ĐẠI CƯƠNG VỀ GIÁO DỤC TRẺ KHIẾM THÍNH - Pdf 13

- 1 -

MỤC LỤC

I. Đề cương chi tiết
II. Đề cương bài giảng
Chương 1: Những vấn đề chung về trẻ khiếm thính
1.1 Tật điếc/ khiếm thính 3
1.1.1. Khái niệm tật điếc/ khiếm thính 3
1.1.2. Các loại điếc 5
1.1.3. Các nguyên nhân gây điếc 6
1.2. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thính 6
1.2.1. Đặc điểm cảm giác - tri giác của trẻ khiếm thính 6
1.2.2. Đặc điể
m ngôn ngữ của trẻ khiếm thính 8
1.2.3. Đặc điểm trí nhớ của trẻ khiếm thính 11
1.2.4. Đặc điểm tư duy - tưởng tượng của trẻ khiếm thính 12
Chương 2: Hỗ trợ thính học cho trẻ khiếm thính
2.1. Đo sức nghe cho trẻ khiếm thính 13
2.1.1. Lợi ích của việc đo sức nghe 12
2.1.2. Các phương pháp đo sức nghe 12
2.2. Một số dụng cụ trợ thính 15
2.2.1. Máy trợ thính 15
2.2.2. Các loại dụ
ng cụ trợ thính khác 20
2.3. Tạo điều kiện nghe tốt cho trẻ khiếm thính 21
2.3.1. Tín hiệu và tiếng động nền 21
2.3.2. Thời gian vang dội 22
2.3.3. Sự liên hệ khoảng cách và âm thanh 23
.3.4. Cấu trúc phòng học 24
Chương 3: Giao tiếp với trẻ khiếm thính
3.1. Đặc điểm giao tiếp và các phương tiện giao tiếp của trẻ khiếm thính 26

6. Mục tiêu học phần:
6.1. Mục tiêu chung:
Học phần nhằm trang bị cho sinh viên hệ thống kiến thức c
ơ bản hiện đại và phù
hợp với thực tiễn ở Việt Nam về giáo dục trẻ khiếm thính và trang bị cho người học
những kỹ năng cơ bản về giáo dục trẻ khiếm thính.
6.2. Mục tiêu cụ thể:
- Về kiến thức: Trang bị cho sinh viên những hiểu biết về tật điếc, đặc điểm của
trẻ khiếm thính tuổi h
ọc đường, vấn đề hỗ trợ thính học cho trẻ khiếm thính trong nhà
trường, vấn đề giao tiếp của trẻ khiếm thính và tình hình giáo dục trẻ khiếm thính ở Việt
Nam.
- Về kỹ năng: Sinh viên có thể trình bày được những hiểu biết và quan điểm về
các vấn đề liên quan đến giáo dục trẻ khiếm thính, biết các kỹ năng cơ bản để hỗ trợ
thính học cho tr
ẻ khiếm thính, có thể giao tiếp với trẻ khiếm thính.
- Về thái độ: có thái độ trân trọng khả năng và giá trị của trẻ khiếm thính, tôn
trọng, khích lệ trẻ học tập; yêu nghề, tận tâm với giáo dục trẻ khiếm thính; tích cực, chủ
động tìm hiểu lý thuyết và thực tế giáo dục trẻ khiếm thính, áp dụng kiến thức, kỹ năng
học được vào thực tiễn.
7. Mô tả v
ắn tắt nội dung học phần:
Học phần cung cấp cho người học những hiểu biết cần thiết về giáo dục trẻ
khiếm thính: những đặc điểm cơ bản của trẻ khiếm thính, vấn đề hỗ trợ trẻ khiếm thính
về thính học, cách tiếp cận giao tiếp đối với trẻ khiếm thính và tình hình giáo dục trẻ
khiếm thính ở Việt Nam.
8. Nhi
ệm vụ của sinh viên:
- Dự đầy đủ các tiết lý thuyết cũng như thực hành theo qui định
- Bài tập: 1 bài thu hoạch

1 Chương 1: Những vấn đề chung về trẻ
khiếm thính
7 0
7
2 Chương 2: Hỗ trợ thính học cho trẻ khiếm
thính
10 5
15
3 Chương 3: Giao tiếp với trẻ khiếm thính 15 5
20
4 Chương 4: Tình hình giáo dục trẻ khiếm
thính
3 0
3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẺ KHIẾM THÍNH (7 tiết)
1.2 Tật điếc/ khiếm thính
1.1.1. Khái niệm tật điếc/ khiếm thính
1.1.2. Các loại điếc
1.1.3. Các nguyên nhân gây điếc
1.2. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thính
1.2.1. Đặc điểm cảm giác - tri giác của trẻ khiếm thính
1.2.2. Đặc điểm ngôn ngữ của trẻ khiếm thính
1.2.3. Đặ
c điểm trí nhớ của trẻ khiếm thính
1.2.4. Đặc điểm tư duy - tưởng tượng của trẻ khiếm thính
Thực hành:

- Tìm hiểu các nguyên nhân gây điếc và đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thính tại
các trường/lớp dạy trẻ khiếm thính.

