Báo cáo nghiên cứu khoa học: "HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG - TỪ TƯ DUY ĐẾN THỰC TIỄN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI" - Pdf 19

HOT NG I NGOI CA NG - T T DUY
N THC TIN TRONG THI K I MI
FOREIGN AFFAIR ACTIVITIES OF THE PARTY IN THE PROCESS OF RENOVATION -
FROM THOUGHT TO REALITY NGUYN VN HON
Trng i hc Kinh t, i hc Nng TểM TT
Bi bỏo nờu ra nhng c hi v thỏch thc tỏc ng n hot ng i ngoi ca ng trc v trong quỏ
trỡnh i mi. T ú trỡnh by hot ng i ngoi i mi ca ng t t duy n thc tin, nhng kt qu
t c v nhng kinh nghim ca hot ng ú.
ABSTRACT
The article presents some opportunities and challenges affecting the foreign affair activities of the Party before
and in the process renovation. On this basis, it introduces the foreign affairs activities in the renovation process
- from thought to reality - as well as the results achieved from these efforts. 1. Đặt vấn đề
Sau 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt đợc những
thành tựu có ý nghĩa lịch sử, làm cho đất nớc khởi sắc mọi mặt, trong đó có sự đóng góp của mặt trận ngoại
giao. Báo cáo Chính trị tại Đại hội X viết: Hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nớc và nhân dân phát triển
mạnh, góp phần giữ vững môi trờng hoà bình, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín của Việt Nam trong
khu vực và trên thế giới. Đã giải quyết đợc một số vấn đề về biên giới, vùng chồng lấn trên biển với một số
quốc gia; chủ động và tích cực tham gia các diễn đàn thế giới; tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế và
khu vực tại Việt Nam {6, 59}. Những kết quả từ quá trình thực tiễn hoá đổi mới t duy đối ngoại nằm trong
sự đổi mới toàn diện, đồng bộ các mặt, các lĩnh vực của đất nớc đã đa Vị thế của nớc ta trên trờng quốc
tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất
nớc tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp {6, 67 - 68}.

Kông, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan cũng rất đáng để Việt Nam suy ngẫm về con đờng phát triển.
2.1. Về khách quan
: 1- Việt Nam đã phải đối mặt với lệnh cấm vận kinh tế, thù địch, chống phá và
kiềm chế, phong toả tài sản của Việt Nam ở nớc ngoài, không chấp nhận thừa kế ghế của Cộng hoà Miền
Nam tại Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Phát triển châu á (ADB) - Mà Ngân hàng Quốc gia Cộng hoà
Miền Nam là một sáng lập viên, Ngân hàng thế giới (WB) của Hoa Kỳ bắt đầu từ cuối năm 1975 kéo theo
một loạt các đồng minh của họ cũng có những động thái đóng băng trở lại sau một thời kỳ ngắn phía Việt
Nam nỗ lực, cố gắng hâm nóng lại quan hệ 1975 - 1977 thông qua các chuyến công du, thăm viếng, vận động
của Thủ tớng Chính phủ và Bộ trởng, Thứ trởng Ngoại giao nhằm giúp các nớc trong khu vực và quốc tế
có cái nhìn tích cực về Việt Nam; 2- Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam đang là đồng minh chiến
lợc núi liền núi, sông liền sông, môi hở răng lạnh trong sự nghiệp chống chủ nghĩa đế quốc, giải phóng
dân tộc, lại bớc sang một thời kỳ đối đầu dẫn đến xung đột và căng thẳng suốt nửa cuối thập kỷ 70 sang cuối
thập kỷ 80 {8}; 3- Quan hệ hậu chiến thời kỳ đầu 1975 - 1978 của Việt Nam với các nớc trong khu vực
Đông Nam á nhất là các nớc asean từng bớc đợc cải thiện theo hớng tích cực. Quan điểm của Việt
Nam đặc biệt với Thái Lan và Philippin, 2 quốc gia có can dự vào cuộc chiến tranh Việt Nam 1954 - 1975, là
sẵn sàng
khép lại quá khứ, hớng tới tơng lai
với thái độ tích cực theo hớng hợp tác trên tinh thần làm
bạn, vì lợi ích của các bên để lấy lại không khí hoà bình, ổn định ở khu vực. Tuy vậy, thái độ của các nớc
ASEAN là dè dặt, quan sát động thái chính sách và bớc đi thực hiện của Việt Nam. Tiếc thay quan hệ Việt
Nam - ASEAN đang ấm dần lên lại bị trở ngại và đóng lại sau những sự kiện nạn kiều dẫn tới xung đột với
Trung Quốc và đa quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ cách mạng và nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt
chủng Khơme đỏ đứng đầu gồm
Bộ ba đồ tể giết ngời
Polpot - Ieng Sary - Khieu Samphon đầu năm 1979.
Trớc d luận và thông tin một chiều, không chính xác của Mỹ, các thế lực đế quốc và bành trớng, báo chí
phơng Tây, các nớc ASEAN giống nh những con bài Domino đẩy lui theo chiến lợc của các nớc lớn thù
địch với cách mạng Việt Nam, quay lại có thái độ căng thẳng và hành động đối đầu với Việt Nam {9}.
2.2. Về chủ quan
: Những khó khăn trong nớc cũng tác động đến đờng lối đối ngoại của Việt Nam.

