Báo cáo "Bàn thêm về cấu trúc ngữ nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc độ Ngữ pháp Tri nhận " pot - Pdf 12

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 262-270
262
Bàn thêm về cấu trúc ngữ nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt
dưới góc độ Ngữ pháp Tri nhận
Trần Hữu Mạnh*

Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh - Mỹ, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 8 tháng 11 năm 2007
Tóm tắt. Nhận thức rõ tầm quan trọng của cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ loài người (cùng với
cấu trúc ngữ âm và cấu trúc ngữ pháp), bài viết điểm xuyết các quan điểm về cấu trúc ngữ nghĩa
do Langacker (1987) và Taylor (2002) đề xuất và sau đó gợi ý nên nghiên cứu xem xét cấu trúc ngữ
nghĩa theo sự tổng hòa/kết hợp dựa trên những phổ quát ngôn ngữ bao gồm: (a) sự kế
t hợp nghĩa
của các từ và đoản ngữ tạo nên câu; (b) vị trí tương đối của các thực thể được kể đến trong câu; (c)
sự hiệu chỉnh và các vùng năng động; (d) các không gian tâm linh chung cho sự thông hiểu của con
người; và (e) sự thông hiểu về mặt dụng học dựa trên các đặc điểm về ngôn cảnh. Đồng thời xem
xét cấu trúc ngữ nghĩa theo sự không tổng hòa/kết hợp dựa trên nh
ững đặc thù của ngôn ngữ cụ
thể đang được nghiên cứu (tiếng Anh và tiếng Việt) bao gồm (a) tính thành ngữ; (b) các tục ngữ,
ngạn ngữ; (c) ẩn dụ và các trường hợp nói bang gió, hình tượng; (d) việc sử dụng quán từ tiếng
Anh và từ loại tương đương với nó trong tiếng Việt; và (e) hiện tượng đặc trưng ngôn ngữ như
trong tiếng Việt là điệp từ, điệp ngữ
, nói lái. Những trường hợp này được minh họa bằng các ví dụ
trong tiếng Anh và tiếng Việt. Bài viết cuối cùng nêu lên các công thức của ngữ nghĩa câu là:
M sent = f [St ± compositionality (RIT)] (in the light of Halliday’s functional grammar)
Or M sent = f [St ± comp (Pred. + Arg(s)] (in the light of Cognitive Linguistics).
1. Đặt vấn đề
*

Từ góc độ ngữ nghĩa của từ đến vấn đề

cấu trúc ngôn ngữ vốn dĩ là một bộ phận
không thể tách rời của sự tri nhận và dành cả
một chương để xem xét vấn đề này.
Có thể nói chắc chắn rằng quan niệm của
ngữ pháp tri nhận, theo cách nhìn nhận mới
nhất, là điều mà chúng ta hi
ện đang quan tâm
nghiên cứu. Và cách nhìn nhận của nó về cấu
trúc ngữ nghĩa (CTNN) mà chúng tôi sẽ giới
thiệu một cách chiếm nghiệm dưới đây sẽ là
điều mà nhiều nhà ngôn ngữ học trong chúng
ta quan tâm.
2. Cấu trúc ngữ nghĩa theo cách nhìn của
Ngữ pháp Tri nhận (Taylor, 2002)
2.1. Trước hết, có thể thấy nhận định cơ
bản sau đây của Ngữ pháp Tri nhận: Ngữ
nghĩa của mộ
t biểu thức phức hợp (complex
expression) không đơn thuần chỉ là một hàm số
của các ý nghĩa của các phần của nó và phương
thức mà theo đó chúng được kết hợp lại.
Một cách điển hình, nghĩa của toàn bộ
biểu thức là cụ thể hơn hay thậm chí có thể
thay đổi so với ý nghĩa mà các phần tử của nó
kết hợp lại, và có thể bao gồm các thành tố
hoàn toàn không
được thực tế hình tượng
hoá bởi bất cứ một yếu tố nào thuộc về các
đơn vị thành tố [2, p.96].
2.2. Taylor liệt kê các trường hợp sau đây

được tính toán (cộng đơn thuần) từ các ý
nghĩa của các thành tố tạo nên nó. Ví dụ:
(3) You're opening a can of worms.
= Anh đang chọc vào một tổ kiến lửa đấy!
hay (4) He kicked the bucket = Hắn ngoẻo rồi.
2. Ẩn dụ: Ẩn dụ là một trong nhiều biệ
n
pháp của lối nói bóng bẩy (figures of speech)
bao gồm ngoa dụ (hyperpole), hài hước/châm
biếm (irony) và hoán dụ (metonymy).
Ẩn dụ, theo định nghĩa thông thường,
dựa trên sự liên tưởng về nghĩa (association)
trên cơ sở sự giống nhau hàm ẩn giữa các từ /
cụm từ được sử dụng và từ / cụm từ dựa trên
nghĩa đen của chúng. Chẳng hạn:
(5) I have a thousand and one things to do.
= Tôi có đến nghìn lẻ việc phải làm.
và (6) Christmas is approaching.
= Lễ Noel đang đến gần.
Trần Hữu Mạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 262-270