ẻ khiếm thính
3.2.1 Phương pháp tiếp cận lời nói
3.2.2 Phương pháp tiếp cận song ngữ
3.2.3 Phương pháp giao tiếp tổng hợp
Thực hành
:
- Tìm hiểu tình hình sử dụng các phương pháp giao tiếp với trẻ khiếm thính
trong các trường/lớp dạy trẻ khiếm thính.
- Thực hành sử dụng ngôn ngữ ký hiệu.

Chương 4: TÌNH HÌNH GIÁO DỤC TRẺ KHIẾM THÍNH Ở VIỆT NAM (3 tiết)
4.1. Sự phát triển giáo dục trẻ khuyết tật nói chung ở Việt Nam
4.2. Tình hình giáo dục trẻ khiếm thính ở Việt Nam
4.2.1. Tình hình chung
4.2.2. Hệ thống dịch vụ đáp ứng nhu cầu cho trẻ
khiếm thính ở Việt Nam
4.2.3. Hệ thống giáo dục cho trẻ khiếm thính ở Việt Nam.
- 4 -
II. ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

Chương 1

+ Những âm thanh trên 120 dB khi nghe bị đau tai.
* Cấu tạo của tai:
Tai người có cấu tạo phức tạp và được chia ra: tai ngoài, tai giữa và tai trong.
- Tai ngoài gồm: vành tai (có nhiệm vụ hứng âm thanh từ bên ngoài), ống tai (có
nhiệm vụ truyền âm thanh vào trong) và màng nhĩ (có nhiệm vụ truyền âm thanh vào tại
giữa bằng sự rung động).
- Tai giữ
a gồm: một chuỗi xương khớp với nhau từ màng nhĩ đến cửa sổ bầu dục
vào tai trong.
- Tai trong gồm: bộ máy tiền đình, ốc tai, dây thần kinh thính giác.
* Tai chúng ta nghe như thế nào?
Khi âm thanh được tạo ra, sóng âm đi qua không khí. Khi những sóng âm này
đến tai bạn, chúng được diễn biến qua 3 giai đoạn liên hoàn nhau theo hình móc xích:
Ở móc xích thứ nhất
TAI NGOÀI
Ở móc xích thứ hai
TAI GIỮA
Ở móc xích thứ ba
TAI TRONG
- 5 -
- Các sóng âm được
tiếp nhận bởi tai
ngoài. Các sóng âm
đi qua ống tai và
chạm vào màng nhĩ
gây ra rung động
- Màng nhĩ rung
động làm rung cả
đến chuỗi xương
con và màng nhỏ

vị trí tổn thương của tai mà người ta chia ra làm 3 loại điếc:
- Điếc dẫn truyền: khi có tổn thương ở tai ngoài hay tai giữa. Những nguyên
nhân thông thường dẫn đến điếc dẫn truyền là: viêm tai giữa tiết dịch, viêm tai giữa cấp
tính, viêm tai giữa mãn tính, chấn thương, dị v
ật ốc tai, dáy tai.
- Điếc tiếp nhận: khi có tổn thương ở tai trong. Đa số các trường hợp bị điếc tiếp
nhận là do những nguyên nhân trước khi sinh hoặc trong khi sinh. Đó là hội chứng
usher, wardenburg, mẹ bị cúm trong thời kỳ mang thai, giang mai bẩm sinh, virut, đẻ
non, thiếu ôxy, vàng da.
- Điếc hỗn hợp: kết hợp cả hai loại điếc trên. Đó là viêm màng não, bệnh sởi,
quai bị, đầu bị
tổn thương, sử dụng thuốc không đúng, do tiếng ồn. Ngoài ra có nhiều
trường hợp điếc không rõ nguyên nhân (khoảng 40%)
1.1.2.2. Phân loại các nhóm trẻ khiếm thính.
Để hiểu sâu sắc và đúng đắn về trẻ khiếm thính, chúng ta cũng cần phải phân
loại các nhóm trẻ khiếm thính cơ bản dưới góc độ tâm lý giáo dục. Điều này có một ý
nghĩa quan trọng đối với lý luận và thực tiễn giáo dục trẻ
, đối với việc chẩn đoán đúng
trẻ, xác định đúng hình thức hỗ trợ phù hợp đối với trẻ khiếm thính.
Cơ sở để phân loại:
- Mức độ mất sức nghe
- Thời gian mất sức nghe
- 6 -
- Trình độ phát triển ngôn ngữ
1.1.2.3. Phân loại trẻ theo mức độ mất sức nghe
- Mức 1: điếc nhẹ: 20-40dB
- Mức 2: điếc vừa: 41-70dB
- Mức 3: điếc nặng: 71-90dB
- Mức 4: điếc sâu: > 90dB
1.1.2.4. Phân loại trẻ theo thời gian mất sức nghe

