NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CẤU TRÚC NGỮ ĐOẠN
TIẾNG ANH THÔNG DỤNG
A STUDY ON SOME COMMONLY-USED ENGLISH PHRASEOLOGICAL
STRUCTURES TRẦN HỮU PHÚC
Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Ngữ đoạn là phương tiện ngữ pháp quan trọng trong phạm vi cấu tạo câu. Mặc dù đã có khá
nhiều công trình nghiên cứu cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt bàn về vai trò của ngữ đoạn trong dạy
- học tiếng Anh, tuy nhiên hiệu quả sử dụng phương tiện này lại lệ thuộc vào việc tích luỹ các
thể loại ngữ cố định và năng lực diễn đạt của người học đối với đơn vị ngôn ngữ này. Vấn đề
là phải chăng học thuộc lòng là cách duy nhất để nhớ và sử dụng tốt những cụm từ mang tính
thành ngữ này.
Thông qua mô tả các thuộc tính vốn có của các thể loại tổ hợp từ và phân tích một số chuỗi
điển hình cấu trúc khuôn mẫu (formulaic sequences), chúng tôi mong muốn góp một cái nhìn
về phương pháp thực hành để người học có thể nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh bằng
cách hệ thống hoá các dạng thức ngữ đoạn tiếng Anh thường gặp trong giao tiếp.
ABSTRACT
Phraseological structures are important grammatical devices in constructing sentences.
Although several research works have been done, both in English and Vietnamese, on the role
of phraseological structures in teaching and learning English, the proficiency mostly depends
on learners’ accumulating and expressing fixed expressions. The matter is whether learning by
heart is the only way to memorise them. By describing the properties of collocations, fixed
expressions and analysing some formulaic sequences, this paper is intended to present a
certain view of practical methods in promoting proficiency for learners of English by
systematising commonly-used phraseological structures in English communication.
Trên cơ sở phân loại ngữ đoạn và phân tích cấu trúc thành tố (constituent structures) của các
thể loại ngữ đoạn, người học có thể dễ dàng nhận diện các cấu trúc khác nhau của ngữ đoạn, qua đó có
thể tìm hiểu và lý giải về thành ngữ cố định (fixed) và không cố định (unfixed) trong ngôn bản tiếng
Anh.
2. Ngữ đoạn và các thuộc tính cơ bản của ngữ đoạn
2.1. Giới thiệu về ngữ đoạn
Ngữ đoạn là những cụm từ mang tính thành ngữ (set expressions), nhiều tài liệu gọi đối tượng
này là đơn vị ngữ cú (phraseological units). Ngữ đoạn thể hiện phương diện dụng học của từ và chuỗi
từ trong ngữ cảnh, chẳng hạn như thành ngữ (idioms), động từ cụm (phrasal verbs) hay các tổ hợp
nhiều tiếng (multi-word units). Các đơn vị cú pháp này vừa mang tính cố định hoàn toàn (completely
fixed), chẳng hạn như “ladies and gentleman”; vừa mang tính cố định một phần (partly fixed), chẳng
hạn như “at the heart of the*” [matter, problem, issue,…].
Hiện nay, có ít tài liệu và công trình nghiên cứu chuyên sâu về ngữ đoạn bởi nhiều lý do khác
nhau:
(1) chúng không thuộc về những cấu trúc cụm từ thông thường như ngữ danh từ (Nominal
phrases) hay ngữ tính từ (Adjective phrases)… trong cấu trúc cú pháp;
(2) chúng không được xếp vào đối tượng nghiên cứu của từ vựng học như một thực từ (lexis);
(3) chúng dường như được xem là những đơn vị cố định do người bản ngữ kiến tạo sẵn
(prefabricated expressions) và hầu như người học tiếng Anh chỉ có cách sử dụng thường xuyên để nhớ
thuộc lòng.
Tuy nhiên, ngữ đoạn đóng vai trò rất quan trọng trong việc phân tích ngôn bản (discourse
analysis). Chúng có những đặc trưng về cú pháp, ngữ nghĩa và tu từ mà qua phân tích cụ thể sẽ hình
thành phương pháp học hiệu quả, nâng cao kỹ năng nói và viết tiếng Anh.
