ECG Điện tâm đồ
GIẢI PHẪU HỌC
ĐINH NGHĨA ĐIỆN TÂM ĐỒ.
Điện tâm đồ là đường biểu diễn hoạt động điện của tim được ghi từ bề mặt của cơ
thể bởi một nhóm các điện cực được đặt ở các vị trí nhằm phản ánh hoạt động điện
này của tim từ một số bình diện không gian khác nhau. (Harrison)
Điện tâm đồ là một đường cong (đồ thị) ghi lại các biến thiên của dòng điện do tim
phát ra khi hoạt động co bóp.
SINH LÝ ĐIỆN HỌC CỦA CƠ.
Về mặt sinh lý , các loại cơ khác nhau ( cơ vân, cơ trơn, cơ tim) cũng lần lượt trãi
qua 3 trạng thái:
NGHĨ ? KHỬ CỰC ? TÁI CỰC.
Sự phân cực của tế bào cơ ở trạng thái nghĩ.
Ở trạng thái nghĩ, cơ có tình trạng phân cực về điện: Bên ngoài (+) Bên trong (-)
Trạng thái phân cực này là hậu quả của sự khác biệt về nồng độ các chất điện giải
ở bên trong và bên ngoài tế bào, chủ yếu là do ion Na và K quyết định.
Sự khử cực.
Nếu một khối cơ bình thường không có một kích thích nào thì nó sẽ mãi mãi ở
trạng thái phân cực.
Khi có một kích thích đến 1 đầu của khối cơ thì nó sẽ phá vỡ sự phân cực và bắt
đầu sự khử cực
Nếu gắn 2 điện cực vào 2 đầu khối cơ đang hoạt động thì sẽ thấy :
Kim điện kế không di lệch lúc cơ nghĩ.
Kim điện kế di lệch lúc cơ đang được phân cực.
Kim điện kế trở về vị trí Zero khi quá trình khử cực chiếm trọn vẹn khối cơ.
Vectơ khử cực: là một khái niệm biểu thị sự biến thiên điện tích từ trạng thái âm
sang trạng thái dương. Vectơ khử cực có hướng theo dòng điện từ nơi có điện thế
thấp đến nơi có điện thế cao hơn hay nói theo cách khác là từ (-) sang (+)
Vectơ khử cực hướng từ (-) sang (+)
Chỉ khi nào có kích thích mới có vectơ khử cực.
aVR
DII
aVL
aVR
DII
* Sự hồi cực:
- Ở tâm nhĩ: hiện tượng hồi cực bắt đầu từ nội tâm mạc đến ngoại tâm mạc.
- Ở tâm thất : hiện tượng hồi cực đi từ thượng tâm mạc vào nội tâm mạc.
aVR
DII
Sự tạo thành nhĩ đồ và thất đồ.
Các chuyển đạo.
Chuyển đạo chuẩn:
Do Einthoven nghĩ ra và đến nay vẫn còn sử dụng. Đó là chuyển đạo lưỡng cực
chuẩn. ( hay còn gọi là chuyển đạo lưỡng cực ngoại biên)
DI: Tay P (-) Tay T (+)
DII: Tay P (-) Chân T (+)
DIII : Tay T (-) Chân T (+)
Các chuyển đạo.
Chuyển đạo đơn cực tăng thêm.
1947 Goldberger đã cải tiến cách mắc dây của Willson : bỏ nhánh nối với chi có
điện cực thăm dò. Vd , chuyển đạo VR thì cắt bỏ nhánh nối vào tay P. Kết quả thu
được sóng ECG nguyên dạng nhưng có biên độ sóng tăng lên gấp rưỡi:
aVR, aVL, aVF.
Các chuyển đạo.
Các chuyển đạo trước tim. V1, V2, V3, V4, V5, V6.
Một số trường hợp cần thiết để khảo sát vị trí tổn thương trên tim người ta có thể
đo các chuyển đạo V1 ? V6 nâng lên 1 hay 2 khoang liên sườn (Khoang liên sườn
4 -3). Người ta gọi là các chuyển đạo X1-6 và Y1-6 tương ứng.
