Nếu một người, bị tác động vật lý của chất thải nhưng lại hoàn toàn bàng quan với
tác động đó, thì cũng xem như không bị ô nhiễm về mặt kinh tế
Ví dụ: một số người có thể vẫn ngủ ngon và không quan tâm đến những tiếng ồn
xung quanh.
Ô nhiễm môi trường là một dạng ngoạ
i ứng mà ở đó tác động được tạo ra bên trong
một hoạt động hoặc quá trình sản xuất hay tiêu dùng nào đó nhưng lại gây ra những chi phí
không được tính đến cho những hoạt động hoặc quá trình khác bên ngoài.
Nếu những chi phí ngoại ứng này được thanh toán hoặc đền bù bằng một hình thức
nào đó thì có thể xem như ngoại ứng ô nhiễm đã được giải quyết và ta gọi đó là “nội hoá
các chi phí ngoại ứng”
2.4.2.
Ô nhiễm tối ưu – cách tiếp cận
Các nhà kinh tế cho rằng để chấm dứt ô nhiễm, có hai lựa chọn:
+ Giảm thiểu tối đa (nếu không phải là ngừng lại) các hoạt động kinh tế.
+ Chi phí cho việc giảm ô nhiễm
Cả hai cách lựa chọn đều không đảm bảo sẽ có lợi nhất cho xã hội và thực tế xã hội
vẫn có thể có lợi nếu ô nhiễm ở một mức độ nhất đị
nh
Vấn đề đặt ra: cần phải đạt được mức độ ô nhiễm tối ưu.
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 99 -
Kinh tế môi trường đã chỉ ra hai cách tiếp cận để đạt mức ô nhiễm tối ưu về mặt kinh
tế này
a)
Ô nhiễm tối ưu tại mức cân bằng xã hội
Ô nhiễm gắn với việc sản xuất một loạt hàng hoá nào đó. Nếu còn tồn tại hoạt động
sản xuất thì việc tạo ra ô nhiễm là không thể tránh khỏi. Khi mức sản xuất tăng thì ô nhiễm
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 100 -
Hình 6. Ô nhiễm tối ưu: trường hợp một doanh nghiệpTrong đó: + MNPB: lợi ích cá nhân ròng cận biên (là lợi ích tăng thêm mà một xí nghiệp
đang gây ô nhiễm nhận được từ việc thay đổi mức độ hoạt động của nó bằng một
đơn vị)
+ MEC: chi phí ngoại ứng cận biên (là giá trị bằng tiền của thiệt hại do một đơn
vị ô nhiễm của nhà máy gây ra cho xã hội)
Như vậy, trong trường hợp hoạt động của doanh nghiệ
p trong điều kiện thị trường
cạnh tranh hoàn hảo thì: MNPB = MR – MC = P - MC =MEC
hay P=MC+MEC=MSC.
Khi chưa tính đến chi phí môi trường, người sản xuất tối đa hoá lợi nhuận sẽ sản xuất
tối đa tại Q
P
vì ở đó MNPB = 0 (MR = MC), tổng lợi nhuận là toàn bộ diện tích nằm dưới
đường MNPB và có thể tính theo công thức
)Q()Q(
Q
0
Q
0
PP
PP
TCTRdQ.)MCP(dQ.MNPB −=−==
∫∫
Π
Nếu tính đủ cả chi phí môi trường, rõ ràng là tổng lợi nhuận sẽ giảm xuống còn bằng
diện tích OAB trong hình 2.10 và được tính theo công thức:
)Q()Q()Q(
Q
0
Q
0
***
**
TECTCTRdQ.)MECMCP(dQ).MECMNPB( −−=−−=−=
∫∫
Π
diễn theo nhiều cách nhưng trong phân tích của chúng ta sẽ sử dụng hàm chi phí thiệt hại
cận biên - MDC.
Một hàm chi phí thiệt hại cận biên thể hiện mức thay đổi (hay biến thiên) về
những thiệt hại khi lượng chất thải hoặc nồng độ chất gây ô nhiễm trong môi trường
thay
đổi một đơn vị.
Độ dốc và hình dạng của đường chi phí thiệt hại cận biên phụ thuộc và chất gây ô
nhiễm và điều kiện môi trường cụ thể. Nói chung đường chi phí thệt hại cận biên có độ dốc
đi lên từ trái qua phải thể hiện sự gia tăng nhanh của thiệt hại khi lượng chất thải ngày càng
nhiều. Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 103 -
Hình 8. Một số dạng đường thiệt hại cận biên
Trên đồ thị, những diện tích nằm dưới đường thiệt hại cận biên tương ứng với các
mức tổng thiệt hại; chẳng hạn nếu mức thải là W1 thì tổng chi phí thiệt hại sẽ là diện tích
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 104 -
Hình 9. Các loại đường chi phí giảm ô nhiễm cận biên tiêu biểu
Chi phí giảm ô nhiễm hay giảm thải cận biên (MAC) thể hiện sự gia tăng trong
tổng chi phí giảm thải để làm giảm được một đơn vị chất thải gây ô nhiễm hay nói cách
khác đó là chi phí giảm thải được nếu để lượng chất thải tăng lên thêm một đơn vị.
