ĐẠI CƯƠNG VỀ GIÁO DỤC TRẺ KHIẾM THỊ - Pdf 13

- 1 -

1.4.3. Ngôn ngữ 8
Chương 2. Phát triển các kỹ năng cho trẻ khiếm thị
2.1. Dạy kỹ năng định hướng di chuyển cho trẻ khiếm thị 11
2.2.1. Kỹ thuật đi với người dẫn đường 11
2.2.2. Kỹ thuật sử dụng các thế tay an toàn 12
2.2.3. Các kỹ thuật sử dụng gậy 13
2.2. Phát triển kỹ năng xúc giác và dạy đọc và viết chữ nổi cho trẻ khiếm thị 17
2.2.1.Phát triển kỹ năng xúc giác 17
2.2.2. Dạy đọc và viết chữ nổi cho trẻ khiếm thị 22
2.3. Phát triển kỹ năng thị giác cho trẻ khiếm thị 27
Chương 3. Hệ thống phương tiện trợ thị
3.1. Phương tiện trợ thị quang học 31
3.2. Phương tiện trợ thị phi quang học 39
Chương 4. Giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam
4.1. Tình hình giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam 43
4.2 Hệ thống giáo dục trẻ khiếm thị tại Việt Nam 47
4.2.1. Các hình thức giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam 47
4.2.2. Hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho trẻ khiếm thị ở Việt Nam 48
III. Tài liệu tham khảo - 1 -
I. ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN


trẻ khiếm thị: cảm giác tri giác, giao tiếp, ngôn ngữ, nhận thức; phát triển các kỹ năng đặc
thù cho trẻ khiếm thị; Giới thi
ệu hệ thống phương tiện trợ thị và tình hình giáo dục trẻ
khiếm thị ở Việt Nam.
8. Nhiệm vụ của sinh viên
- Dự lớp: đầy đủ các tiết lý thuyết, thảo luận, bài tập và thực hành.
- Làm bài thi kiểm tra giữa kì, thi hết học phần.
- 2 -
9. Học liệu học tập
1. Tài liệu bài giảng.
2. Geert Wiliam van Delden, Bài giảng về Đại cương giáo dục trẻ khiếm thị, Khoá
đào tạo cử nhân về giáo dục trẻ khiếm thị 2001 –2003.
3 .Đặc điểm nhận thức của trẻ khiếm thị, Trung tâm nghiên cứu trẻ có tật, Viện
Khoa học giáo dục, 1999.
4. Phạm Minh Mục, Giáo dục hoà nhập cho trẻ khiếm thị, Tài liệu bài giảng, Viện
CL & CTGD.
5. Nguyễn Hiệp Thương, Định hướng di chuyển, Tài liệu bài giảng, Đại học Sư
phạm Hà Nội6
6. Phạm Thị Bền, Hình thành các kỹ năng và phát triển các giác quan, Tài liệu bài
giảng, Đại học Sư phạm Hà Nội.
10. Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên dựa vào các tiêu chí sau:
- Dự lớp : Sinh viên đi đủ số giờ lý thuyết và thực hành theo qui định, chuẩn bị các
bài đọc theo yêu cầu của giảng viên
- Thảo luận : Tham gia thảo luận nhóm, đóng góp ý kiến, trình bày được kết quả
thảo luận của nhóm.
- Bản thu hoạch : Viết thu hoạch về các buổi tự học, thảo luận (theo nhóm), viết thu
hoạch các nhân sau mỗi buổi thực hành .
- Thuyết trình : Thuyết trình về quan điểm của các thành viên trong mỗi nhóm thảo
luận về các vấn đề được giao trong buổi thảo luận

Chương 3. Hệ thống phương tiện trợ thị
3.1 Phương tiện trợ thị quang học
3.1.1. Giới thiệu các phương tiện trợ thị quang học
3.1.2. Hướng dẫn sử dụng phương tiện trợ thị quang học cho trẻ khiếm thị
3.2 Phương tiện trợ thị phi quang học
3.2.1. Giới thiệu các phương tiện trợ thị phi quang học
3.3.2. Hướng dẫn sử dụng phương tiện trợ thị phi quang học cho trẻ khiếm thị
Chương 4. Giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam
4.1 Tình hình giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam
4.1.1.Sự phát triển của giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam trước năm 1945
4.1.2. Sự phát triển của giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
4.2. Hệ thống giáo dục trẻ khiếm thị tại Việt Nam
4.2.1. Các hình thức giáo dục trẻ khiếm thị ở Việt Nam
4.2.2. Hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho trẻ khiế
m thị ở Việt Nam