- Đẻ thiếu tháng.
1.1.3.2. Những nguyên nhân sau khi sinh
- Bệnh tật: viêm màng não, sởi, các bệnh do virut (cúm, quai bị, viêm tai giữa).
- Chấn thương
- Tiếng động quá mạnh hay áp suất lớn tác động
- Sử dụng thuốc quá liều lượng cho phép hoặ
c sai chỉ định
- Suy dinh dưỡng.
1.1.3.3. Nguyên nhân khác
- Di truyền,
1.2. Một số đặc điểm tâm lý của trẻ khiếm thính
1.2.1. Đặc điểm cảm giác - tri giác của trẻ khiếm thính
- 7 -
Như ta đã biết, cảm giác và tri giác là nền tảng của nhận thức. Chúng là những
nguồn gốc cơ bản của những kiến thức mà chúng ta nhận thức được ở thế giới xung
quanh. Trong những dạng cảm giác khác nhau thì cảm giác nghe và cảm giác nhìn có ý
nghĩa chủ yếu. Chúng ta sống trong thế giới của âm thanh, của hình dạng và màu sắc.
Những nguồn thông tin như phát thanh, truyền hình, phim ảnh, sân khấu, âm nhạc về
nhi
ều mặt đưa đến cảm giác nghe. Tất nhiên cảm giác nhìn cũng đóng một vai trò quan
trọng. Nhưng mất sức nghe sẽ làm cho đứa trẻ mất khả năng tri giác bình thường về
những nguồn thông tin này. Trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác và tri giác nghe có
một vai trò đặc biệt quan trọng. Trên cơ sở này diễn ra sự phát triển các hình thái chủ
động và bị động của lời nói. Nghe được tiếng nói của người xung quanh, đứa tr
ẻ bắt đầu
bắt chước và bập bẹ được những từ đầu tiên. Nhờ lời nói đứa trẻ nhận được những
thông tin cơ bản, lĩnh hội những kiến thức và kinh nghiệm mà người lớn truyền cho nó.
Sự phá huỷ tri giác và tiếng nói của người xung quanh tự nhiên sẽ kéo theo sự phá huỷ
quá trình hình thành ngôn ngữ tích cực. Trẻ khiếm thính không thể tự mình lĩnh hội
được ngôn ngữ. Trong thự

- So sánh những bức tranh vẽ của trẻ khiếm thính với tr
ẻ bình thường chúng ta
cũng thấy những bức tranh vẽ của trẻ khiếm thính có nội dung phong phú, tỷ mỉ hơn và
đặc biệt là khi vẽ người, trẻ khiếm thính thường thể hiện đầy đủ hơn những phần quan
trọng của cơ thể người và rất chú ý đến sự cân xứng trong việc mô tả chúng so với trẻ
- 8 -
bình thường, nhưng chúng lại thường gặp khó khăn đối với những bức tranh biểu thị
mối quan hệ không gian.
Ở trẻ khiếm thính, tri giác phân tích thường trội hơn tri thức tổng giác. Mặc dù
tất cả những khó khăn tâm lý và sự phức tạp của quá trình tri giác nhìn đối với ngôn ngữ
nói, trẻ khiếm thính thường làm chúng ta ngạc nhiên bằng khả năng dùng thị giác tiếp
nhận và phân biệt tinh tế những gì mà chúng ta nói v
ới chúng. Ngoài ra xúc giác và cảm
giác vận động đóng vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức của trẻ khiếm thính.
Cảm giác vận động báo hiệu cho chúng ta vì sự vận động của các bộ phận của thân thể,
mức độ căng của cơ cũng như sự vận động của cơ quan ngôn ngữ. Ở người bình thường
có tồn tại mối liên hệ chặt chẽ giữa cơ quan thính giác và vận độ
ng. Ở trẻ khiếm thính,
sự mất thính lực không chỉ ảnh hưởng xấu đến sự vận động của bộ máy hô hấp mà còn
ảnh hưởng đến sự phối hợp các động tác của cơ thể. Vì vậy, trẻ khiếm thính thường
vụng về không khéo léo, rất khó khăn với những kỹ năng lao động và thể thao đòi hỏi
sự phối hợp tinh tế và sự thă
ng bằng của các động tác. Điều này được giải thích là do bộ
máy tiền đình cũng như những điểm cuối dây thần kinh của cơ quan vận động bị tổn
thương. Xúc giác-rung của trẻ khiếm thính là đặc thù và độc đáo nhất. Đây là phương
tiện quan trọng trong tiếp nhận ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính. Vậy chúng ta đã biết gì
về dạng cảm giác này? Đầu thế k
ỷ XIX, E.P.Nauman đã nghiên cứu và chỉ ra những
tính chất cơ bản của loại cảm giác này như sau:
1. Những xúc giác-rung về bản chất là những cảm giác sơ đẳng, là một bộ phận

