TNH DN TC CA VN HO, NGH THUT L Gè?
WHAT ARE THE NATIONAL CHARACTERISTICS
IN CULTURE AND FINE ARTS? Lấ HU I
Trng i hc Kinh t, i hc Nng
TểM TT
Tớnh dõn tc trong vn hoỏ ngh thut l yu t ct lừi hỡnh thnh nờn nn vn hoỏ m
bn sc dõn tc. Bi vit phõn tớch nhng cỏch tip cn khỏc nhau v tớnh dõn tc ca vn
hoỏ ngh thut trong quỏ trỡnh xõy dng nn vn hoỏ mi. T ú ỳc rỳt ra khỏi nim v tớnh
dõn tc trong vn hoỏ ngh thut l kt tinh nhng h thng giỏ tr, l thc o giỏ tr ca mt
dõn tc ó c hỡnh thnh lõu di trong cng ng dõn tc, l nhng cỏch thc c ỏo
trong vic sỏng tỏc, lu gi, truyn t, cm th v phỏt trin vn hoỏ ngh thut ca mi dõn
tc.
ABSTRACT
The national characteristics in culture and fine arts are the essential components of a culture
imbued with national identities. This article explores various approaches to national
characteristics in culture and fine arts in the process of building a new culture. From such
analyses, it can be stated that the national characteristics in culture and fine arts are the
crystallization of value systems, the measuring scale of the value of nation who has been
formed for a long time, the unique creation, storage, appreciation and development of culture
and fine arts of each nation. Văn hoá, nghệ thuật là một bộ phận quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi dân
tộc. Tuy không gắn liền với các quyền lợi vật chất trọng yếu hàng ngày, song trong mỗi nền
thuộc một dân tộc có lý luận nhất ở Châu ÂAu và hơn nữa họ vẫn giữ đợc cái kiểu lý luận
ấy (2). Còn Lênin thì cho rằng, ngời Anh thích thực tiễn hơn.
Ngời Anh tự hào về óc thực
tế và không a thích những nguyên tắc chung (3). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc tới Tuyên
ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ: Tất cả các dân tộc
trên thế giới đều
sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sớng và
quyền tự do. Nh vậy, có thể nói rằng: tính dân tộc là cái có thật, nhng nó nh thế nào và
giá trị, cách thức biểu hiện của nó ra sao vẫn còn là những vấn đề đang đợc thảo luận.
Tại Hội nghị Văn hoá, Văn nghệ Việt Bắc năm 1951, vấn đề định nghĩa khái niệm tính
dân tộc đã đợc nêu lên. Trong quá trình tranh luận đã có rất nhiều ý kiến trái ngợc nhau khi
bàn về tính dân tộc của một số thể loại nghệ thuật nh tuồng, chèo. Hội nghị đã khẳng định
đờng lối văn hoá văn nghệ của ta lấy Đề cơng về văn hoá Việt Nam năm 1943 làm trung
tâm, trong đó vấn đề dân tộc hoá đợc xem là một nguyên tắc cốt lõi của văn hoá, văn nghệ.
Tuy nhiên, vì quá nhiều vấn đề lý luận văn hoá nghệ thuật đợc đặt ra lúc đó, nên vấn đề định
nghĩa về tính dân tộc đã không thể giải quyết ngay đợc.
Sau năm 1954, khi đất nớc đã bớc vào thời kỳ mới, nhất là từ những năm 1960 trở
đi, vấn đề tính dân tộc của văn hoá nghệ thuật lại đợc khơi lên tranh luận trên nhiều báo và
tạp chí văn hoá nghệ thuật ở Trung ơng. Dới nhiều góc độ khác nhau, nhiều ngời làm công
tác văn hoá nghệ thuật khi đề cập đến khái niệm tính dân tộc đều nêu lên quan điểm của mình.
Điều đó chứng tỏ khái niệm tính dân tộc có quan hệ đến tất cả các lĩnh vực của văn hoá nghệ
thuật. Do xuất phát từ cách nhìn nhận khác nhau, nên khi bàn luận về vấn đề cách tiếp thu văn
hoá nghệ thuật dân tộc và tiếp nhận các giá trị văn hoá nghệ thuật của thế giới thờng dẫn đến
các ý kiến trái ngợc nhau. Nhiều cuộc tranh luận về âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu đã trở về
với định nghĩa tính dân tộc. Ngời ta không thể hiểu đợc tính dân tộc Việt Nam trong nhạc
giao hởng, trong điện ảnh và trong nhiều thể loại nghệ thuật khác vốn là di sản văn hoá xuất
hiện ở phơng Tây. Chính vì thế mà có ngời cho rằng, đã là dân tộc thì phải là dân tộc Việt
Nam, còn phơng Tây là phơng Tây, không nên lẫn lộn dân tộc với thế giới phơng Tây, do
đó
(7). Hoặc, nh Nguyễn Văn Trung nói: Dân tộc tính, truyền thống vốn
cũ, chính là những âm thanh, mầu sắc, hình ảnh nếp sống đó
(8).