13. Ngày phê duyệt
14. Cấp phê duyệt

- 4 -
II. ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

Nhìn kém: Thị lực còn 0,09-0,3 Vis khi đã có các phương tiện trợ giúp tối đa trẻ vẫn gặp
khó khăn trong hoạt động. Tuy nhiên trẻ này có khả năng tự phục vụ, ít cần sự giúp đỡ
thường xuyên của mọi người, còn chủ động trong mọi hoạt động hằng ngày.
1.3. Nguyên nhân
Trẻ bị khiếm thị do nhiều nguyên nhân. Những nguyên nhân chính sau đây gây tật
khiếm thị:
- Do bẩm sinh; di truyền gen; bố hoặc mẹ bị nhiễm chất độc hoá học; mẹ bị cúm lúc
mang thai hoặc bị tai nạn gây chấn thương thai nhi
- Trong khi sinh: nhiễm khuẩn, forcep, trẻ bị sinh ngược, sinh khó, ngạt trong khi
sinh,…
- Hậu quả của các bệnh: thiếu vitamin, đau mắt hoặc do bị tai nạn lao động, giao
thông,…
1.4. Đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thị
1.4.1. Giao tiếp và tình cảm xã hội
Việc giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào giao tiếp bằng mắt (90% lượng thông tin thu
nhận của người bình thường là thông qua thị giác). Khiếm thị ảnh hưởng rất lớn đến quá
trình phát triển ngôn ngữ cũng như giao tiếp của trẻ.
- Giảm hoặc giảm đáng kể khả năng tư duy trừu tượng, lượng thông tin tiếp nhận rời
rạc, đơn điệu và nghèo nàn.
- Lời nói mang nặng tính hình thức, khó diễn đạt ý nghĩa của câu nói.
- 5 -
- Mất hoặc giảm khả năng bắt chước những cử động, biểu hiện của nét mặt cũng
như khả năng biểu đạt bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt. Kết quả tất yếu là trẻ khiếm thị, đặc
biệt là trẻ mù không biết kết hợp ngôn ngữ nói với ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ.
- Khó định hướng trong giao tiếp, khó tham gia vào các hoạt động giao tiếp nhất là
những hoạt động đòi hỏi phải có sự định hướng, di chuyển trong không gian.
- Bị động trong giao tiếp, không xác định được khoảng cách, số lượng người nghe
trong không gian giao tiếp.
- Xuất hiện tâm lý mặc cảm, tự ti, ngại giao tiếp.
Nguyên nhân:

- Cảm giác rung
- Cảm giác mùi vị
- Cảm giác thăng bằng.
Đối với trẻ mù cảm giác sờ và cảm giác nghe đem lại khả năng thay thế chức năng
nhìn của mắt có hiệu quả nhất.
a) Đặc điểm cảm giác xúc giác của trẻ khiếm thị
- 6 -
Cảm giác xúc giác là tổng hợp của nhiều loại cảm giác gồm: cảm giác áp lực, cảm
giác nhiệt, cảm giác đau, cảm giác sờ
Có hai loại cảm giác xúc giác: cảm giác xúc giác tuyệt đối và cảm giác xúc giác
phân biệt:
Ngưỡng cảm giác tuyệt đối là khả năng nhận rõ một điểm của vật tác động vào bề
mặt của da.
Đo cảm giác tuyệt đối bằng giác kế (bộ lông nhỏ
), xác định được diện tích của một
điểm tác động lên từng bộ phận của cơ thể người (khả năng cảm nhận được một điểm) tính
theo miligam/ milimét vuông: đầu lưỡi 2, đầu ngón tay trỏ 2.2, môi 5, bụng 26, thắt lưng
48, gan bàn chân 250.
Ngưỡng cảm giác phân biệt: là khả năng nhận biết hai điểm gần nhau đang kích
thích trên da. Nếu tính khoảng cách giữa hai điểm theo đơn vị milimét thì ngưỡ
ng cảm giác
phân biệt các vùng trên cơ thể như sau: môi 4,5, cổ 54,2, đùi và lưng 67,4
Khoảng cách tối thiểu giữa các chấm nổi trong ô ký hiệu Braille chỉ bằng 2,5 mm
(ngưỡng xúc giác phân biệt ở đầu ngón tay trỏ của người bình thường là 2,2 mm và ở người
mù được rèn luyện tốt là 1,2 mm). Nhờ vậy, tay của người mù sờ đọc chữ Braille không
gặp khó khăn về nguyên tắc. Đó cũng chính là cơ sở khoa học của hệ thống ký hiệu Braille.
b) Đặc điểm thính giác của trẻ khiếm thị
Cùng với cảm giác xúc giác, cảm giác thính giác là một trong những cảm giác quan
trọng giúp trẻ mù giao tiếp, định hướng trong các hoạt động: học tập, lao động và sinh hoạt
cuộc sống.