264
3. Sự thông hiểu về mặt dụng học: Nhìn
chung mỗi phát ngôn đều có thể hiểu được
theo các cách khác nhau, ít nhất theo hai cấp
độ về nghĩa: 1. Nghĩa đen của biểu thức, tức
là dựa trên nghĩa gốc của các từ và 2. Nghĩa
suy diễn theo ngữ cảnh, tức là nghĩa mà người
nói muốn biểu đạt trong ngữ cảnh cụ thể.
2.2.2. (7) "The football under the table" (Quả

a beefsteak/an icecream; a dog
eats
a bone; and a snake eats a bird (eat = ăn,
nhai, nhấm nháp, gặm, nuốt).
Đồng thời khi các thực thể tham gia vào
một cảnh huống chỉ có một số bộ phận nào
đó của thực thể đó được kể đến.
Chẳng hạn:
(8) John kicked the table = Giôn đá cái bàn.
Trong ví dụ này, hai thực thể được kể đến
(tham thể) là Giôn và "cái bàn - Giôn" là tác
nhân, tham gia vào sự kiện 'đá' (chỉ có bàn
chân của Giôn thôi); và "cái bàn" là vật thể bị
tác động, tức là đ
ích thể (patient) và thực tế là
chỉ một bộ phận của cái bàn, chân chẳng hạn,
như vậy là chỉ có bàn chân của Giôn tác động
đến "chân" của cái bàn. Đây chính là những
vùng năng động của các thực thể.
2.2.4. Các không gian tâm linh và cách dùng
quán từ (xác định và không xác định)
Ta hãy xét ví dụ dưới đây:
(9) The girl with green eyes has blue eyes = Cô gái
với đôi mắt xanh lục ấy có đôi mắt xanh lam.
Rõ ràng nếu đơn thuần xét về mặt kết hợp
ngh
ĩa (compositionality), ví dụ này có sự mâu
thuẫn (green eyes khác blue yes). Nhưng
chúng ta có thể thấy rõ ý nghĩa (sense) của
câu này khi xét về không gian tâm linh

chính là trường hợp thông hiểu cụ thể không
xác định (indefinite specific interpretation) (+
referential).
2. Ursula hiện tại vẫn chưa kiếm được
ngài triệu phú này, nhưng trong tâm tưởng
cô nàng vẫn hy vọng là sẽ kiếm được một ý
trung nhân như vậy. Đây chính là sự thông
hiểu phi cụ thể không xác định (indefinite
non-specific interpretation) (- referential) [2,
p.98-114; 5, tr.302-307].
3. Đề xuất của chúng tôi về cấu trúc ngữ nghĩa
Theo cách phân tích trên về cấu trúc ngữ
nghĩa của ngữ pháp trí nhân (Langacker và
Taylor), chúng tôi thấy phần nào đó cách
phân chia của các tác giả này chưa thật rạch
ròi và dễ lẫn lộn với nhau. Do vậy chúng tôi
mạ
nh dạn đề xuất cách phân tích sau đây:
3.1. Nhận định chung
Trước hết khi đề cập đến cấu trúc ngữ
nghĩa của thành tố của câu, và đặc biệt của
câu, cần thấy rõ cấu trúc ngữ nghĩa đó bị chi
phối bởi các yếu tố ngôn ngữ và văn hoá của
từng ngôn ngữ (Anh và Việt chẳng hạn). Do
vậy, cấu trúc ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ
đề
u mang đậm nét phổ quát (universal) và
không phổ quát (non-universal). Nói khác đi,
trong trường hợp ngữ nghĩa của câu là sự
tổng hoà các thành tố của câu, đó chính là

3. Nghĩa bị chi phối bở
i sự điều tiết và các
vùng năng động: Đây chính là sự thông hiểu
của các thành viên của cộng đồng ngôn ngữ
với các động từ chỉ hoạt động vật chất và cả
tinh thần, nói năng của con người. Đồng
thời cũng phải hiểu khi nói đến một thực thể
được kể đến trong một hành động chỉ có một
vùng năng động / hoạt động c
ủa thực thể đó
được kể đến trong hành động (xem phần
2.2.3 và ví dụ (8)).
Trần Hữu Mạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 262-270

