Báo cáo nghiên cứu khoa học " MARKETING NÔNG SẢN CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN NHỎ Ở MIỀN TRUNG - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC " pot - Pdf 14


101MARKETING NÔNG SẢN CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN NHỎ
Ở MIỀN TRUNG - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Bùi Thị Tám
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế

1. Đặt vấn đề
Qua hai thập kỷ thực hiện đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã và đang đạt
những thành tựu vượt bậc. Tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp hàng năm
khoảng 4% năm, tỉ lệ hộ nghèo giảm một cách nhanh chóng và được xem là chưa
có tiền lệ, từ 37,8% dân số năm 1998 xuống còn 19% năm 2004 (Báo cáo cập
nhật đói nghèo, 2006). Nông sản chiếm hơn 50% thu nhập quốc dân và khoảng
55% giá trị xuất khẩu. Trong những năm gần đây, hội nhập thương mại quốc tế
được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Việt Nam
nhằm tạo cơ hội mở rộng thị trường, thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế.
Các tỉnh miền Trung với hầu hết dân số sống ở khu vực nông thôn, nông
nghiệp đóng vai trò quan trọng trong đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho
hơn 21 triệu người và việc làm cho hơn 2/3 dân số miền Trung. Tuy nhiên, thực
trạng phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp ở miền Trung thời gian qua cũng
cho thấy nhiều vấn đề cần quan tâm, trong đó những hạn chế về tài nguyên đất và
nước và các điều kiện tiếp cận thị trường đang được xem là những thách thức lớn
đối với phát triển nông nghiệp hàng hóa ở miền Trung. Với mục đích khảo sát thị

102

trường nông sản miền Trung và đánh giá nhu cầu hỗ trợ phát triển, trong khuôn
khổ xây dựng dự án "Đa dạng hóa nông nghiệp" giai đoạn 2 của Ngân hàng Thế
giới, một cuộc điều tra các hộ nông dân và các đối tượng tham gia thị trường liên

HTX. Các thương lái thường buôn nhiều loại nông sản như lúa gạo, ngô, hồ
tiêu hơn là chuyên về một loại nào đó. Trong khi đó có rất ít người buôn bán
thực phẩm sống (lợn, gia cầm ) nhưng lại chuyên môn hóa hơn. Khoảng 90,7%
giá trị thu mua của thương lái là mua trực tiếp từ nông hộ và chủ yếu là bán lại
cho những người buôn bán khác (66,7% số người được hỏi). Điều này có nghĩa
là các thương lái các chợ chủ yếu hoạt động như là những người thu gom và bán
buôn.
Bảng 1: Đặc điểm của các nông hộ trong mẫu điều tra
Tỉnh
Tổng
diện
tích đất
(ha)
Diện
tích đất
nông
nghiệp
(ha)
Số
thửa

Số vụ
có thể
canh
tác/nă
m
% chủ
hộ là
nam


HTX, 96% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và chỉ có 4% là chi nhánh của một
công ty lớn ở thành phố Hồ Chí Minh. Ngoại trừ các cơ sở chế biến thực phẩm
tươi sống, thì chỉ có cơ sở chế biến mủ cao su là chuyên môn hóa, còn lại là các
cơ sở chế biến đa sản phẩm. Kết quả điều tra về mức độ tạo ra giá trị gia tăng
(VA) của hoạt động chế biến cho thấy 62,7% cơ sở chế biến cho rằng hoạt động

105

của họ chỉ ở mức độ trung bình và 35% ở mức độ thấp. Các đối tượng cung cấp
nông sản chế biến chủ yếu hoạt động trong phạm vi địa phương và chuyên môn
hóa về một loại sản phẩm và 36% trong số họ là thành viên của HTX hoặc Hội
nông dân.
2.5 Cơ sở bán lẻ: Chỉ có 8% cơ sở bán lẻ là HTX và bình quân mỗi cơ sở
bán lẻ có khoảng 2,0 người, khoảng biến động là từ 1-15 nhân lực. Bình quân
doanh số hàng năm là 436 triệu đồng, nhưng với khoảng biến động rộng, từ 60
đến 1.600 triệu đồng. Ngoại trừ một số sản phẩm tinh chế, một tỉ lệ khá cao là
nông sản được sản xuất ở miền Trung, và một số từ vùng khác, nhưng không có
nông sản nhập khẩu. Về đối tượng khách hàng, khoảng 26,2% có thu nhập khá,
52,6% thu nhập trung bình và 21,2% thu nhập thấp.
3. Điều kiện tiếp cận thị trường và hoạt động của các đối tượng
3.1 Cơ sở hạ tầng chính: Tuy các nông hộ của các tỉnh khác nhau có điều
kiện tiếp cận thị trường khác nhau, nhưng nhìn chung các cơ sở hạ tầng cơ bản
cũng đang còn nghèo nàn và mức độ đáp ứng còn chậm như vận chuyển, thông
tin thị trường, tư vấn chất lượng, bảo quản, dự trữ Số liệu ở bảng 2 cho thấy
trong khi hầu hết các hộ có thể tiếp cận thông tin liên lạc qua điện thoại, thì trên
thực tế việc sử dụng phương tiện này để tìm hiểu thông tin cũng hạn chế vì
không phải lúc nào họ cũng có thể tìm đúng địa chỉ cần thiết. Hơn nữa, đây vẫn
chưa phải là thói quen của họ. Đối với thông tin báo chí hàng ngày cũng có sự
khác biệt lớn giữa các tỉnh điều tra – thấp nhất là 23% số người được hỏi có thể
tiếp cận ở Thừa Thiên - Huế và cao nhất là 70% ở Kon Tum. Về điều kiện thông
Điện thoại 100 80 73.3 63,3 55
74,3
*
Internet 0 1,7 0 3,3 3,3 1,7
Báo chí hàng ngày 50 33,3 70 23,3 60
47,3
*
(ii) Thông tin thị trường và vấn đề chất lượng sản phẩm
Thông tin về đánh giá chất lượng
36,
7 23,3 51,7 50 73,3 47*