làm nghề lái máy bay, lái ô tô, lái xe gắn máy nhờ nó có th
ể biết được tình trạng hoạt động
của máy móc.
Với người mù nhờ cảm giác rung, họ đoán được vật cản, độ lớn, khoảng trống sắp
đi tới.
Cảm giác mùi, vị
Cảm giác mùi, vị phản ánh tính chất hoá học của vật chất.
Khi vật chất đó tan trong không khí (hiện tượng thăng hoa), tác động vào cơ quan
thụ cảm là mũi (mùi);
Khi vật chất đó được cơ quan thụ cảm là lưỡi tiếp nhận (vị);
Thông qua mùi, vị người mù dễ xác định được đối tượng: nhà ăn hay nhà vệ sinh;
Người mù cảm nhận người quen có thể qua mùi mồ hôi
Cảm giác thăng bằng
Là cảm giác phản ánh sự cảm nhận vị trí của cơ thể trong không gian;
Bộ máy nhạy cảm thăng bằng là bộ phận tiền đình nằm ở tai trong.
Thực nghiệ
m cho thấy: trong điều kiện như nhau, nếu người sáng mắt nhắm lại thì
người mù có độ nhạy cảm thăng bằng và định hướng không gian tốt hơn.
d) Đặc điểm tri giác của trẻ khiếm thị
Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn thuộc tính của sự vật và
hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của ta.
Không phải chỉ có một cơ quan mà có cả hệ cơ quan phân tích tham gia vào quá
trình tri giác. Tuỳ theo đối tượng và nhiệm vụ tri giác mà xác định giác quan nào giữ vai trò
chính. Nếu nghe giảng văn thì thính giác giữ vai trò chủ yếu, nếu xem tranh vẽ thì mắt giữ
vai trò chính.
Hình ảnh xuất hiện trên vỏ não do tri giác sờ đem lại tuy bị hạn chế hơn so với tri giác
nhìn nhưng cũng giúp cho trẻ mù nhận biết hình ảnh một cách trung thực.
Giữa mắt và tay có thể phản ánh những dấu hiệu giống nhau (hình dạng, độ
lớn,
phương hướng, khoảng cách, thực thể, chuyển động hay đứng yên), và những dấu hiệu

đặc điểm sau:
- Khuyết lệch, nghèo nàn;
-Hình ảnh bị đứt đoạn;
- Mức độ khái quát thấp.
Tưởng tượng là một quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm
của cá nhân, là quá trình xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có.
Tưởng tượng được xây dựng trên cơ sở của biểu tượng. Khi biểu tượng bị nghèo nàn,
khuyết lệch, lờ mờ, đứt đoạn, chắp vá thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới khả năng phát triển của
tưởng tượng, tức là hạn chế khả năng tái tạo, sáng tạo.
Tưởng tượng của trẻ mù có đặc điểm:
- Hạn chế khả năng tái tạo, sáng tạo.hình ảnh mới (đôi khi đánh giá không đúng sự
thật hoặc cường điệu hoá);
- Trí tưởng tượng nghèo;
Ví dụ 1: Trẻ mù bẩm sinh, chưa được nhìn trực tiếp đám mây thì khó tưởng tượng
ra hình ảnh: một lùm cây xanh in trên nền trời xanh biếc, có đám mây trắng ngần.
Ví dụ 2: Trẻ mù bẩm sinh, trong giấc mơ của họ không bao giờ có hình ảnh màu
sắc.
Trẻ mù ở độ tuổi trưởng thành, vẫn có nhiều cơ hội phát triển tưởng tượng.
1.4.3. Ngôn ngữ
Trong giao tiếp, con người sử dụng ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) để biểu đạt tư
tưởng, ý nghĩ, tình cảm, ý muốn của mình.
Ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng đối với tất cả mọi người. Nó không chỉ là phương
tiện giao tiếp mà còn có chức năng khái quát hoá và trừu tượng hoá, là điều kiện không thể
thiếu được nhằm phát triển tư duy. Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy.
Với người mù, ngôn ngữ còn có thêm chức năng bù trừ những khiếm khuyết trong
hoạt động nhận thức. Chẳng hạn, những gì mà người mù không sờ thấy được thì ta có thể
- 9 -
thấy được thì ta có thể giải thích mô hình bằng lời. Ngay cả những sự vật tuy đã sờ thấy,
nghe được, nhưng chưa hẳn người mù đã thấu hiểu. Nếu được giải thích thêm (bằng ngôn
ngữ) sẽ giúp người mù hiểu rõ hơn, kĩ càng hơn. Vai trò của giáo viên dạy trẻ mù chính là ở

