Điều trị trào ngược dạ dày thực quản
Các mục tiêu của việc điều trị một bệnh nhân bị trào ngược dạ dày – thực quản là :
(1) làm mất triệu chứng của bệnh nhân;
(2) chữa lành tình trạng viêm thực quản nếu có;
(3) ngăn ngừa trít hẹp, sước trợt niêm mạc và loét tái phát;
(4) duy trì hiệu quả điều trị.
Do đó cho đến nay có rất nhiều thuốc được đưa vào sử dụng để điều trị
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là một vấn đề lâm sàng rất thường
gặp, đó là tình trạng trào ngược từng lúc hay thường xuyên các chất từ dạ dày lên
thực quản, bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà cũng có nguy cơ gây ra
những biến chứng nặng nề như loét, hẹp, chảy máu thực quản, thậm chí dẫn tới
ung thư.
Triệu chứng của bệnh có một số biểu hiện như nóng rát, ợ chua, ợ khan, ợ hơi, đầy
bụng, sôi bụng, ấm ách, ăn mau no…nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định
chính xác song có một số yếu tố hay được nhắc đến đó là sự rối loạn trương lực cơ
vòng thực quản, rối loạn trương lực co bóp dạ dày, ngoài ra còn một số yếu tố
khác nữa như thiếu hụt dịch vị và enzym tiêu hoá làm thay đổi môi trường pH
trong dạ dày đặc biệt là sự tăng tiết HCl bệnh được chẩn đoán dựa vào khám lâm
sàng, nội soi và chụp xạ hình. Với mục tiêu điều trị như trên, hiện nay có một số
nhóm thuốc sau được đưa vào sử dụng:
1. Nhóm thuốc điều hoà vận động
- Metoclopramid (biệt dược Primperan, Anausin) viên 10mg. Tác dụng trung ương
vào vùng lẩy cò và có tác dụng lên các lớp cơ ống tiêu hoá. Nó làm gia tăng vận
động, thúc đẩy mở môn vị. Dẫn đến làm vơi dạ dày từ đó làm giảm trào ngược dạ
dày thực quản. Tác dụng phụ: gây buồn ngủ và tăng trương lực ngoại tháp.
Liều dùng: 1 viên/ lần x 3 lần/ ngày, dùng trước các bữa ăn.
Trẻ em bằng nửa liều người lớn, có thể dùng đường hậu môn bằng các viên đạn
với liều lượng 0,5 mg/ kg cho trẻ em trên 20 kg.
- Nhóm thuốc có tác dụng bảo vệ niêm mạc: Sucralfat gắn với protein tạo hàng
rào bảo vệ niêm mạc dạ dày thực quản chống lại các tác nhân từ dạ dày. Thường
chỉ định Sucralfat trong các trường hợp bệnh trào ngược vừa đến nặng. Sucralfat
dạng viên nén 1g, uống ngày 4 viên trước bữa ăn và lúc đi ngủ, tránh dùng antacid
hoặc kháng histamin H2 30 phút trước hoặc sau khi uống Sucralfat.
- Ngoài ra còn sử dụng các thuốc kháng acid (Maalox, Phosphalugel ), thuốc
kháng thụ thể H2 ( như Cimetidin, Ranitidin, Nizatidin, Famotidin) hoặc thuốc ức
chế bơm proton (như Omeprazol, Lansoprazol, Pantoprazol, Rabeprazol,
Esomeprazol) tuỳ theo tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
Hiện nay việc điều trị với thuốc ức chế bơm proton đạt thành công nhất, trong đó
có khoảng nửa số bệnh nhân có thể duy trì sự thành công chỉ cần điều trị bằng
thuốc ức chế bơm proton cách ngày hoặc dùng một loại kháng thụ thể H2.
Đặc biệt, bên cạnh việc dùng thuốc thì việc duy trì chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý
sẽ góp phần quan trọng trong việc điều trị bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản,
mỗi bữa không nên ăn quá nhiều, nên ăn làm nhiều bữa, 4 – 5 bữa mỗi ngày, mỗi
bữa ăn ít một; không nên ăn chất lỏng, nên ăn đặc, khô; sau khi ăn không nên nằm
nhiều, ngồi ở tư thế cúi ra phía trước nằm ngủ ở tư thế đầu dốc cao;
Bỏ hẳn một số thức ăn làm giảm trương lực cơ vòng : Socola, thuốc lá, cà phê,
chất mỡ, nước khoáng có hơi; Ăn chậm, nhai nát kỹ, tránh nuốt hơi vào dạ dày;
không được dùng một số thuốc làm giảm trương lực cơ vòng dưới thực quản như
Estrogen, Progesteron, Anticholinergic, Barbituric, ức chế calci, Diazepam,
Theophylin. Chỉ phẫu thuật khi điều trị nội khoa không khỏi và khi có biến chứng
nặng nề.