3. Hoạt động đối ngoại đổi mới của Đảng - Từ t duy đến thực tiễn
3.1. Trớc tình hình đó, ngoài việc tiếp tục tăng cờng quan hệ với các nớc XHCN, mặt trận đối
ngoại đợc mở rộng với những hoạt động tích cực phát triển quan hệ với các nớc dân tộc chủ nghĩa và không
liên kết. Chỉ trong một thời gian ngắn sau chiến tranh, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 40
nớc thuộc thế giới thứ 3. Quan hệ với các nớc công nghiệp phát triển và các tổ chức quốc tế tiếp tục đợc
mở rộng. Từ năm 1976 - 1986, Việt Nam đã tham gia 33 tổ chức và 19 điều ớc quốc tế. Những chính sách và
nỗ lực ngoại giao giai đoạn này đã góp phần làm thất bại âm mu bao vây, cấm vận của các thế lực nớc
ngoài và giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật của đất nớc.
3.2. Năm 1986, trớc những khó khăn to lớn cả về trong nớc và quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xớng công cuộc đổi mới đất nớc toàn diện, mở ra một giai đoạn mới với đờng lối và những chính
sách ngoại giao mới của Việt Nam mà nhiệm vụ hàng đầu là tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. T tởng đối ngoại nhất quán là giơng cao ngọn cờ hoà bình, ĐLDT và
CNXH, giữ vững độc lập tự chủ, đẩy mạnh hợp tác hữu nghị, làm tròn nhiệm vụ dân tộc và nghĩa vụ quốc tế.
Trong t duy đối ngoại, bên cạnh tăng cờng đoàn kết và quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô - Quan hệ
vẫn đợc coi là hòn đá tảng trong những năm đầu đổi mới, quan hệ với các nớc láng giềng và khu vực
đợc chú trọng. Văn kiện ĐH VI viết: Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nớc Đông
Dơng {1, 100}, đoàn kết và tôn trọng chủ quyền của mỗi nớc, hợp tác toàn diện, giúp đỡ nhau xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, coi đây là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân tộc anh em Việt Nam - Lào -
Campuchia {1, 100}. Đối với Trung Quốc, những động thái hoà dịu tích cực đã bắt đầu rõ nét: Việt Nam sẵn
sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu, nhằm bình thờng hoá quan hệ
giữa hai nớc, vì lợi ích của nhân dân hai nớc, vì hoà bình ở Đông Nam á và trên thế giới {1, 107}.
Đặt đất nớc trong mối quan hệ chung của khu vực, t duy đối ngoại trong văn kiện Đại hội VI đã thể
hiện thiện chí, mong muốn của Đảng và nhân dân Việt Nam đối với việc tạo lập môi trờng hoà bình ở Đông
Nam á: Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng các nớc trong khu vực thơng lợng để giải quyết các vấn
đề ở Đông Nam á, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, ổn định và hợp tác {1, 108}.
Nhìn tổng quát, t duy trong hoạt động đối ngoại do Đại hội VI đề ra đã tập trung hớng u tiên đối
ngoại cho việc tranh thủ mở rộng quan hệ với các nớc nhất là trong khu vực Đông Nam á, tranh thủ cơ hội
tháo gỡ căng thẳng, từng bớc tạo lập môi trờng hoà bình, ổn định để đa đất nớc ra khỏi tình trạng khủng
hoảng kinh tế - xã hội, thoát ra thế bị bao vây cô lập với bên ngoài.
3.3. Cụ thể hoá đờng lối đổi mới ngoại giao của Đại hội VI, ngày 20/5/1988, BCT ra Nghị quyết 13