ngữ sau. Lúc đầu nghe thoáng qua các em nói có vẻ logic, hợp lí với hoàn cảnh. Nhưng
thực tế là lời nói rỗng, thiếu mối quan hệ cụ thể.
Nhờ tri giác thính giác qua quá trình học tập, giao tiếp, b
ắt chước người xung
quanh, con người có khả năng nắm được quy luật chính tả, ngữ pháp. Ở trẻ mù, khả năng
này phát triển tốt nếu các em được chăm sóc, giáo dục. Hạn chế lớn nhất của trẻ mù là rất
khó hiểu được ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ. Trong giao tiếp, hàng loạt cử chỉ, điệu bộ như: gật,
- 10 -
lắc đầu, cau mày,… hầu như không thấy ở trẻ mù. Vì vậy, khi nói chuyện, trẻ mù thường
biểu hiện rất yếu tình cảm, xúc cảm. Có không ít người mù, khi trò chuyện, họ nói quá to
hoặc ngược lại, do họ không xác định được khoảng cách đến người đối thoại. Khi nói, họ
cũng khó xác định mặt nên quay về hướng nào cho đúng phép xã giao.

cánh tay)
Để đọc được cử động người hướng dẫn (nhận được báo hiệu) người mù không nắm
chặt quá hoặc lỏng quá
Đi thoải mái tự nhiên, theo tốc độ người hướng dẫn.
Chú ý:
- Nếu người hướng dẫn là một em bé, thì người mù sẽ đặt tay lên vai em bé.
- Nếu người hướng dẫn là một người lớn, người mù là em bé người mù sẽ nắm vào
cườm tay người hướng dẫn (cổ tay).
* Kỹ thuật đi qua lối hẹp với người dẫn sáng:
- Người hướng dẫn đưa cánh tay ra phía sau lưng, ép tay vào giữa lưng, đi hơi
chậm lại để báo hiệu qua lối hẹp.
- Người mù duỗi thẳng cánh tay và đi thẳng hàng sau người hướng dẫn cách nhau
một bước
- Qua hết lối hẹp, cánh tay người hướng dẫn sẽ trở lại vị trí cũ (sát hông) và người
mù đi trở lại bình thường (cách 1/2 bước)
* Qua thế đất gồ ghề - bước qua rãnh nước:
Người hướng dẫn dừng bước báo cho người mù biết, người mù sẽ:
- Chân bước cao (ở thế đất gồ ghề).
- Chân bước xa (bước ngang qua hào rãnh). Trước khi bước qua hào rãnh, người
hướng dẫn nên để cho người mù đứng ngang hàng với mình rồi báo mức độ rộng của hào,
rãnh cho người mù ước lượng và sau đó cùng bước một lượt với người hướng dẫn. Qua hết
người hướng dẫn báo cho người mù biết và đi trở lại như cũ.

* Kỹ thuật đi qua cửa với người hướng dẫn sáng
- Đến cánh cửa người hướng dẫn bằng lời cho người mù biết cửa đóng mở về phía
tay nào.
- Người mù đứng sau lưng người hướng dẫn một bước (duỗi thẳng cánh tay)
- Người mù phải đổi tay nếu người hướng dẫn mở cửa bằng chính cánh tay đang bị
người nắm, bàn tay rảnh đỡ phụ cánh c
ửa mở.

phía trước trục tròn cầu thang vì tiết diện nấc thang hẹp (nấc thang hình tam giác) sử dụng
lan can.
- Cầu thang gỗ lên gác thường hẹp, nấc thang khít hoặc quá thưa, người mù phải sử
dụng lan can, chân bước trọn hoặc nửa bàn chân tuỳ theo nấc thang.
- Tránh đừng để người mù bị té khi thực tập dễ mất tin tưởng vào bài học.