2.2. Các thuộc tính cơ bản của ngữ đoạn
Về mặt cấu trúc, các từ tố của ngữ đoạn có quan hệ cú pháp ổn định. Đây là kết cấu chặt chẽ
mang tính thành ngữ, việc thay đổi các từ tố trong cấu trúc sẽ dẫn đến thay đổi kết cấu cú pháp và
phương diện ngữ nghĩa. Trong chuỗi phát ngôn, ngữ đoạn giữ vai trò là một thành tố và chức năng của
nó trong cấu trúc do thành tố từ vựng làm trung tâm của ngữ đoạn qui định. Chẳng hạn, the corner of
his eye có chức năng như danh từ corner.
định (stable) và thuộc tính thành ngữ (idiomatic) trong cấu trúc không thể phá vỡ được của nó. Đó là
các công cụ diễn đạt có sẵn của ngôn bản (discourse-structuring device), chẳng hạn như “ladies and
gentleman”, “for a kick off”…
Ngữ kết hợp là cấu trúc cú pháp, thể hiện sự kết hợp về mặt thành tố cấu trúc của các đơn vị
cấu thành (constituent structure). Việc nhận diện và phân tích thể loại cấu trúc này thường đơn giản
hơn so với thành ngữ chức năng. Người học có thể dựa trên qui tắc cấu trúc cụm từ, cấu trúc thành tố
(phrase structure rules) để phân tích. Ngữ đoạn ở thể loại này có thể được chia thành hai nhóm dựa trên
phạm trù ngữ pháp và phạm trù từ vựng (grammatical and lexical categories). (1) Tổ hợp từ thuộc
phạm trù từ vựng (lexical categories) là cấu trúc ngữ đoạn thường được kết hợp bởi hai thành tố từ
vựng mở (open class words) chẳng hạn như make a bargain, a decisive factor… (2) Tổ hợp thuộc phạm
trù ngữ pháp (grammatical categories) là kết hợp của một phạm trù từ vựng và một phạm trù ngữ pháp
(closed class words), chẳng hạn như: in progress, fond of… Dưới đây là sơ đồ biểu thị các kiểu loại
ngữ đoạn thông dụng:
Word combinations Functional expressions Composite units Non-idiomatic idiomatic grammatical lexical
composites composites Non-idiomatic idiomatic Non-idiomatic idiomatic
3.2. Thành tố trung tâm (head word) của ngữ đoạn
Trong cấu trúc của ngữ đoạn, thành tố trung tâm là thành tố cần thiết nhất, không thể thiếu
được. Cho dù cấu trúc tổ hợp của ngữ đoạn có mở rộng phức tạp đến bao nhiêu chăng nữa thì người
học vẫn có thể nhận ra được thành tố trung tâm, đồng thời tìm hiểu được mối quan hệ của nó với các
mô tả, phân loại các thành tố phụ của các thể loại ngữ đoạn. Người học có thể tìm hiểu sâu hơn về quan
hệ giữa thành tố trung tâm và các thành tố phụ với nhiều kiểu loại khác nhau, theo từng tầng bậc cấu
trúc khác nhau được trình bày ở nhiều công trình, tiêu biểu là Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt,
1975; Quirk, R., Greenbaum, S. A University Grammar of English, Longman, 1987.
Trong kết cấu của thành ngữ cố định, thành tố chính được sử dụng mang tính chuyên biệt, cố
định (thường là giới từ, tính từ hay động từ, kết hợp với danh từ), tạo nên ngữ đoạn mang tính thành
ngữ. Loại ngữ đoạn này thường sử dụng các từ chỉ công cụ hay bộ phận cơ thể để diễn đạt ý nghĩa ẩn
dụ, chẳng hạn như the key to the mystery, at the heart of the…
Thành tố chính là thành tố bắt buộc trong bất kỳ kiểu loại cấu trúc ngữ đoạn nào. Các loại
thành tố phụ có thể có ở phần đầu (premodification) hoặc ở phần cuối (post-modification) hoặc ở cả hai
bộ phận, với chức năng bổ sung, mở rộng thêm ý nghĩa của ngữ đoạn.
