- 44 -
- Đào tạo trên 1 500 giáo viên và 10 000 nhân viên phục hồi chức năng dựa vào
cộng đồng và gia đình người khuyết tật, có khả năng huấn luyện về phục hồi chức năng
cho người khuyết tật tại cộng đồng.
Việc bồi dưỡng phụ huynh học sinh một số kiến thức để chuẩn bị cho trẻ đến
trường là một phần tiếp theo của chươ
ng trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
nhằm tăng cường sự hợp tác giữa gia đình và nhà trường.
Chương trình giáo dục tại cộng đồng được giới thiệu ở Việt Nam vào năm 1990
qua việc tổ chức những khoá đào tạo ngắn hạn cho một số hiệu trưởng các quận và
huyện trước khi tiến hành chương trình y tế phục hồi chức năng d
ựa vào cộng đồng.
Năm 1991, một nhóm chuyên gia nghiên cứu của trung tâm Giáo dục trẻ khuyết
tật, Viện Khoa học Giáo dục lần đầu tiên tổ chức giới thiệu về hội nhập và hoà nhập
nhưng những chương trình giáo dục đặc biệt với qui mô toàn quốc thì chưa hề có. Chỉ
có một vài trung tâm và các trường hầu như tập trung ở thành phố Hồ Chí Minh bước
đầu thử nghiệm về giáo dụ
c hội nhập với những cách làm khác nhau.
Từ năm 1991-1992, các khoá đào tạo ngắn hạn (3 tuần) được tổ chức tại địa
phương đã thu hút giáo viên ở các trường tiểu học.
Để xây dựng ngành giáo dục đặc biệt, dù trong các trường chuyên biệt hay ở các
trường hoà nhập, trước hết phải có đội ngũ giáo viên. Thế nhưng hiện nay, giáo viên
dạy trẻ khuyết tật mới chỉ đảm bả
o dạy cho 3% tổng số trẻ khuyết tật và chất lượng giáo
viên còn nhiều hạn chế cần được bồi dưỡng về cả lý luận và thực hành.
Năm 1995, trung tâm Đào tạo và Phát triển Giáo dục đặc biệt được thành lập tại
trường Đại học Sư phạm Hà nội nhằm nghiên cứu mô hình đào tạo giáo viên giáo dục
đặc biệt. Năm 1996, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã dành kinh phí từ
chương trình 4 về đào
tạo giáo viên trực tiếp tham gia chỉ đạo cùng với trung tâm Đào tạo và Phát triển giáo
dục đặc việt tổ chức khoá đào tạo thí điểm trình độ cử nhân giáo dục đặc biệt cho 34
TT Cơ quan chủ quản/Loại tật
Số
trường
Số
học sinh
Số
giáo viên
A Trường, trung tâm dạy trẻ điếc 45 2 420 348
1 Giáo dục 26 1 412 192
2 Lao động-Thương binh và xã hội 10 583 85
3 Hội chữ thập đỏ 3 149 31
4 Mặt trận Tổ quốc 1 19 11
5 Sở Y tế/Nhà thờ/UBND quận 3 57 10
6 Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em. 2 111 7
B Trường, trung tâm dạy trẻ CPTTT 31 320 32
1 Giáo dục 15 272 27
2 Lao động-Thương binh và xã hội 1 8 1
3 Hội chữ thập đỏ 2 30 3
4 Mặt trận Tổ quốc 1
5 Sở Y tế/Nhà thờ/UBND 9 10 1
6 Hội phụ nữ 1
7 Dân lập 1
C Trường, trung tâm dạy trẻ mù 23 500
Tổng số 99 3 240 380
Từ bảng thống kê trên ta nhận thấy:
So với tổng số trẻ khuyết tật trong cả nước (khoảng hơn 3 triệu) thì con số
3.240 trẻ khiếm thính được đi học quả là một con số nhỏ nhoi và khiêm tốn.
Số giáo viên cũng rất ít so với số trường và số lượng học sinh. Đó là chưa nói
TT Loại hình Số lượng Số học sinh Số giáo viên
1 Trường 30 1 572 226
2 Trung tâm 15 848 122
3 Trung tâm Can thiệp sớm 25 440 77
Tổng 70 2 860 425
(Nguồn: Dự án Hỗ trợ phát triển CTS ở Việt Nam 1999-2002)
Như vậy, cũng giống như các cở sở giáo dục trẻ khuyết tật khác, các cơ sở giáo
dục trẻ khuyết tật thính giác thuộc nhiều cơ quan chủ quản khác nhau (xem bảng 1) và
rất đa dạng: trường công, trường tư, trường dân lập, trường bán công, trung tâm và tuỳ
theo cơ quan chủ quản mà tính chất của các cơ sở này khác nhau.
VD: nế
u cơ quan chủ quản là Bộ Y tế thì cơ sở đó hoạt động thiên về phục hồi
chức năng, nếu thuộc Bộ Lao động Thương binh và xã hội thì hoạt động nặng về bảo trợ
xã hội và dạy nghề.
Nhưng dù thuộc cơ quan chủ quản nào thì tất cả các cơ sở đó đều có cùng chung
mục tiêu là dạy văn hoá. Tuy nhiên, chương trình và liều lượng văn hoá
ở các nơi có
khác nhau, tuỳ thuộc vào mức độ khó khăn của trẻ, vào điều kiện cụ thể của số lượng và
chất lượng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất.