2.2.2. Kỹ thuật sử dụng các thế tay an toàn
* Thế tay an toàn trên
- Lòng bàn tay hướng ra ngoài, đầu ngón tay giữa chạm nhẹ chân tóc ở trán.
- Từ từ đưa tay ra trước mặt khoảng từ
20 đến 25 cm
- Các ngón tay khép lại và hướng lên trời
- Vừa đi vừa di chuyển nhẹ nhàng ra hai bên để bảo vệ toàn bộ khuôn mặt
Kỹ thuật này giúp cho người khiếm thị cảm thấy tự tin và an tâm khi đi lại trong
môi trường, tránh được những chướng ngại vật ở tầm ngang mặt
* Thế tay an toàn ngang
- Cánh tay và cổ tay song song với nền nhà, gập cánh tay lại sao cho các ngón tay
che chở bờ vai bên kia và cách vai khoảng 20 – 25 cm
- Các ngón tay khép lại, lòng bàn tay hướng ra ngoài.
- 13 -
Kỹ thuật này giúp trẻ khiếm thị tránh được các chướng ngại vật ở tầm ngang người,
bảo vệ an toàn cho trẻ khi đi qua cửa, những nơi không quen thuộc. Tìm các vật dụng thông
thường có tầm cao ngang vai
* Thế tay an toàn dưới
- Cánh tay duỗi thẳng xuống giữa người
- Các ngón tay khép lại
- Bàn tay đưa nhẹ nhàng qua hai bên để bảo vệ toàn thân
Lợi ích: Kỹ thuật này giúp người khiếm thị che chở phần dưới c
ơ thể khi nghi ngờ có
chướng ngại vật ở tầm thấp. Đồng thời có thể dùng kĩ thuật này để tìm những mục tiêu

thân gậy hoặc vặn vào thân gậy. Phần này có thể rút ra thay cái khác khi bị mòn.
- Chiều dài: đo từ đỉnh khúc ngoéo đến cuối đầu gây, thường có 3 chiều dài cần
thiết: 1,1m; 1,2 m; 1,35 m, (cho trẻ em và những người cao thấp bất thường cần phải sửa
chữa lại).
Cây gậy nặng toàn thể trung bình từ : 228g > 285 g trọng lượng này có thể thay
đổi
Phần bọc ngoài gậy: Gồm hai đoạn băng dán mào vàng ngà và một băng dán đỏ sát
đầu gậy để bọc ngoài thân cây gậy. Loại băng này có đặc tính phản chiếu ánh sáng để đi
đêm.
Cách sử dụng gậy dài,cách nắm gậy đúng
- 14 -
Chọn gậy:
Gậy phải tương xứng với chiều cao thân người, chọn bằng cách đo từ xương ức
xuống
Nắm đúng:
- Tay nắm ở thân cây gậy dưới đầu ngoéo.
- Gậy để ngay giữa thân người: duỗi thẳng cánh tay.
- Ngón tay trỏ dọc theo thân cây gậy, ngón tay cái ép gậy, ngón giữa nâng gậy, các
ngón còn lại ôm theo thân gậy.
Chú ý:
- Không nắm chặt quá (khó vẽ cung) hoặc lỏng quá (dễ rơi)
- Đầu thân gậy ngang với cườm tay (muốn kiểm soát ta lấy ngón tay trỏ chiếu từ
nắp đầu ngoéo đến cườm tay)
- Đầu ngoéo luôn hướng xuống đất.
- Kỹ thuật khi cầm gậy
- Không cầm gậy chĩa lên trời (chạm người phía trước).
- Không quơ gậy lung tung.
- Không làm phương tiện đánh nhau.
- Khi ngồi để đầu ngoéo lên vai hay thành ghế cho gọn gàng.
- Đầu ngoéo kẹp vào nách khi đi với người dẫn sáng.