Phần đầu
(Premodification)
Thành tố trung tâm
(Head)
Phần cuối
(Post-modification)
3.3. Tìm hiểu hình thái và ngữ nghĩa của ngữ đoạn qua mô hình cấu trúc
a. Về phương diện hình thái
Mô hình cấu trúc và các thể loại ngữ đoạn chiếm một số lượng rất lớn, đặc biệt là các dạng
thức kết hợp khác nhau trong các kiểu cấu trúc dẫn đến ý nghĩa diễn đạt khác nhau. Có thể nói rằng
mỗi thể loại ngữ đoạn (danh ngữ hay động ngữ…), mỗi phương thức chuyển nghĩa của ngữ đoạn là
một đối tượng nghiên cứu ở diện rộng.
Trong phần nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập hợp các ngữ danh từ và ngữ giới từ thông dụng
chỉ các quan hệ không gian, thời gian và trình tự lô gích để trình bày. Mục đích của phần trình bày này
nhằm gợi ý để người học có sự tri nhận về cấu trúc ngữ đoạn theo một phương thức qui nạp dễ nhớ về
mặt cấu trúc, cách dùng từ và nội dung ý nghĩa. Chẳng hạn như trong cấu trúc tổ hợp gồm năm từ tố,
Nghĩa phổ quát là nét nghĩa được tìm thấy ở các thể loại cấu trúc tổ hợp mở. Từ cứ liệu là
những ngữ giới từ thuộc cấu trúc khuôn mẫu 5 từ tố, chúng tôi tổng hợp được một số nét nghĩa phổ
quát như:
(a) Chỉ toàn bộ hay bộ phận (whole or parts):
for the whole of the, in the part of the, to the side of the, for the remainder of the, etc.
(b) Chỉ không gian và thời gian (space and time):
for the duration of the, for the rest of the, since the beginning of the, at the end of the, in the middle of
the, etc.
(c) Chỉ trình tự logic và nguyên nhân (logic and cause):
Đây là nhóm các ngữ đoạn được dùng như các cụm từ nối diễn đạt trình tự lôgic hoặc nguyên
nhân (logical or causal connections).
in the case of the, as a consequence of the, as a matter of the, in the event of a, on the basis of the, with
the exception of the, as a result of the, etc.
(d) Chỉ dự định và sự ảnh hưởng (intention and influence):
for the benefit of the, under the auspices of the, with the help of the, in the interest of the, to the need of
the, for the purposes of the, at the request of the, for the sake of the, for the use of the, under the control
of the, at the expense of the, in the hands of the, etc.
(2) Nghĩa ẩn dụ:
Nghĩa ẩn dụ là nét nghĩa được tìm thấy ở các thể loại cấu trúc thành ngữ cố định. Từ cứ liệu là
những ngữ danh từ, thuộc cấu trúc khuôn mẫu từ 5 từ tố, chúng tôi tổng hợp được một số nét nghĩa ẩn
dụ như:
(a) Chỉ hình dáng (similarity of shape): the head of a cabbage, the teeth of a saw…
(b) Chỉ vị trí (similarity of position): the foot of the mountain, the mouth of the river…
(c) Chỉ chức năng (similarity of function): the key to a mystery, the head of the class…
(d) Chỉ sự di chuyển (similarity of movement): the caterpillar of a tank
(e) Chỉ màu sắc (similarity of colour): the rose of their love
(f) Chỉ kích cỡ (similarity of size): the elephant of the package
(g) Chỉ phép cư xử (similarity of behaviour): the fox of his competitor
University Press.
[7] Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1975.
[8] Quirk, R. and Greenbaum, S. A University Grammar of English, Longman, 1987.
[9] Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, Ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản khoa
học - xã hội, Hà Nội, 2002
[10] Wray, A. Formulaic sequences in second language teaching: principle and practice, Journal
21/4, OUP 2000.