ngôn ngữ của chúng ta trở nên có cấu trúc và có nghĩa. Một yếu tố rất quan trọng của
tiếng nói chúng ta là cái vỏ âm thanh, thành phần ngữ âm. Cái vỏ âm thanh của tiếng
nói dường như là “cái vỏ vật chất” của nó. Chúng ta chỉ có thể diễn đạt ý nghĩ nhờ bọc
chúng vào vỏ bọc âm thanh hay là cái vỏ đồ hoạ (chữ viết). Hơn nữa, trong mỗi từ đều
có yếu tố khái quát, chính điều đ
ó mở rộng khả năng giao tiếp và nhận thức. Sắc thái
xúc cảm của từ là yếu tố rất quan trọng xong còn ít được nhận thấy, dường như bị che
lấp. Chúng ta không đặc biệt coi trọng nó trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng ở đâu mà
nhu cầu ngôn ngữ tăng lên, ở đâu mà từ có vai trò đặc biệt để diễn đạt sắc thái của ý
nghĩ, thì yếu tố đó của t
ừ có vai trò rất cơ bản, ví dụ sự sáng tạo trong ngôn ngữ thơ ca.
Sự phá huỷ thành phần từ của ngôn ngữ cũng có thể biểu hiện ở những hình thức
khác nhau. Trường hợp nặng nhất là hoàn toàn không có khả năng tự chiếm lĩnh được từ
(trường hợp điếc hoàn toàn). Trong những trường hợp khác thì điều đó có thể biểu hiện
ở sự nghèo nàn và cực k
ỳ hạn chế của từ vựng, sự dùng từ không sát đúng với ý nghĩa
cơ bản của nó. Những thiếu sót tương tự thường gặp ở những đứa trẻ bị giảm sức nghe,
cũng như những trẻ thiếu ngôn ngữ. Trên cơ sở sự phá huỷ ngôn ngữ nói thường xuất
hiện sự phá huỷ ngôn ngữ viết và cấu trúc ngữ pháp của nó. Ở nh
ững đứa trẻ bị phá huỷ
sức nghe, chúng thường thể hiện chứng viết khó và chứng mất ngữ pháp. Trong trường
hợp bị chứng viết khó, thành phần chữ cái của từ bị bóp méo. Những chữ cái riêng lẻ
thường bị bỏ qua, thay thế hoặc đổi chỗ cho nhau. Những sự phá hủy này có thể liên hệ
không chỉ với những thiếu sót của sự tiếp nhận âm thanh và phân tích âm, mà còn liên
hệ v
ới sự phá huỷ cảm giác và tri giác nhìn hay cảm giác và tri giác vận động.
Chứng mất ngữ pháp thể hiện trước hết ở sự vi phạm các mối liên hệ ngữ pháp
giữa các từ trong câu. Thực tế trẻ nghe bình thường tiếp nhận qui luật ngữ pháp khá lâu
trong quá trình giao tiếp trước khi đến trường. Đối với trẻ có khả năng giao tiếp và thực
hành ngôn ngữ bị hạn chế, cần phải dạy cho chúng nhữ

trẻ sinh ra bị điếc hay làm mất thính giác ở giai
đoạn sớm nhất của sự phát triển ngôn
ngữ. Trong những tháng đầu của cuộc sống, không dễ gì mà nhận biết đứa trẻ có vấn đề
về thính lực hay không? Cũng như đứa trẻ nghe được, trẻ khiếm thính cũng phát ra
những âm thanh phản xạ, phản ứng linh hoạt với đồ chơi nào đập vào mắt nó, nhưng nó
không nghe được tiếng nói của người xung quanh, không hiểu họ nói gì vớ
i nó và
không thể bắt chước được tiếng nói của người xung quanh. Vì vậy, nó khó có thể hình
thành được sự liên hệ, liên tưởng giữa từ-tín hiệu của hiện thực và vật cụ thể. Sự phát
triển ngôn ngữ của trẻ khiếm thính càng bị tụt hậu so với trẻ bình thường nếu trong quá
trình CTS bị trì hoãn. Sự khác biệt này càng đặc biệt rõ sau một năm tuổi, khi mà trẻ đã
bắt đầu có sự
phát triển của ngôn ngữ chủ động. Trẻ càng lớn thì nhu cầu giao tiếp càng
lớn. Nhu cầu này diễn ra mạnh nhất và có kết quả nhất ở trẻ từ 2 đến 5 tuổi. Nó luôn
luôn muốn hỏi, nhận biết cái gì đó. Sự ham muốn này tạo điều kiện xuất hiện ngôn ngữ
chủ động. Nhờ chức năng của cơ quan thính giác trẻ tiếp nhận được lời nói củ
a mọi
người xung quanh, bắt chước lời nói ấy, sau đó tự nó sẽ nói. Dần dần trẻ biết được cấu
tạo âm của từ, mặc dù ban đầu nhiều âm phát ra không đúng, sai lệch, thay thế, dính âm,
không rõ ràng. Những âm khó đối với trẻ là: n-l, s-x, ch-tr. Từ 5 đến 6 tuổi trẻ dần dần
tự biết cách điều chỉnh để phát âm đúng. Vốn từ của trẻ dần dần được tích lu
ỹ. Vào độ 2
tuổi, vốn từ của trẻ bình thường vào khoảng 300 từ, 3 tuổi khoảng 1000 từ, từ 5 đến 6
tuổi gần 3000 từ. Quả vậy, ở thời kỳ này trẻ hiểu và sử dụng từ ngữ rất độc đáo. Trong
quá trình tập nói, trẻ dần dần nắm được cấu trúc ngữ pháp của tiếng nói. Vào lúc này,
chẳng ai dạy trẻ qui tắc ngữ pháp cả. Tuy nhiên, nhữ
ng qui luật cơ bản và chuẩn mực
ngữ pháp của tiếng nói đã được nắm qua thực hành trước khi đến trường, mối liên hệ
ngữ pháp giữa các từ trong câu đã được sử dụng. Tuy nhiên, trẻ ở độ tuổi này cũng vẫn
còn những sai sót, nhưng điều đó chỉ khẳng định rằng trẻ có ý thức suy nghĩ một số hình