266
4. Nghĩa được suy ra từ các không gian
tâm linh có thể được kéo theo vào trong một
phát ngôn, và do vậy các kết hợp nghĩa của
các thành tố xem ra có thể là mâu thuẫn nhau
(xem 2.2.4. và ví dụ (9)).
5. Nghĩa dựa trên sự thông hiểu về mặt
dụng học: suy diễn theo ngữ cảnh (cũng là
nét chung song cũng mang tính đặc thù cho
từng ngôn ngữ ) [2, p. 103].
3.2.2. Cấu trúc ngôn ngữ dựa trên tính phi
phổ quát
Hay nói khác đi là tính đặc thù của ngôn
ngữ (tức là các đặc điểm về v
ăn hoá đặc thù,
có thể gọi là phi logic hình thức của các ngôn

(13) a. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã (Việt)
= Birds of a feather flock together (Anh).
(Buffaloes seek buffaloes, horses seek horses)
b. Chó chê mèo lắm lông = The pot calls the
kettle black.
(Dogs disparage cats to be full of hair)
Trong trường hợp này, một câu tục ngữ /
ngạn ngữ tiếng Anh có thể chuyển dịch sang
ti
ếng Việt theo các câu nói khác nhau do tiếng
Việt có thể có những tương đương đẳng ngữ,
chẳng hạn 13b có thể là: "Thờn bơn méo miệng
chê trai lệch mồm" hay "Chuột chù chê khỉ rằng
hôi "
3. Nghĩa ẩn dụ và một số trường hợp
nghĩa dựa trên lối nói bóng bẩy như ngoa dụ,
hài hước. Trên thực tế, có thể thấy một số
trường hợp có thể đượ
c coi là chung cho mọi
ngôn ngữ.
(14) a. Chân
đồi = the foot of the hill.
b. Miệng
hang = the mouth of the cave.
Hay như những trường hợp (5) và (6) của
2.2.1. đã nêu trên đây.
Nhưng cũng có những trường hợp sự
khác nhau nhất định trong cách sử dụng ẩn
dụ trong hai ngôn ngữ:
(15) a. Chân

OF A FLUID IN A CONTAINER FOR EMOTIONS
(Sự giận dữ là lửa cháy) (Sự giận dữ là nhiệt lượng của một (Cơ thể là một công-te-nơ chứa
dòng chảy trong một công - ten - nơ) đựng các cảm xúc)
(Dẫn theo Ungerer & Schmid [7, p.134])
Như vậy trong khá nhiều trường hợp
không có sự phân định rạch ròi giữa nghĩa
kết hợp (phổ quát) và không kết hợp (phi phổ
quát).
Ngoa dụ và hài hước cũng mang những
nét phổ quát và phi phổ quát như:
+ Phổ quát
(16) a. Đen như than = black as coal.
b. Sự rối rắm bời bời = a nice mess (mớ bòng
bong thú vị).
+ Phi phổ quát
(17) a. Đen như chó mực ~ (as) unlucky as
(Hobson + Hobson's choice)
b. Da trời không nhuộm mà xanh ngắt
M
ắt lão không viền cũng đỏ hoe
(~ The sky is so blue without being dyed
And my eyes get so red due to trachoma).
4. Cách dùng quán từ tiếng Anh và việc
sử dụng loại từ và phân định từ (classifier
and identifier) trong tiếng Việt.
Quán từ trong tiếng Anh là một nét đặc
thù của loại ngôn ngữ Giecmanh này. Nó
khác rất nhiều so với các loại quán từ dùng
trong nhiều ngôn ngữ Ấn Âu khác (chẳng
hạn tiếng Latin, tiếng Rumani, tiếng Pháp và

Trần Hữu Mạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 262-270

268
(trong đó "chàng nhà quê" có thể coi là danh
từ đầu tố - head noun - là một danh từ ghép).
Cấu tạo của danh từ ngữ phức tiếng Việt
cũng là một hiện tượng khá đặc trưng cho
loại ngôn ngữ đơn lập này với từ
"này/kia/nọ/đó" là từ xác định (determiner)
tách ra đứng cuối danh ngữ phức khác hẳn
với từ xác định tiếng Anh (this, that, these,
those) mà theo truyền thống là từ chỉ định
(demonstratives).
5. Ngh
ĩa do một số yếu tố đặc trưng cho
ngôn ngữ (bao gồm cả yếu tố văn hoá) quy
định. Trong tiếng Việt, chẳng hạn, có thể liệt
kê một số nét đặc trưng của loại ngôn ngữ
đơn lập này.
- Hiện tượng lặp từ (điệp ngữ) trong cấu
tạo câu có thể bao gồm:
+ Lặp lại hoàn toàn: lặp chủ ngữ mang
nghĩa số nhiề
u, (a) hay lặp vị ngữ nghĩa giảm
nhẹ (b).
(21) a. Người người
thi đua, ngành ngành thi đua.
= Everyone and every organization emulates.
Nhà nhà
làm từ thiện. Người người mua