SƠ ĐỒ MINH HOẠ CÁC MẶT CẮT KHẢO SÁT TIM & CÁC CHUYỂN
Đỏ: Tay P
Vàng : Tay T
Xanh: Chân T
Đen: Chân P
SƠ ĐỒ MINH HOẠ CÁC MẶT CẮT KHẢO SÁT TIM & CÁC CHUYỂN
ĐẠO TƯƠNG ỨNG
Trục điện tim
Phức bộ điện tâm đồ
Khi khảo sát các sóng cần phải khảo sát một cách có hệ thống :
- Hình dạng sóng .
- Thời gian .
- Biên độ.
- Trục hay hướng của sóng khảo sát trên cả hai mặt phẳng.
Những điều cần biết trước khi đọc ECG
I. Nhịp:
Nhịp bình thường gọi là nhịp xoang , được tạo ra bởi xung động điện hình thành
trong nút SA và đặc trưng bởi:
- Sóng P đồng dạng tần số từ 60 - 100 lần / phút, đều.
- Sóng P (+) ở DII - aVF , P(-) ở aVR.
- Mỗi sóng P đi kèm với 1 QRS.
- PP dài nhất - PP ngắn nhất
< style="font-weight: bold;">II. Tần số .
Bình thường nhịp xoang có tần số từ 60 - 100 lần/ phút. Tần số của tim được xác
định dễ dàng bằng cách đếm số ô vuông lớn giữa 2 chu chuyển tim. Tần số tim đo
được = 300 / số ô lớn.
III. Sóng P . Là sóng đầu tiên của ECG và chỉ ra hoạt động lan truyền xung động
điện ngang qua nhỉ ( khử cực và tái cực nhỉ ) .
- Hình dạng sóng P bình thường có hình vòm phẳng ( smooth) , không nhọn và
không có khấc ( notch ) .
@ (+) DI , DII , V4-6 và aVF. (-) aVR Thay đổi ở DIII , aVL và các chuyển đạo
VI. Đoạn ST. Là khoảng thời gian cơ tâm thất còn trong giai đoạn khử cực, được
tính từ cuối QRS ( điểm J) đến sóng T .
Điểm quan trọng nhất của đoạn ST chính là sự thay đổi vị trí của nó so với đường
đẳng điện ( ST level ) và hình dạng của đoạn ST ( ST shape).
Bình thường đoạn ST thường nằm ngang với đoạn TP ( đường đẳng điện) hay
chênh rất ít.
Đôi khi đoạn ST nâng lên cao <> 0,5mm.
VII. Sóng T.
Là sóng biểu hiện thời gian hồi phục của các tâm thất.
Cần chú ý đến 3 đặc điểm của sóng T: Direction - Shape - Height.
- Direction:
@ Dương ở DI - DII- V3 , V4 , V5 , V6.
@ Âm ở aVR.
@ Thay đổi ở DIII, aVL, aVF, V1 và V2.
Sóng T dương ở aVL và aVF nếu QRS cao hơn 5mm.?
- Shape:
Hình hơi tròn và không đối xứng. Sóng T có khấc ( notch) thường gặp ở trẻ con
bình thường , nhưng đôi khi gặp trong viêm màng ngoài tim. Sóng T nhọn và đối
xứng ( dương hoặc âm ) nghi ngờ NMCT.
- Height:
Bình thường không quá 5mm ở chuyển đạo chuẩn và không quá 10mm ở chuyển
đạo trước tim. Thường sóng T cao gợi ý bệnh lý ĐM vành, tăng Kali , tai biến
mạch máu não.
Thời gian của sóng T không có vai trò quan trọng nên không được sử dụng ( chỉ
được sử dụng trong đo QT ).
VIII. Sóng U.
Bình thường không gặp trên ECG , nếu có là môt sóng nhỏ đi sau sóng T . Sóng U
cùng chiều với sóng T và bằng khoảng 1/10 sóng T về biên độ.
Nguồn gốc sóng U còn chưa chắc chắn ( có thể là hiện tượng tái cực của các cấu
trúc nội mạc như là cơ nhú hay mạng Purkinje ).