Trên trục hoành, các đường chi phí giảm thải cận biên xuất phát t
ừ những lượng chất
thải không thể được kiểm soát, tức là lượng chất thải khi chưa có sự can thiệp của cơ quan
quản lý môi trường. Nói chung các đường MAC có hướng tăng từ phải qua trái, cho thấy chi
phí giảm thải cận biên tăng dần. Điều này phù hợp với thực tế là việc làm sạch môi trường
ngày càng trở nên khó khăn, thậm chí không thể xử lý được những đơn vị chấ
t thải cuối
cùng do công nghệ xử lý còn chưa ra đời hoặc đã có nhưng rất khan hiếm nên giá rất cao.
Tổng chi phí giảm ô nhiễm có thể được tính toán bằng diện tích nằm bên đươi
đường MAC trong những khoảng xác định khác nhau. nếu mức thải cuối cùng là W
1
thì
tổng chi phí giảm thải sẽ là diện tích W
1
AW
m.
.
• Bây giờ chúng ta sẽ xem xét mô hình về sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc
làm giảm ô nhiễm bằng cách thể hiện cả hai đường MAC và MDC trên cùng một đồ
chất thải giảm và vì thế tổng chi phí thiệt hại cũng giảm. chi phí thiệt hại giảm đi cũng đồng
nghĩa với việc lợi ích của người bị ô nhiễm tăng lên hay đó chính là lợ
i ích của việc giảm ô
nhiễm. Nếu chúng ta có gắng giảm thải về bằng 0, chúng ta sẽ phải chi phí rất lớn. Liệu rằng
đó có phải là kết quả mà chúng ta mong đợi hay không? Các nhà kinh tế nói rằng tại mức
này có thể chúng ta đã phải bỏ một chi phí quá lớn để nhận được một lợi ích nhỏ hơn rấtt
nhiều so với chi phí đó.
Bằng đồ thị, chúng ta có thể dễ dàng thấy
được là tại mức thải W
*
(tại đó MAC=MDC),
tổng chi phí môi trường là nhỏ nhất, bao gồm tổng chi phí giảm thải là diện tích tam giác
W
m
EW
*
và tổng chi phí thiệt hại là diện tích tam giác EAB.
Nếu mức thải tại W
1
thì so với W
*
, thiệt hại do ô nhiễm giảm nhưng chi phí cho việc
giảm ô nhiễm lại tăng thêm quá nhiều. Kết quả là tại W
1
, tổng chi phí môi trường của xã hội
tăng thêm bằng diện tích tam giac EAB.
Chúng ta cũng có thể chứng minh tính hiệu quả này về mặt toán học. Tại mọi mức
thải chung ta luôn có:
TEC=TAC+TDC
2.5.1. Thuế ô nhiễm và mục tiêu tối đa hoá phúc lợi xã hội
Theo cách tiếp cận ô nhiễm tối ưu thứ nhất vừa nêu ở trên, người gây ô nhiễm cần
phải giảm sản lượng về mức tối ưu xã hội. Để tạo một động cơ kinh tế cho người gây ô
nhiễm thay đổi mức sản lượng của mình, cần phải buộc họ chịu đầy đủ chi phí xã hội của
việc sản xuất, bao gồm cả chi phí cá nhân và chi phí ngoạ
i ứng môi trường.
Thuế ô nhiễm là một khái niệm xuất hiện năm 1920 do nhà kinh tế học người Anh
Pigou đưa ra. Theo ông đề nghị: người gây ô nhiễm phải trả một khoản thuế căn cứ vào tác
hại ước tính của việc phát thải ô nhiễm do họ gây ra ⇒ người ta gọi thuế này là thuế Pigou.
a) Nguyên tắc đánh thuế do Pigou đưa ra: mức thuế ô nhiễm tính cho mỗi đơn vị sản
phẩm gây ô nhiễm có giá trị bằng chi phí ngoại ứng do đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm gây ra
tại mức sản lượng tối ưu xã hội Q
*
(t
*
= MEC
(Q*)
)
b) Mục đích: buộc nhà sản xuất phải “nội các hoá các ngoại ứng” và điều chỉnh mức hoạt
động của mình về sản lượng tối ưu xã hội, vì thế người ta hay gọi là thuế ô nhiễm tối ưu.
O
Q*
Q
M
MSC = MC + MEC
S
t
= MC + t
S = MC
TSB = TB. Do có chi phí ngoại ứng nên: TSC = TC + TEC
Khi đó ta có: NSB = TB – (TC + TEC) (1)
Mục tiêu đặt ra là phải đạt NSB cực đại. Mục tiêu này đạt được nếu:
0=−−=
dQ
dTEC
dQ
dTC
dQ
dTB
dQ
dNSB
⇔ MB – MC – MEC = 0
⇔ MB = MC + MEC (2)
Khi điều kiện này thoả mãn, chúng ta sẽ đạt được mức sản lượng tối ưu xã hội Q
*
, vì
thế có thể viết lại là: MB
(Q*)
= MC
(Q*)
+ MEC
(Q*)
= MSC
(Q*)
(3)
Nếu ta đánh thuế t
*
= MEC
gánh nặng về chi phí cho người sản xuất.