- Cánh tay duỗi thẳng xuống, khuỷu tay khép sát hông, gậy hơi chéo ngang thân
mình.
- Đầu gậy cách mép bậc thang thứ 2 độ 1 – 2 cm
- Giữ nguyên vị thế tay và gậy đi xuống. khi gậy chạm đáy cầu thang sẽ báo hiệu
cho ta biết hết nấc thang khi đó còn hai bậc nữa mới đi hết cầu thang
- Quét gậy khi đi hết bậc thang, trở lại kĩ thuật dò gậy và tiếp tục đi.
Chú ý
- Giáo viên phải luôn theo sát trẻ, đi phía trước để đỡ trẻ nếu trẻ bị ngã
- Khi xuống cầu thang học viên có thể bị bước hụt gậy vì tay không duỗi thẳng,
khuỷu tay không kẹp sát hông, không giữ gậy ở vị trí cố định
- Khi xuống cầu thang người khiếm thị phải ở tư thế thẳng, không chúi xuống dưới
* Kỹ thuật băng qua đường một chiều
Kỹ thuật
Băng qua đường tức là chúng ta băng qua khoảng giữa của hai ngã tư
- Nhắm hướng thẳng trên lề hoặc dưới lề
- Lắng nghe để xác định chiều xe chạy là trái hay phải
- Nếu thấy vắng tiếng xe đưa gậy lên 5 giây rồi đi qua
- Bắt đầu đi với tốc độ vừa phải, đến nửa đường đi với tốc độ nhanh hơn
- Khi đi tới lề đối diện, quét gậy bước lên lề
Chú ý
- Luôn áp dụng kỹ thuật dò gậy căn b
ản
- Cho trẻ khiếm thị thực tập ở đường vắng một chiều trước khi ra đường một chiều
- Giáo viên nên băng qua đường cùng với trẻ để tránh nguy hiểm
- Giúp trẻ tự tin, tập trung chú ý để xác định loại phương tiện và chiều xe chạy rồi
mới qua đường
- Giáo viên hướng dẫn trẻ cách đưa gậy báo hiệu, tránh đưa cao quá và đầu gậy
hướng xuống đất.
- Đối với đường đông xe và có xe đạp đi sát lề dưới cạnh trẻ khiếm thị thì yêu cầu
trẻ thu gọn gậy để tránh chọc gậy bánh xe gây nguy hiểm.

- Trường hợp khi bắt đầu tính băng qua ngã tư thì dòng xe chuyển động (đèn xanh)
thì người khiếm thị phải dừng lại và chờ dịp khác
- Khi có còi xe phải dừng lại và thu gậy, chờ hết xe tiếp tụ
c đi
- Để tránh nguy hiểm nên nhắm hướng thẳng trên lề đường, đề phòng những chiếc
xe lớn chạy qua sát lề
- Nếu phải băng qua ngã tư mà cả hai dòng xe trước mặt và bên hông đền là dòng xe
chạy hai chiều thì người khiếm thị phải lắng nghe để xác định dòng xe được phép rẽ phải
và dòng xe được phép rẽ trái.
* Kỹ thuật băng qua ngã tư không có đèn
Kỹ thuật
- Nghe và xác định rõ các loại ngã tư
- Nhắm hướng thẳng trên hay dưới lề. Gậy để sát thân người, chú ý dòng xe trước
mặt và bên hông vì xe chạy liên tục
- Nếu thấy xe thưa thì đưa gậy lên 5 giây để báo hiệu
- 17 -
- Đi qua đường với tốc độ vừa phải, khi đi đưa tay không cầm gậy lên cao
Chú ý
- Chỉ băng qua khi biết chắc đã vắng xe
- Sử dụng an toàn trên để tránh va đầu vào những xe hơi cao quá tầm gậy đang đậu
bên kia đường như xe vận tải
- Khi nghe tiếng còi xe hãy dừng và thu gậy lại, chờ hết xe tiếp tục đi
- Ngã tư ở bên phải khi qua đường nên hơi ép về phía trái
2.2. Phát tri
ển kỹ năng xúc giác và dạy đọc, viết chữ nổi cho trẻ khiếm thị
2.2.1.Phát triển kỹ năng xúc giác
Đặc điểm xúc giác của trẻ khiếm thị
Làm việc với người khiếm thị chúng ta phải giáo dục và kích thích họ sử dụng xúc
giác.
Đối với người khiếm thị cảm giác về da là một vấn đề cực kỳ quan trọng. Tất nhiên