bị. Sự khác biệt giữa trẻ điếc và trẻ nghe được vẫn tiếp tục tồn tại trong những năm học
ở trường, tuy nhiên do có tác động qua lại sự khác biệt này sẽ giảm đi.
- Các hình thức giao tiếp bằng lời và các hình thức giao tiếp thay thế b
ằng lời:
Ngôn ngữ và giao tiếp là hai phạm trù. Ngôn ngữ là một hệ thống có qui ước.
Bằng phương tiện này, những ý tưởng của con người được đưa ra để trao đổi những
thông tin đã được suy nghĩ, cân nhắc thận trọng. Ngôn ngữ có một cấu trúc riêng, có từ
vựng, bị chi phối bởi những niêm luật ngữ pháp nhất định do người dùng nó đặt ra.
Những ngôn ngữ khác nhau có qui tắc luật lệ khác nhau. Nh
ưng cũng có thể giao tiếp
mà không cần sử dụng ngôn ngữ: cái nhìn, sự va chạm, các cử chỉ điệu bộ trong tình
huống cụ thể sẽ chuyển tải năng lượng thông tin của những suy nghĩ đến người khác. Sự
giao tiếp có thể xuất hiện một cách có chủ định hoặc không có chủ định, vì thế nó rất
khó truyền đi những ý nghĩ của một người đế
n số đông người khác nếu như nó không
được tái hiện lại bằng cấu trúc chặt chẽ hơn-cách mà sử dụng những luật lệ qui tắc mà
người nghe đều biết. Sự giao tiếp truyền đi những tín hiệu trong khi đó ngôn ngữ truyền
đi những tín hiệu theo một cách có hệ thống, có qui ước đến những người sử dụng hệ
thống này. Do đó trẻ nhỏ dù là trẻ nghe
được hay là trẻ khiếm thính đều có khả năng
giao tiếp trước khi có khả năng sử dụng ngôn ngữ cho mục đích đó. Việc sử dụng ngôn
ngữ có một ưu điểm nổi trội là: ngôn ngữ có khả năng truyền đạt thông tin với mật độ
lớn hơn, những thông tin phức tạp hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn đến người khác. Vì
vậy, có thể nói ngôn ngữ
là công cụ của giao tiếp.
1.2.3. Đặc điểm trí nhớ của trẻ khiếm thính
Ta biết rằng vào lúc gần tròn một tuổi, trẻ bắt đầu ghi nhớ được từ. Tuy nhiên,
sự ghi nhớ này mang tính tự phát và không có chủ định. Ở trẻ khiếm thính việc ghi nhận
từ ngữ bắt đầu muộn hơn nhiều vì mất hẳn một khoảng thời gian dài ban đầu rất quan
trọng để ti

khiếm thính ghi nhớ kém hơn, nhưng khi chúng có thể sử dụng chữ viết để biểu thị thì
mức độ ghi nhớ của chúng không thua kém gì so với trẻ nghe được. Hơn nữa trẻ khiếm
thính không chỉ sử dụng cách biểu thị bằng lời mà còn cử chỉ điệu bộ. Điều này cũng có
ý nghĩa tích cực đối với sự ghi nhớ của chúng.
1.2.4. Đặc đ
iểm tư duy - tưởng tượng của trẻ khiếm thính
- Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là nhận tố quan trọng nhất hình thành các khái
niệm, là phương tiện phát triển tư duy trừu tượng. Điều tự nhiên là trong những trường
hợp không có ngôn ngữ hay là ngôn ngữ phát triển muộn màng hoặc có những sai lệch,
sẽ làm hạn chế không chỉ quá trình hình thành tư duy mà cả quá trình hình thành trí
tưởng tượng nữa. L.X.Vưgôtkxi, qua những công trình nghiên cứu tâm lý củ
a mình đã
chỉ ra rằng: người bị mất ngôn ngữ rất khó nhắc lại một câu trong đó khẳng định điều gì
đó trái với điều họ thấy, điều đó trong lĩnh vực tri giác trực tiếp của họ.
- Cùng với sự mất hoặc khiếm khuyết về ngôn ngữ như là phương tiện hình
thành khái niệm, ở những người này, mất luôn cả sự
tưởng tượng, biểu thị ở chỗ, con
người không thể lãng quên tình huống cụ thể, thay đổi nó, cải biến những thành tố riêng
biệt của nó, thoát khỏi ảnh hưởng của cái trực tiếp đã có. Cùng với điều đó, là sự khó
khăn hiểu được những ẩn dụ, những từ ở nghĩa bóng.
- Những đặc điểm của tưởng tượng ở tr
ẻ khiếm thính có sự thiếu hụt là do sự
hình thành ngôn ngữ chậm và tư duy trừu tượng hạn chế gây nên. Mặc dù hình tượng thị
giác của trẻ điếc đạt mức độ cao và sống động, nhưng sự hình thành tư duy bằng khái
niệm quá chậm, làm chúng rất khó thoát khỏi cái ý nghĩa cụ thể, nghĩa đen của từ, điều
đó làm khó khăn cho sự hình thành hình tượng mới.
- Tưởng tượ
ng tái tạo có một ý nghĩa đặc biệt trong hoạt động nhận thức của trẻ
điếc. Nhờ tưởng tượng tái tạo, thế giới xung quanh được phản ánh trong ý thức của trẻ
rộng hơn. Tầm hiểu biết của trẻ được mở rộng qua giới hạn kinh nghiệm cá nhân, đưa