Kết luận:
Khi chưa áp dụng thuế, người phải trả chi phí môi trường là người bị ô
nhiễm; sau khi áp dụng thuế, người gây ô nhiễm phải trả khoản chi phí đó.
2.5.2.
Thuế ô nhiễm và mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của người sản xuất
Bằng cách đánh thuế t* = MEC
(Q*)
doanh nghiệp sẽ có động cơ kinh tế để sản xuất
tại mức sản lượng Q
*
là tối ưu đối với xã hội và vì vậy tạo ra ô nhiễm tối ưu.
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 108 -
Khi chưa áp dụng thuế: doanh nghiệp sẽ sản xuất tại mức Q
m
và gây ô nhiễm ở mức
lớn nhất W
m
, lợi nhuận của doanh nghiệp là diện tích tam giá OAQ
m
Khi áp dụng thuế: doanh ngihệp phải trả một khoản thuế t
*
tính trên mỗi đơn vị sản
phẩm đầu ra cho Nhà nước. Tại mức sản lượng Q
*
, tổng số thuế mà doanh nghiệp phải trả là
S
O’t*EQ*
Hình 2.12. Thuế ô nhiễm và sự thay đổi lợi nhuận của doanh nghiệp
¤ nhiÔm
MNPB = M
Π
MEC
W
M
W*
O
O'
A
t*
Chi phÝ/lîi Ých
M
Π
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 109 - Chúng ta cũng có thể biểu diễn sự dịch chuyển của đường M
Π
như trong hình (b).
Đường lợi nhuận cá nhân ròng cận biên sau thuế là: M
Π t
= M
Π
- t
*
.
Đường lợi nhuận mới này cắt trục hoành tại Q
*
và tổng lợi nhuận là S
OBQ*
(S
OBQ
=
S
t*AE
trong hình a).
Nếu thể hiện những điều trên dưới dạng hàm số toán học ta có:
Trước khi có thuế
: mục tiêu của doanh nghiệp là tố đa hoá lợi nhuận:
Max Π = TR – TC.
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
MR = P, do đó P = MC + t
*
2.5.3. Một số vấn đề liên quan tới áp dụng thuế ô nhiễm tối ưu:
Việc xác định thuế t* rất khó khăn do không đủ thông tin về lợi ích cá nhân ròng cận
biên (MNPB)và chi phí ngoại ứng cận biên (MEC)
Tạo sự không công bằng vì người gây ô nhiễm phải trả nhiều tiên hơn mức chi phí ngoại
ứng môi trường mà họ gây ra cho xã hội trong trường hợp doanh nghiệp có quyền tài sản về
môi trường.
Trong trường hợp doanh nghiệp không có quyền tài sản về môi trường, khoản thuế
(a+b) sẽ bao gồm cả việc chi tr
ả cho phí môi trường và chi trả cho quyền sử dụng các
nguồn lực môi trường vốn là khan hiếm (chi phí cơ hội của việc sử dụng môi trường)
Thuế ô nhiễm đánh vào từng đơn vị sản phẩm được sản xuất ra mà không căn cứ vào
lượng chất thẩi gây ô nhiễm thực tế được thải ra môi trường.
− Không tạo ra được những động cơ khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất sạch hơn
để giảm lượng chất thải cũng như không khuyến khích doanh nghiệp tìm kiếm các giải pháp
tốt hơn để xử lý hay huỷ bỏ chất thải.
Ti liu tham kho
Mụn Mụi trng trong XD - 110 -
2.6. Phõn tớch chi phớ li ớch:
2.6.1. Phõn tớch chi phớ li ớch:
Phõn tớch chi phớ - li ớch l mt cụng c chớnh sỏch cho phộp cỏc nh hoch nh
chớnh sỏch quyn c la chn gia cỏc gii phỏp thay th cú tớnh cnh tranh vi nhau.
Phõn tớch chi phớ - li ớch c ỏp dng vo vic ỏnh giỏ cỏc h thng t nhiờn v
ỏnh giỏ cht lng mụi trng, l mt b phn hu c ca quỏ trỡnh ra quyt nh mi
cp: a phng, vựng, quc gia, quc t
Yờu cu ca mt ph
ng ỏn :
Xác định các giải pháp thay thế
P hâ n đ ịnh ch i ph í và lợi ích
Đánh giá chi phí và lợi ích
Tính toán giá trị các chỉ tiêu liên quan
(g iá trị hiệ n tại, g iá trị ròn g, tỷ lệ lợi ích -
chi phí và hệ số hoàn vồn nội tại)
Sắp xếp thứ tự các giải pháp thay thế
Tài liệu tham khảo
Môn Môi trường trong XD - 111 -
a/ Xác định các giải pháp thay thế:
Đây là bước đầu tiên trong quá trình phân tích chi phí – lợi ích. Giai đoạn này phải
xác định được các giải pháp khác nhau cho một quyết định chính sách. Với những quyết