để đưa ra ra cho trẻ mù để giúp chúng phát triển các kĩ năng trong quá trình “thông dịch”,
thông qua xác giác để trí giác sự vật.
Nên hướng dẫn cho trẻ các cách thức để trẻ có thể sử
dụng các đồ dùng xúc giác
một cách có hiệu quả và thành công. Ví dụ, ngay từ khi trẻ còn nhỏ nên dạy cho trẻ cách
tìm kiếm, cách sờ chi tiết như sau:
- Có thể trải các ngón tay trên khắp bề mặt và lướt từ trên xuống dưới để có một
thông tin chung chung nào đó về vật thể/ đồ dùng.
- Chọn lấy một điểm cố định nào đó trên vật cần tri giác (thường là ở rìa). Nếu là trẻ
quá nhỏ, có thể
để cho trẻ một tay không thuận giữ cố định điểm này (coi như điểm mốc)
còn tay kia chuyển động theo chiều kim đồng hồ (nếu tay thuận là tay trái), cho đến khi sờ
được toàn bộ vật thể. Còn với trẻ mù đã lớn và được luyện tập cả hai tay thuần thục, trẻ có
thể sử dụng đồng thời cả hai tay một lúc để tri giác mà không bị bỏ sót các chi tiết.
Các biến số kích thích xúc giác
Hình dạng của đồ vật: trẻ xác định theo hình khối cố định hay biến đổi; trong không
gian hai chiều hay 3 chiều; đường nét rõ ràng hay không rõ ràng.
Kết cấu: Thay đổi, lạ hay quen thuộc, cường độ kích thích thấp hoặc cao, liên tục
hoặc đứt quãng.
Chất liệu tự nhiên hay các đặc tính tổng hợp.
Kích cỡ dễ tiếp xúc với đầu ngón tay, bàn tay, cánh tay, cơ thể và đồ vật quan hệ
giữa các đồ vật với nhau vị trí của các đồ vật trong không gian 2 chiều hay 3 chiều, hướng,
không đối xứng hay đối xứng, hình thể.
Trọng lượng:
Nhiệt độ:
Các nhân tố làm rối xúc giác( bề mặt, sự giao nhau, sự rối loạn, các dạng gần
giống…)
Phương pháp tiếp xúc với đồ vật
Đó là cách trẻ tiếp xúc với đồ vật theo cách sờ tổng thể hay chi tiết. Suy nghĩ cách
tri giác đồ vật và sau đó mớ

xuống dưới
- Giúp trẻ hướng đúng vào vật quan sát, đúng chỗ quan sát
- Sờ khái quát toàn vật thể cần quan sát, để tách đường viền với xung quanh, sau đó
sờ chi tiết để thấy vị trí, đặc điểm của mỗi bộ phận theo đặc điểm, hình dạng, độ lớn của vật
cần quan sát mà yêu cầu trẻ vận động một hoặc hai tay theo hướng nào khi sờ.
Những vật thể có hình đối xứng, chuyển động hai tay ngược chiều nhau
Nếu vật thể không đối xứng thì dùng một tay cố định là điểm xuất phát của tay kí,
tay kia sờ theo đường viền, để rổi trở lại điểm xuất phát. Sau đó đổi tay để hình ảnh được
xuất hiện trọn vẹn trên não bộ của trẻ.
Trong khi sờ, các ngón tay phải chuyển động nhiều (sờ đi, sờ lại) để vừa phát hiện
vừa ghi nhớ, vừa thực hiện những thao tác của tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh).
Kích thích và luyện tập xúc giác ở các mức độ khác nhau
Để hiểu các thông tin xúc giác, có quan niệm cho rằng người ta cần nhất hai đặc
tính là xúc giác bề mặt da và cảm giác nhận cảm.
Nhận biết xúc giác: có thể hiểu là khả năng trải nghiệm thụ động và tích cực, nhận biết các
kích thích xúc giác theo bất kỳ dạng nào dẫn tới chức năng xúc giác trở thành sự tương tác
giữa sự tiếp xúc tích cực, có mục đích và sự phân tích các kích thích tiếp xúc đó nhằm đem
lại một đáp ứng tương ứng.
Các dấu hiệu báo động:
- 20 -
Có một số dấu hiệu báo động liên quan đến chức năng xúc giác. Trong đó có hai
dấu hiệu quan trọng là sự bảo vệ xúc giác và sự giảm độ nhạy cảm xúc giác. Dấu hiệu bảo
vệ xúc giác xuất hiện là do một kích thích sai nào đó dẫn đến sự khó chịu hoặc thậm chí
làm đau đớn khiến trẻ cố gắng tránh tiếp xúc (chủ động) và cố gắng để cho trẻ không phải/
không bị tiếp xúc (thụ động). Ví dụ: trẻ cảm nhận thấy hơi nước bốc lên từ cốc nước, trẻ có
thể đoán là nước nóng, không dám sờ vào cốc nước. Khi bị chạm vào đồ vật thấy đau, trẻ
rụt tay lại hoặc có thể có các phản ứng tự vệ khác…
Sự giảm độ nhạy cảm xúc giác: cơ chế này xuất hiện khi có một kích thích sai nào
đó tác động (ít kích thích) nhưng kích thích này kém, không đủ mạnh nên trẻ phải tìm đến
những kích thích mạnh hơn để cảm nhận được. Nhiều khi sự kém nhạy cảm xúc giác này