107

Thông tin về an toàn thực phẩm
23,
3 46,7 15 56,7 40
36,3
*
Kỹ thuật sản xuất 55 100 91,7 83,3 76,7
81,3
*
Dịch vụ tiêu thụ sản phẩm 0 15 21,7 43,3 13,3
18,7
*
Thông tin nhu cầu sản phẩm 0 8,3 23,3 20 13,3 13
Phương tiện phân loại sản phẩm
trồng trọt

Khoảng cách đến đường cái chính
(km)
0,4
7 1,92 2,53 2,85 1,91 1,93
Khoảng cách đến chợ huyện (km)
12,
11
5,47 6,1 10,6 8,6
8,57
*
Số ngày chợ hoạt động (ngày/tháng) 30 30 30 30 30 30
Khoảng cách đến chợ tỉnh (km) 34 53,4 23,2 47,3 39,5
39,5
*
Khoảng cách đến chợ xã (km)
0,7
7
7,2 1 1,6 1,09 1,9*

109

Số lần thương lái đến nông hộ trong
năm 4,4 3,2 8,4 6,1 4,5 5,3*
Nguồn: Số liệu điều tra 2005
* Khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức kiểm định 95%.
3.2 Hành vi mua bán
Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các thương lái thu gom nông sản từ
nông hộ và bán trực tiếp cho khách hàng của họ - có thể những người bán buôn
khác hoặc bán lẻ, hoặc cơ sở chế biến, không qua sơ chế (hơn 82% sản lượng
mua là bán lại ngay, chỉ có 13% là qua sơ chế để vận chuyển). Nhìn chung, số

lời). Khi được hỏi về mức độ chấp nhận giá bán nông sản của họ, thì đa số nông
dân trả lời "không có ý kiến gì" (bảng 3). Chỉ có 36,7%, 25,3% và 27% số người
được hỏi, tương ứng các sản phẩm lợn ngô và lúa gạo, cho rằng giá bán nông sản
của họ là chấp nhận được. Tuy nhiên, nông dân cũng không có câu trả lời rõ ràng
về áp lực bán sản phẩm với giá không thỏa mãn. Những thông tin là bằng chứng
cho thấy các hộ nông dân thiếu kiến thức và thông tin thị trường.
Bảng 3: Mức độ chấp nhận giá bán nông sản của các hộ điều tra
Đơn vị tính: % người trả lời

111

Sản phẩm

Không thỏa
mãn
Chấp nhận Thỏa mãn Không có ý kiến

Dê - 5,3 1,7 93,0
Gia cầm 0,7 18,7 2,3 78,3
Hạt tiêu 6,7 8,3 7,7 77,3
Cao su 0,3 7,0 7,7 85,0
Lúa gạo 21,0 25,3 5,0 48,7
Ngô 2,0 27,0 2,3 68,7
Lợn 4,7 36,7 17,3 41,3
Trâu bò 1,7 17,0 6,0 75,3
Nguồn: Số liệu điều tra 2005
4. Một số giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện cơ hội marketing nông sản
cho hộ nông dân

112

ảnh hưởng của biến động thị trường quốc tế, thì sự thiếu hiểu biết kiến thức và
thông tin thị trường cũng như tiêu chuẩn chất lượng nông sản đã và đang là
những thách thức lớn đối với các hộ nông dân nhỏ nói chung và ở miền Trung
nói riêng. Do vậy, bên cạnh việc thực hiện các giải pháp kinh tế - kỹ thuật giúp
cho các nông hộ nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm, thì việc tổ
chức thực hiện đồng bộ các giải pháp marketing cần được chú trọng nhằm hạn
chế tác động tiêu cực của thị trường và cải thiện cơ hội marketing nông sản của
các nông hộ trong điều kiện thị trường tự do hóa và hội nhập quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. ActionAid Vietnam and Asian Development Bank. Dak Lak: A
participatory poverty and governance assessment (2003).
2. Agri-Food Trade Service. Vietnam – Agri - Food country profile
Statistical overview. Ottawa: Agriculture and Agri-Food Canada (2004).
3. ANZDEC limited. Vietnam Agricultural Sector Program, Phase I
Technical Report. ANZDEC limited, Australia (2000).
4. FAO. Policy for international competitiveness of agricultural products of
Vietnam. Rome: FAO (2001).
5. Tổng cục thống kê (GSO). Điều tra mức sống dân cư Việt Nam. Hà nội
(2002, 2004)

114

6. Minot and Goletti. Export liberalization and household welfare: The case
of rice in Vietnam. American Journal of Agricultural Economics,
November (1998).

MARKETING AGRICULTUARAL PRODUCTS OF SMALL FARM
HOUSEHOLDS IN THE CENTRAL REGION VIETNAM –
OPPORTUNITIES AND CHALLENGES
Bui Thi Tam


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status