kết quả đo sức nghe là cơ sở quan trọng nhất để chỉ định đeo máy trợ thính, lựa chọn
máy và huấn luyện thính giác. Vấn đề này ảnh hưởng rất lớn đến việc giáo dục trẻ đ
iếc.
Muốn nắm chắc được kỹ thuật đo sức nghe không những cần phải biết rõ các
bệnh gây ra điếc mà còn cần phải nắm được đầy đủ những kiến thức cơ bản của lĩnh vực
vật lý âm thanh (phương tiện dùng để đo) và các cơ chế hoạt động của bộ máy thính
giác (cơ quan cảm thụ, đối tượng để đánh giá)
2.1.2. Các phương pháp đo sức nghe
2.1.2.1 Đo sức nghe giản đơn
Ngày nay các phương pháp đo sức nghe giản đơn ngày càng ít dùng hơn để
nhường chỗ cho các phương pháp đo bằng máy, chính xác hơn về cả hai mặt định tính
và định lượng. Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh nhất định, đo sức nghe giản đơn vẫn
còn có ích lợi đối với chúng ta khi trong tay không có sẵn phương tiện hoặc muốn có
ngay một ý niệm về mức
độ và tính chất của điếc mà chưa đòi hỏi tới mức độ chính xác
cao của kết quả đo. Đo sức nghe giản đơn có thể tiến hành bằng tiếng nói hoặc một
dụng cụ đơn giản như cái trống, thanh la hay một cái âm thoa.
2.1.2.2 Đo sức nghe bằng máy đo đơn âm
Các kết quả của sức nghe giản đơn chỉ có giá trị định tính mà ít chuẩn xác về
m
ặt định lượng. Muốn có kết quả chính xác về đo sức nghe phải sử dụng máy đo sức
nghe (thính lực kế) và tiến hành đo trong phòng cách âm tiêu chuẩn. Đó là những trang
thiết bị bắt buộc phải có để đảm bảo chất lượng của kết quả đo. Máy đo sức nghe không
những cung cấp được âm thanh kích thước rất chuẩn về mặt cao độ và cường độ để phát
hiện chính xác ngưỡng nghe mà còn có những bộ phận đặc biệt để thử các biện pháp
trên ngưỡng nghe, đo bằng lời để góp phần xác định vị trí tổn thương gây ra điếc.
Máy đo sức nghe:
- 14 -
- Nhóm A: gồm các máy đo sức nghe đơn giản chỉ dùng được để đo các ngưỡng
nghe, đồng thời với khả năng tạo được tiếng che lấp (thông thường là tiếng động trắng)

chuẩn đo cho đường c
ốt đạo không vượt quá những mức giới hạn về cường độ như sau:
- Đối với đường dẫn truyền không khí:
55 dB cho tần số 125 Hz
80 dB - 250 Hz
100 dB - 500 Hz
110 dB - 1000 Hz
110 dB - 2000 Hz
110 dB - 4000 Hz
90 dB - 8000 Hz

- Đối với đường dẫn truyền đường xương:
40 dB cho tần số 125 Hz
40 dB - 250 Hz
60 dB - 500 Hz
70 dB - 1000 Hz
70 dB - 2000 Hz
- 15 -
70 dB - 4000 Hz
70 dB - 8000 Hz

Vì thế, khi không ghi được ngưỡng nghe của một hay nhiều tần số nào đó thì có
nghĩa là thính giác của người bệnh đã mất đi những tần số tại cường độ đó nhưng cũng
có thể các tần số đó vẫn tồn tại ở những ngưỡng nghe vượt quá khả năng của máy.
Ngoài ra, ta thấy rằng các giá trị của đường cốt đạo đề
u ở dưới mức giá trị của đường
khí đạo vì thế mà đối với những trường hợp điếc nặng, ta có thể ghi được đường biểu
diễn khí đạo trong khi đó đường biểu diễn cốt đạo lại bị cắt đoạn do ngưỡng nghe của
nó nằm ngoài các khả năng về cường độ của máy đo.
Ngoài ra, một máy đo sức nghe tốt còn phải