3.4. Trên cơ sở những thành tựu nói chung của 5 năm đổi mới, từ thực tiễn tình hình đất nớc, khu vực
và quốc tế, Đại hội VII của Đảng (6/1991) vẫn xác định nhiệm vụ đối ngoại bao trùm là: Giữ vững hoà bình,
mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ
quốc {2, 88}. Phát triển quan hệ hữu nghị với các nớc Đông Nam á và châu á - Thái Bình Dơng, phấn
đấu cho một Đông Nam á hoà bình, hữ nghị và hợp tác. Mở rộng sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi với các
nớc Bắc Âu, Tây Âu, Nhật Bản và các nớc phát triển khác. Thúc đẩy quá trình bình thờng hoá quan hệ với
Hoa Kỳ {2, 147}. Đặc biệt, Đại hội VII tiến thêm một bớc quan trọng về t duy đối ngoại: Với chính sách
đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố rằng: Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nớc trong cộng đồng thế
giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập phát triển
{2, 147}.
3.5. Sau khi vấn đề Campuchia đợc giải quyết (23/10/1991), vị thế của Việt Nam trên trờng quốc tế
đợc cải thiện, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan hệ của Việt Nam với các nớc
trong khu vực và trên thế giới đợc thúc đẩy nhanh, mạnh hơn. Trên tinh thần
biến Đông Dơng từ chiến
trờng thành chiến trờng
của các nớc ASEAN hoà nhập với quan điểm của Việt Nam là lợi ích của Việt
Nam gắn liền với lợi ích của khu vực, sự cải thiện tích cực quan hệ Việt Nam - ASEAN đã tạo điều kiện cho
Việt Nam ký hiệp ớc Bali (1992) trở thành quan sát viên của tổ chức này. Cụ thể hoá Nghị quyết ĐH VII xác
định công tác đối ngoại giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết
TW3 khoá VII (29/6/1992) đã chủ trơng mở rộng, đa dạng hoá và đa phơng hoá quan hệ đối ngoại cả về
chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật, cả về Đảng, Nhà nớc và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức
phi chính phủ, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, bảo vệ và phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy những truyền thống
và bản sắc tốt đẹp của nền văn hoá dân tộc {3, 6}.
Sau Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ (1/1994), lĩnh vực đối ngoại đã có nhiều phát triển mới, nổi bật
lên là 3 sự kiện quan trọng giữa năm 1995: 1- Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh bao vây, cấm vận kinh tế kéo dài 2
thập kỷ và bình thờng hoá quan hệ với Việt Nam (11/7/1995); 2- Ký hiệp định khung hợp tác với liên minh
châu Âu EU (17/7/1995); 3- Đợc kết nạp và trở thành thành viên chính thức của ASEAN (28/7/1995). Với t
cách là thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam tích cực tham gia vào các hoạt động của tổ chức này
trên mọi phơng diện hợp tác và đợc d luận các nớc ĐNA và quốc tế đánh giá cao. Những sự kiện trong