Như chúng ta thấy trên bảng thống kê, riêng đối với hệ thống các trường dạy trẻ
khiếm thính đã xuất hiện một số lượng đáng kể các trung tâm can thiệp sớm.
Trong khoảng 3 n
ăm trở lại đây, nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của
can thiệp sớm, các chương trình CTS cho trẻ khiếm thính nhỏ tuổi đang phát triển
nhanh với qui mô ở mức trung tâm. Tuy chưa có những đánh giá tổng thể nhưng kết quả
thực tế của các chương trình đã có ảnh hưởng tích cực đến sự ra đời các trung tâm mới.
Hai mươi lăm trung tâm hiện nay đều đang trự
c thuộc các trường và trung tâm dạy trẻ
khiếm thính ở các tỉnh, đã thu hút sự tham gia của 440 trẻ và gia đình của trẻ khiếm
t trẻ khiếm thính khi còn rất nhỏ có
thể không có biểu hiện hành vi khác lạ so với trẻ bình thường. Điều này có nghĩa là việc
phát hiện sớm tật thính giác không thể chỉ bằng quan sát thông thường, nó đòi hỏi các
phương pháp đo phù hợp với từng độ tuổi của trẻ. Vì vậy, công tác chẩn đoán tật thính
giác là tập hợp những phương pháp đo khám nhằm mục đích xác định mức độ, lo
ại tật
điếc cũng như nguyên nhân gây điếc. Kết quả chẩn đoán là cơ sở quan trọng nhất để chỉ
định đeo máy trợ thính, đây là vấn đề có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc giáo dục trẻ
khiếm thính sau này.
Sau khi trẻ được chẩn đoán phát hiện thì các dịch vụ chăm sóc thính học là yếu
tố quyết định chất lượng nghe của tr
ẻ. Chăm sóc thính học bao gồm: chỉ định máy, hiệu
chỉnh máy, duy trì bảo quản máy và những thiết bị hỗ trợ thính học. Việc chăm sóc
thính học có thể do các nhà thính học làm việc trong lĩnh vực y tế, những nhà thính học
làm việc trong môi trường giáo dục hay những nhà thính học hoặc những kỹ thuật viên
đo sức nghe đảm nhiệm.
Trên thực tế ở Việt Nam thì đây đang là khâu thiếu nhất và yế
u nhất vì các lý do
sau:
- Cả nước hiện nay mới chỉ có 2 cơ sở chính thức là Viện Tai-Mũi-Họng Trung
ương (Hà Nội) và Trung tâm Tai-Mũi-Họng (TP HCM) có trách nhiệm về chuyên môn
liên quan đến những vấn đề về tai, mũi, họng cho mọi người từ sơ sinh đến người già.
- Việt Nam chưa tự đào tạo được các nhà chuyên môn về thính học và trị liệu về
ngôn ngữ.
- Trang thiết bị để khám, chẩn đ
oán và xác định độ điếc vô cùng nghèo nàn và
lạc hậu.
Đây là những khó khăn cơ bản làm giảm hiệu quả đáng kể của dịch vụ CTS cho
trẻ khiếm thính.
- 48 -
bộ chương trình này vẫn chỉ được dùng như bộ chương trình có tính chất tham khảo,
chưa được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt chính thức.
Tình hình này gây nên nhiều khó khăn cho các trường trong cả việc chỉ đạo
chuyên môn lẫn tổ chức giáo dục. Mặ
t khác, tình hình này đòi hỏi các trường phải phát
huy khả năng sáng tạo để tìm ra một chương trình phù hợp với nhu cầu và khả năng của
trẻ, đồng thời phù hợp với điều kiện riêng của từng trường. Vì vậy, nếu khảo sát tình
hình sử dụng chương trình đang giảng dạy tại các trường cho trẻ khiếm thính hiện nay,
chúng ta sẽ có được bức tranh hết sức sinh động. Nhìn chung, các trường
đều tự xây
dựng chương trìn cho mình trên cơ sở phối hợp chương trình phổ thông chính qui với
chương trình của Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục. Có nơi, giáo viên sử dụng
cả chương trình thực nghiệm phổ thông của Trung tâm Thực nghiệm Giáo dục.
4.2.3.2. Phương pháp dạy học nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính
Đây là một vấn đề hết sức phức tạp trong lĩnh vực giáo d
ục trẻ điếc. Có thể nói,
sự “cạnh tranh” giữa hai phương pháp: phương pháp nghe nói và phương pháp sử dụng
ngôn ngữ ký hiệu đã trở thành “cuộc chiến tranh” triền miên trong lịch sử của ngành
giao dục cho trẻ khiếm thính. Việt Nam không nằm ngoài tình trạng này, tuy cuộc cạnh
tranh giành vị trí độc tôn của hai phương pháp không đến mức gay gắt. Hầu hết các
trường đều cố gắng vận dụng phương pháp hội tho
ại nhằm phát triển ngôn ngữ nói cho
trẻ điếc. Ngôn ngữ ký hiệu (thủ ngữ điệu bộ) được dùng như một phương pháp bổ trợ.