Trợ giúp một chức năng bảo đảm cho con người mối liên hệ giác quan cần thiết
và tinh tế nhất với môi trường sống bị suy giảm, máy trợ thính có tầm quan trọng nhất
trong số những biện pháp phục hồi chức năng cho người điếc nhờ tính năng kỹ thuật cao
và ph
ương pháp đeo máy ngày một hoàn chỉnh. Nếu được sử dụng một cách thích đáng,
vào thời điểm thuận lợi và với những thông số tối ưu, máy trợ thính sẽ giúp cho tín hiệu
âm thanh vượt qua được trở lực gây ra do biến hỏng bộ máy thính giác ngoại biên, tạo
điều kiện đưa người điếc hoà nhập với xã hội.
- 16 -
Kỹ thuật chế tạo máy trợ thính cho người điếc (bao gồm các kỹ thuật cơ học -
điện tử và âm thanh) trong vòng hai mươi năm gần đây đã có những tiến bộ vượt bậc
đặc biệt trong lĩnh vực thu nhỏ bộ phận tăng âm, trong lĩnh vực chế tạo micro (với sự ra
đời của các loại micro định hướng, micro xenamic )
2.2.1.2. Cấu tạo và nguyên tắc hoạt
động của máy trợ thính
Máy trợ thính cá nhân dùng cho người điếc gồm chủ yếu các bộ phận sau đây: Âm đi vào Âm đi ra
Nút tắt/mở
Pin
- 17 -
không gây ra cảm giác mất thoải mái khi phải đeo lâu và truyền dẫn tốt tín hiệu âm
thanh đã được khuyếch đại phát ra từ loa tai vào ống tai ngoài. Núm tai vừa khít sẽ đảm
bảo chất lượng dẫn truyền sóng âm một cách tối ưu.
2.2.1.3. Các loại máy trợ thính
* Máy trợ thính kiểu hộp (máy trợ thính đeo ở túi)

Máy trợ thính kiểu hộp có đặc trưng là micro, bộ phận khuyếch đại và pin
(acquy) đều bố cục trong m
ột hộp, còn loa tai thì độc lập ở ngoài và được nối với hộp
máy bằng một dây mềm. Có thể đó là một dây đơn nối với một loa tai hay một dây hình
chữ “Y” nối với cả hai loa tai và truyền tới cho cả hai tai những tín hiệu âm thanh giống
nhau trong điều kiện mức điếc của hai bên tai chênh lệch nhau không đáng kể. Tuy
nhiên, cần nhớ là dù đeo dây kiểu nào thì các máy trợ thính này cũng chỉ có một micro
duy nh
ất nên không thể cho phép phân biệt rõ các tín hiệu âm thanh trong không gian
như kiểu đeo Stereo (với 2 máy đeo riêng rẽ ở hai bên tai). Máy trợ thính này thường
được dùng cho những trẻ điếc nặng và điếc sâu. Ưu điểm của loại máy này là cầm thoải
mái, bộ phận điều khiển rộng, dễ nhìn. Bộ phận tiếp nhận và micro được đặt cách xa
nhau nên có thể đạt được tới năng lượng tối đa mà không có s
ự phản hồi âm học. Nhược
điểm của máy này là micro không đặt ngay tại khu vực tai nên làm cho âm thanh khó
tập trung. Loại máy hộp cồng kềnh, không tiện lợi và dây dễ bị đứt.
* Máy trợ thính sau tai
- 18 -

Loại máy trợ thính này có thể dùng cho tất cả các mức độ điếc. Ưu điểm của
máy này là có khả năng tập trung âm thanh và bảo tồn âm thanh của máy nghe ở mỗi

thanh hay lời nói từ một hướng đến nhất định. Đối với yêu cầu này, kiểu máy đeo sau
tai với micro hướng ra phía trước đặc biệt có tác dụng.
Chỉ định kiểu máy đeo nói chung không thể tuỳ ti
ện hoặc do khả năng của túi
tiền mà phải căn cứ vào tính năng kỹ thuật của máy đối với mức điếc, loại điếc và nhất
là vào chỉ định đeo một bên tai hay cả hai bên, yêu cầu dẫn truyền bằng đường xương
hay đường không khí Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới đa số người đeo máy trợ
thính ưa chuộng kiểu máy đ
eo sau tai. Tuy nhiên, kiểu máy hộp vẫn tiếp tục được sản
xuất vì loại máy này có công suất cực mạnh để dùng cho những người điếc nặng. Riêng
trong hoàn cảnh nước ta, máy trợ thính kiểu hộp đáp ứng thêm cả cho nhu cầu sửa chữa
dễ dàng và đặc biệt có loại sử dụng được pin tiểu làm bộ nguồn (loại pin này dễ kiếm
hơn nhiều so với pin khuy hoặc acquy) mặt khác giá thành lại r
ẻ hơn nhiều so với giá
của các loại máy đeo sau tai.
2.2.1.4. Kiểm tra máy trợ thính
Nên tiến hành kiểm tra máy trợ thính trong không khí:
Thoải mái
Không làm trẻ sợ hãi
Khuyến khích
Các giai đoạn kiểm tra máy trợ thính:
Giai đoạn 1
: Đối với một học sinh mới, một trẻ lần đầu tiên đeo máy hay khi giáo viên
gặp một lớp mới.
Cách kiểm tra dễ nhất là đặt núm tai gần micro khi máy đã mở, nếu có tiếng rít
thì có nghĩa là máy đang hoạt động.
Giáo viên kiểm tra máy trợ thính theo các công việc sau:
- Kiểm tra máy có pin hay không? Pin có nằm đúng vị trí không?
- Kiểm tra xem pin còn hay hết?
- Kiểm tra mức tăng giảm âm lượng (volume) và nút tắt mở.