nớc trong cộng đồng quốc tế, từ chỗ bị bao vậy, cấm vận, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu kinh tế -
chính trị với khu vực và thế giới. Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 169 nớc thuộc tất cả
các châu lục, quan hệ kinh tế thơng mại với 188 quốc gia và vùng lãnh thổ, quan hệ đầu t với hơn 70 nớc
và vùng lãnh thổ, có quan hệ bình thờng với tất cả các nớc lớn và các trung tâm kinh tế thế giới, là thành
viên của hàng trăm tổ chức quốc tế, khu vực và tiểu vùng. Trong quá trình phát triển, Việt Nam kiên định con
đờng đi lên CNXH đã lựa chọn, giữ vững mối quan hệ hữu nghị với các nớc XHCN, phát triển hợp tác
nhiều mặt, phấn đấu vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với các nớc láng giềng, Việt
Nam chủ động thúc đẩy quan hệ hữu nghị, giải quyết các vấn đề tồn tại và tranh chấp bằng thơng lợng, góp
phần tích cực trong việc lập lại hoà bình ở Campuchia, không ngừng củng cố và tăng cờng mối quan hệ hữu
nghị đặc biệt toàn diện với Lào. Bình thờng hoá quan hệ với Trung Quốc, phát triển quan hệ Việt - Trung lên
tầm cao mới theo tinh thần 16 chữ vàng
láng giềng thân thiện, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hớng tới
tơng lai
. Đối với các nớc trong khu vực, Việt Nam đã thể hiện vai trò năng động và trách nhiệm trong các
hoạt động của tổ chức khu vực, góp phần tích cực đa ASEAN thành ASEAN 10, nỗ lực từng bớc thực hiện
kế hoạch thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), đảm nhận lần lợt các chức vụ chủ tịch Uỷ ban
thờng trực ASEAN, chủ tịch Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF). Năm 2004, Việt Nam xuất khẩu
sang các nớc ASEAN là 3,873 tỷ USD và nhập khẩu 7,766 tỷ USD. Đặc biệt với t cách nớc thành viên của
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC) vào tháng 11/1998 và là sáng lập viên Diễn đàn
hợp tác á - Âu (ASEM) vào tháng 3/1996, Việt Nam đã có nhiều sáng kiến, kiến nghị giành đợc sự ủng hộ
và nhất trí cao của các nớc thành viên. Theo số liệu năm 2004, Việt Nam xuất sang các nớc thuộc ASEM
15,6 tỷ USD và nhập khẩu là 21,5 tỷ USD. Cũng năm đó, Việt Nam xuất khẩu vào các nớc thành viên APEC
18,88 tỷ USD và nhập khẩu từ các nớc này 26,1 tỷ USD. Vai trò của Việt Nam tại Liên hiệp quốc (UN) và
Phong trào Không liên kết không ngừng đợc nâng cao thông qua việc tiếp thu thành tựu văn minh nhân loại,
góp phần vào sự tiến bộ chung của loài ngời vì hoà bình, bảo vệ môi trờng - sinh thái, hình thành một trật
tự kinh tế thế giới hợp lý và công bằng hơn.
Việc bình thờng hoá quan hệ với Mỹ và tiến hành đàm phán về Hiệp định thơng mại song phơng
từ 9/1996 đã dẫn đến sự kiện ký kết Hiệp định thơng mại song phơng Việt Nam - Hoa Kỳ vào 13/7/2001.
Quan hệ Việt - Mỹ ngày càng phát triển dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, trong 5 năm gần đây,
tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trờng Hoa Kỳ đã tăng lên trên 10 lần. Quy chế thơng mại

thế quốc tế của đất nớc, đạt mục tiêu dân giàu, nớc mạnh và góp phần tích cực vào quan hệ hợp tác quốc tế
vì độc lập, hoà bình, bình đẳng, ổn định, phồn vinh và dân chủ. TI LIU THAM KHO

1. ng Cng sn Vit Nam (1987), Vn kin i hi i biu ton quc ln th VI, Nxb S tht, H Ni.
2. ng Cng sn Vit Nam (1991), Vn kin i hi i biu ton quc ln th VII, Nxb S tht, H Ni.
3. ng Cng sn Vit Nam (1992), Vn kin Hi ngh ln th ba BCHTW khoỏ VII, H Ni.
4. ng Cng sn Vit Nam (1996), Vn kin i hi i biu ton quc ln th VIII, Nxb CTQG, H Ni.
5. ng Cng sn Vit Nam (2001), Vn kin i hi i biu ton quc ln th IX, Nxb CTQG, H Ni.
6. ng Cng sn Vit Nam (2006), Vn kin i hi i biu ton quc ln th X, Nxb CTQG, H Ni.
7. V Dng Ninh (Ch biờn), Mt s chuyờn lch s th gii, Nxb HQGHN, H Ni, 2002.
8. Granter Evarns & Kevin Rauley (1986), Red Brotherhood at War (Chõn lý thuc v ai), bn dch, Nxb
Quõn i Nhõn dõn, H Ni.
9. Unfred Berssett (1986), Tam giỏc Trung Quc - Campuchia - Vit Nam (bn dch), Nxb Thụng tin Lý
lun, H Ni.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status