= At dusk we miss the scene when dusk came,
Couple of girls with red belt at waist turned
round [8, tr.210].
+ Lặp lại có biến đổi thanh điệu: đo đỏ,
bàng bạc, bằn bặt, thiêm thiếp, thường
dùng để cấu tạo từ, gọi là từ láy. Theo chúng
tôi loại từ láy này cũng thường xuất hiện
trong câu hay cụm từ chứ ít khi đứng một
mình và gây nhiều phiền toái cho cả dịch giả
Việt - Anh.
- Hiệ
n tượng nói lái (spoonerism) thường
gặp trong trường hợp thông tục hay chơi chữ.
Hiện tượng nói lái này nhiều khi thay đổi
theo tập quán từng vùng.
(24) a. Đèo Hải Vân = đèo Vẩn hai/ vần hải đeo
(phía Bắc)
(= Hai Van pass) = đần hải veo/ đần vải heo
(phía Nam).
b. Mua hai lạng = mua lang hại/ lang hai
mua (phía Bắc)
(= buy 200grs) = mang hai lụa/mai lua hạng
(phía Nam).
Nếu tiếp tục suy diễn theo lỗi nói lái này,
nghĩa của đoản ngữ (danh ngữ hay độ
ng
ngữ) sẽ biến đổi khôn lường và gây nhiều trở
ngại cho người nước ngoài học tiếng Việt.
Trường hợp này tương tự với tiếng Anh
trong spoonerism:

compositionality (Representational +
Interpersonal + Textual)].
Tiếng Việt
Nghĩa câu = hs [Ctr ±
k.hợp (Tgiải +
Lnhân + V bản)]
Giải thích: Nghĩa của câu = hàm số của
[Cấu trúc ngữ nghĩa ± kết hợp các thành tố
(tường giải + Liên nhân + Văn bản)].
4.2.2. Theo ngữ pháp tri nhận và Cú pháp
kết hợp Ngữ nghĩa (theo quan điểm các nhà
Cú pháp học đương đại):
Tiếng Anh: Theo cách nhìn nhận về mệnh
đề logic (proposition): Msent = f [St ± comp
(Pred + Arg (s)].
Giải thích: Meaning of sentence = function
of [structure ± compositionality (Predicatior +
Argumentis).
Tiếng Việt:
Nghĩa câu = hs (Ctr ± k
ết hợp (Vt + Tht)]
Giải thích: Nghĩa của câu = hàm số của
[cấu trúc ngữ nghĩa ± kết hợp nghĩa của (Vị
trí + Tham tố)].
4.3. Sự xem xét tính đến các nhân tố tạo
thành cấu trúc ngữ nghĩa của câu, đơn vị cơ
bản của mọi ngôn ngữ đều tuân thủ các
nguyên tắc chúng tôi đã nêu trong phần 3 của
bài viết này. Do vậy các nhà ngôn ngữ học,
đặc biệt ngôn ngữ học

học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999.Trần Hữu Mạnh / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 262-270

270

On the semantic structure of English and Vietnamese
in the light of Cognitive Linguistics
Tran Huu Manh
Department of Anglo-American Language and Culture, College of Foreign Languages, VNU,
Pham Van Dong, Cau Giay, Hanoi, VietnamRealizing the importance of the semantic structure of human languages (together with the
phonological structure and the syntactic structure), the article makes a review of the conception
of semantic structure raised by Langacker (1987) and Taylor (2002) and then suggests at the study
of this in terms of (1) compositionality, based on language universals, including (a) the
combination of the meanings of words and phrases making up the sentence, (b) the relative
positioning of the entities involved in the sentence; (c) the accommodation and the
active/dynamic zones; (d) the mental spaces common to human beings’ interpretation; and (e) the
pragmatic interpretation based on the context features; and (2) uncompositionality, based on
percularities of particular languages under study, namely: (a) idiomacity; (b) proverbs; (c)
metaphor and other figures of speech usage; (d) article usage in English and its Vietnamese
equivalents; and (e) reiteration, reduplications and spoonerisms which are particularly popular in
Vietnamese. These cases are supported by examples in the English and the Vietnamese language.
The article finally arrives at the formulas of the meaning of the sentence as follows:
M sent = f [St ± compositionality (RIT)] (in the light of Halliday’s functional grammar)
Or M sent = f [St ± comp (Pred. + Arg(s)] (in the light of Cognitive Linguistics).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status