người khác, với vật cố định nào đó (cái bàn, cái cột,…)
Sự nhận cảm trong cơ thể
Yêu cầu trẻ vận động các bộ phận cơ khớp theo sự chỉ dẫn của giáo viên đánh giá
xem trẻ hiểu yêu cầu và trẻ có thực hiện được sự vận động các cơ khớp của mình hay
không.
Khám phá xúc giác
Quan sát xem chiến lược trẻ sử dụng tối ưu nhất trong việc khám phá xúc giác là gì.
Hoạt động: khi đưa cho trẻ một vật, có thể là một vật không quen thuộc với trẻ,
không nói bất cứ một điều gì liên quan đến vật đó và yêu cầu trẻ nhận biết. Thông qua
chiến lược xúc giác của trẻ, có thể dưa ra được cách khám phá xúc giác của trẻ là gì.
Thao tác tiếp xúc
Những kỹ năng nào trẻ sử dụng khi tiếp xúc với các đồ vật. Các kỹ năng này có phù
hợp không. Trẻ khám phá vật bằng cách di chuyển vật theo chiều tay của mình hay để
nguyên ở một vị trí.
Thuận cả hai tay hay một tay
Trẻ có khả năng thực hiện hành động bằng cả hai tay hay một tay. Thao tác bằng
một tay như thế nào? bằng hai tay như thế nào? Có sự luân phiên nhịp nhàng không?
Hoạt động: yêu cầu trẻ nặn viên bi tròn bằng một cục đất sét… để quan sát cách trẻ
vê đất khi dùng một tay hoặc hai tay.
Nhận biết kích thích
Trẻ có nhận biết được một kích thích mà trước đó trẻ đã tiếp xúc. Hoạt động này
huy động trí nhớ xúc giác của trẻ.
Phân biệt xúc giác
Trẻ có khả năng ráp các hình khối
Trẻ có thể phân biệt được các biểu tượng ký hiệu trong một hàng (ví dụ, trẻ nhận
biết được m
ột chữ cái Braille khác trong một hàng có những chữ cái Braille giống nhau,
…)
Đưa ra một tập hợp ngẫu nhiên các biểu tượng, trẻ nhận ra được các biểu tượng
giống nhau.

Hoặc các trạng thái của đồ vật: vết lằn, đường gờ, góc, ,,,
Mô tả các vật hai chiều/ ba chiều
Dạy cho trẻ những cách cần thiết để có thể diễn giải những hình ba chiều được
chuyển
đổi thành hình hai chiều.
2.2.2. Dạy đọc và viết chữ nổi cho trẻ khiếm thị
2.2.2.1. Dạy đọc chữ nổi cho trẻ khiếm thị
Tư thế ngồi đọc
Giáo viên hướng dẫn cho trẻ tư thế ngồi đọc bằng cách giải thích bằng lời, cho trẻ
thực hành ngồi đúng tư thế theo các bước sau:
- Ngồi thoải mái không gò bó sao cho khi đọc có ít nhất 3 điểm tựa: chân, mông và
tay
- Ngồi thẳng, cột sống không vẹo, không cúi đầu, không ngửa mặt
- Khi ngồi đọc hai chân song song thoải mái, hai bàn chân đặt trên nền nhà hoặc lên
thanh ngang dưới bàn
- Học sinh xác định khoảng cách phù hợp giữa tay và giấy, giữa hoạt động của hai
bàn tay không quá gần hoặc không quá xa, tránh tình trạng trẻ phải với tay trong khi đọc
- 23 -
Giáo viên cần sửa ngay tư thế ngồi đọc đúng cho trẻ từ khi trẻ mới bắt đền làm quen
với việc sờ đọc. Nếu giáo viên không chỉnh sửa ngay sẽ rất dễ hình thành cho trẻ thói quen
ngồi lệch chuẩn và sẽ khó sửa khi trẻ đã lớn
Kí năng đặt giấy
Để hình thành cho trẻ khiếm thị kĩ năng đặt giấy đúng, giáo viên cho trẻ tri giác
cách đặt giấy
đúng, giải thích cách đặt giấy đúng, cách xác định lề giấy sao cho trẻ thực
hành đặt giấy đúng.
- Cách xác định mặt giấy: hướng dẫn cho trẻ cách xác định mặt trên mặt dưới của tờ
giấy đã viết. Mặt trên của tờ giấy là mặt bao gồm các chấm nổi, mặt dưới là mặt bao gồm
các chấm lõm
- Cách xác định lề giấy: mép bên trái tờ giấy là lề giấ


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status