+ Giáo viên sử dụng giọng nói bình thường
+ Giáo viên nói các âm ngắt quãng nhau không đều
+ Phản ứng của trẻ được ghi nhận theo mẫu sau:
Tên trẻ
:
Ngày:
Phản ứng Nhận xét
Âm
Có Không

m
u
i
a
s
x Nếu trẻ không có phản ứng, hãy kiểm tra máy trợ thính để phát hiện những lỗi
khác và sữa chữa kịp thời.
Ta luôn liên hệ trở lại với bảng ghi chép này vào những lần kiểm tra máy trợ
thính sau đó.
Giai đoạn 4
:
- Bạn có thể bắt đầu bằng giai đoạn 1 và giai đoạn 2
- Giáo viên nói “hãy vỗ tay khi nghe tiếng thầy (cô) nói: m, i, u, a, s, x”
Ghi nhận những phản ứng của trẻ và so sánh những phản ứng đã được ghi chép
lại trước đó (trong giai đoạn 3)
Nếu trẻ không thể phản ứng đầy đủ với tất cả các âm mà trẻ đã được làm trước
đó thì ta hãy nghĩ là máy trợ thính có vấn đề. Hãy phát hiệ

các âm thanh khác là tiếng động nền.
- Độ chênh lệch giữa tín hiệu và tiếng động nền (đôi khi người ta gọi tỷ lệ
giữa tín hiệu và tiếng động nền) là hiệu số của cường độ của âm thanh tín hiệu trừ đi
cường độ của tiế
ng động nền (trong môi trường nghe)
Tín hiệu Tiếng động nền Độ chênh lệch
75dB 70dB 5dB
70dB 70dB 0dB
70dB 75dB -5dB Đối với các phòng học dành cho trẻ điếc:

TIẾNG ĐỘNG NỀN DƯỚI 45DB LÀ TỐT NHẤT

ĐỘ CHÊNH LỆCH GIỮA TÍN HIỆU VÀ TIẾNG ĐỘNG NỀN TỐT NHẤT
VÀO KHOẢNG 15 ĐẾN 29DB

MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Người nghiên cứu Mẫu giáo
Nhà trẻ
Tiểu học Trung học
Sanders - 1965 69dB 59dB 62dB
Blair - 1977 72dB 65dB -
Smyth - 1972 72dB - -
Moody - 1989 75dB 65dB 64dB
Sinclair+Riggs - 1984 - 63dB -
Toe - 1986 - 53dB -

- 22 -

j
của chất liệu tương ứng với bề mặt đó.
BẢNG HỆ SỐ HẤP THỤ ÂM THANH α
j
Chất liệu Hệ số α
j
Chất liệu Hệ số α
j
Tấm xốp 0,50 Gỗ 0,06
Tường gạch 0,03 Thảm 0,37
Vải mỏng 0,11 Kính 0,05
Vải dày 0,50 Đá đen 0,01
Bê tông 0,02 Vôi vữa 0,05

VD: Tính thời gian vang dội của một phòng kín có kích thước sau:
- Chiều dài D = 4 m
- Chiều rộng R = 7 m
- Chiều cao H = 3 m
Thể tích: V = D.R.H = 4m x 7m x 3m = 84m
3
Diện tích các bề mặt:
+ Cửa sổ A
1
= 2,5m x 1,0m = 2,5m
2

+ Cửa sổ A
2
= 3,6m x 1,0m = 3,6m
2

j
α
j .
A
j

Các cửa sổ Kính 0,05 6,1 (A
1 +
A
2
) 0,350
- 23 -
Cửa ra vào Gỗ 0,06 2,25 0,135
Bảng Gỗ 0,06 4,9 0,294
Tường Vôi vữa 0,05 52,75 2,638
Trần nhà Vôi vữa 0,05 28,0 1,4
Nền nhà Bê tông 0,02 28,0 0,56

∑α
j .
A
j
5,332

0,16. V 0,16 x 84
RT = = = 2,52 (giây)
∑α
j .
A
j

Kết luận
: Nếu trong một môi trường có tiếng động nền và thời gian vang dội lớn trẻ
điếc rất khó tiếp nhận được lời nói
2.3.3. Sự liên hệ khoảng cách và âm thanh
2.3.3.1. Các khu vực âm thanh
- Khu vực âm thanh tự do: là khu vực mà các sóng âm thanh có thể di chuyển
mà không có sự cản trở nào (trong thực tế khó tìm được khu vực âm thanh tự do, có thể
trên đỉnh của ngọn núi cao)
- Khu vực âm thanh gần: trong khu vực âm thanh gần (từ 1m đến 1,3m kể t

nguồn âm) cường độ của âm thanh không thay đổi.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status