Những ý kiến trên, tuy có đi sâu vào đặc thù bên trong của con ngời để tìm bản chất
của khái niệm tính dân tộc và trên cơ sở đó để tìm một định nghĩa về tính dân tộc của văn hoá
nghệ thuật, nhng về cơ bản, chúng vẫn chỉ căn cứ vào những cái thật sự khác biệt của từng
dân tộc, những cái chỉ dân tộc này có mà dân tộc khác không có Nếu cứ theo logíc ấy thì
vấn đề tính dân tộc của văn hoá nghệ thuật sẽ đợc hiểu là một cái gì bất biến, đã định hình,
thậm chí không có thay đổi, tạo nên sự khác biệt của dân tộc này so với dân tộc khác, đợc
biểu hiện trong ngôn ngữ, phong tục, tập quán, lối sống cũng nh trong các loại hình nghệ
thuật Và nh vậy thì tự nhiên quan điểm về tính dân tộc sẽ có mâu thuẫn với tính hiện đại và
tính quốc tế, thậm chí có mâu thuẫn giữa tính dân tộc này với dân tộc khác, mâu thuẫn giữa
truyền thống với cái mới, giữa dân tộc với thế giới. Trong thực tế, không thể chấp nhận hiện
tợng mâu thuẫn giữa dân tộc và tính hiện đại, giữa tính dân tộc và tính quốc tế, cũng nh giữa
truyền thống với hiện đại. Chúng ta đều biết, theo quan niệm duy vật biện chứng thì mọi sự
vật, hiện tợng trong thế giới vật chất đều vận động biến đổi và phát triển không ngừng, không
có sự vật, hiện tợng nào là đứng im, bất biến, không thay đổi. Trong quá trình ấy, có những
yếu tố mới ra đời, phát triển, song cũng có những yếu tố cũ sẽ mất đi. Tính dân tộc trong mỗi
cộng đồng ngời vừa có tính bền vững, vừa biến đổi cho phù hợp với yêu cầu phát triển chung
của nhân loại và của văn hoá. Theo quan điểm duy vật lịch sử thì mọi giá trị truyền thống đều
có mối liên hệ với thực tiễn và hiện đại. Đó là bản chất của hiện thực cuộc sống và cũng là bản
chất của văn hoá nghệ thuật. Nếu không có quá trình tiếp nối của các sự kiện và nói chung của
văn hoá, thì sẽ không có lịch sử mỗi dân tộc, cũng nh không có lịch sử tiến hoá của nhân
loại. Tính dân tộc của văn hoá nghệ thuật chỉ có thể tồn tại và phát triển trong bối cảnh chung
đó. Việc đi tìm một định nghĩa về tính dân tộc của văn hoá nghệ thuật là việc khó, vô cùng
phức tạp. Chúng ta có thể nêu lên rất nhiều thí dụ để nói lên sự khác biệt giữa dân tộc ta với
các dân tộc khác, nhng cha hẳn chúng ta hiểu đúng bản chất của tính dân tộc. Ví dụ, những
hiện tợng búi tóc, răng đen, áo dài the, đội khăn xếp đã một thời là những nét khác biệt của
dân tộc ta so với nhiều dân tộc khác, nhng đến nay những hiện tợng trên đã không còn nữa
phát triển sinh thành. Tính dân tộc của văn hoá nghệ thuật thờng gắn với hệ thống tình cảm,
các khát vọng, các biểu tợng, các hệ thống giá trị, phong tục, tập quán và triết lý sống của
một cộng đồng đợc biểu hiện bằng phơng thức nghệ thuật. Mỗi dân tộc đều có những cách
thức sáng tác, lu giữ, truyền đạt, cảm thụ và phát triển văn hoá văn nghệ riêng. Nó là một cơ
chế vận hành nội sinh nhằm thoả mãn các nhu cầu lao động, giao tiếp, tồn tại và phát triển của
dân tộc
. Với ý nghĩa này mỗi nền văn hoá nghệ thuật đều có tính dân tộc, nếu chỉ cần giữ gìn
quá khứ là bảo thủ và tự sát, nếu tiếp thu các yếu tố ngoại sinh một cách ồ ạt, không tính đến
cơ chế nội sinh thì sẽ dẫn đến nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc. Điều đó có ý nghĩa to lớn
trong việc xác định và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chú thích:
(1). Thành Duy, Về tính dân tộc trong văn học, Nxb Khoa học Xã hội, H, 1990, tr. 61.
(2) Thành Duy, sđd, tr. 61-62.
(3). V.
I. Lênin toàn tập, t 22,
Nxb Tiến bộ, M, 1979, tr. 156.
(4). Nguyễn Phúc,
Báo cáo tại Hội nghị bàn về tính dân tộc trong âm nhạc
, Phụ trơng
báo Văn hoá, số 120, tháng 12/1969.
(5). Lê Đình Kỵ, Các phơng pháp nghệ thuật, Nxb Giáo dục, H, 1962, tr 21.
(6). Mai Thúc Luân,
Thử bàn về tính dân tộc trong văn nghệ
, Tạp chí Văn nghệ, số 53,
tháng 10/1962.
(7). Lan Khai,
Tính cách Việt Nam trong văn chơng
, Tạp chí Tao đàn, số 4, Nxb Tân
dân, 1934.