Hoạt động đối ngoại của Đảng – Từ tư duy đến thực tiễn trong thời kỳ đổi mới - Pdf 27

Hoạt động đối ngoại của Đảng – Từ tư duy đến thực tiễn trong thời
kỳ đổi mới.
1. Đặt vấn đề
Sau 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt
được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, làm cho đất nước khởi sắc mọi mặt, trong đó
có sự đóng góp của mặt trận ngoại giao. Báo cáo Chính trị tại Đại hội X viết: “Hoạt động
đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân phát triển mạnh, góp phần giữ vững môi
trường hoà bình, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín của Việt Nam trong khu vực
và trên thế giới. Đã giải quyết được một số vấn đề về biên giới, vùng chồng lấn trên biển
với một số quốc gia; chủ động và tích cực tham gia các diễn đàn thế giới; tổ chức thành
công nhiều hội nghị quốc tế và khu vực tại Việt Nam”. Những kết quả từ quá trình thực
tiễn hoá đổi mới tư duy đối ngoại nằm trong sự đổi mới toàn diện, đồng bộ các mặt, các
lĩnh vực của đất nước đã đưa “Vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng
nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới
cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”.
Để thấy rõ hơn ý nghĩa lịch sử của những thành tựu hiện nay về mặt đối ngoại cần xem
lại những khó khăn và trở ngại của ngoại giao Việt Nam trước đổi mới và những quyết
sách ngoại giao đúng đắn, kịp thời của Đảng nhằm giải toả và khai thông những bế tắc
trong quan hệ đối ngoại, để đưa đất nước vượt ra khỏi tình trạng đó, hội nhập và phát
triển với các nước láng giềng, khu vực và cộng đồng quốc tế.
2. Những khó khăn của quan hệ đối ngoại trước đổi mới
Sau tháng 4/1975, đất nước hoà bình, độc lập, thống nhất, nhân dân 2 miền Nam Bắc
hoà chung niềm tin phấn khởi và khí thế cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng từng
bước đưa Việt Nam quá độ lên CNXH. Tuy còn gặp nhiều khó khăn do hậu quả của 30
năm chiến tranh (1945 - 1975) và di sản của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, nhưng
nước Việt Nam thống nhất đã tạo lập được vị thế và uy tín cao trên trường quốc tế
thông qua các sự kiện: 1- Trở thành thành viên tích cực của Phong trào Không liên kết
(1976); 2- Sau 5 lần nộp đơn bị Mỹ phủ quyết suốt từ năm 1948 - 1977, nỗ lực của
Chính phủ Việt Nam đã thành công khi chính thức gia nhập Liên hiệp quốc (20/9/1977)
và nhiều tổ chức khác; 3- Thiết lập thêm quan hệ ngoại giao với hàng loạt các quốc gia
ở khắp các châu lục. Tuy nhiên, công cuộc khôi phục kinh tế - xã hội, hàn gắn vết

công du, thăm viếng, vận động của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng, Thứ trưởng
Ngoại giao nhằm giúp các nước trong khu vực và quốc tế có cái nhìn tích cực về Việt
Nam; 2- Tam giác Trung Quốc - Campuchia - Việt Nam đang là đồng minh chiến lược
“núi liền núi, sông liền sông”, “môi hở răng lạnh” trong sự nghiệp chống chủ nghĩa đế
quốc, giải phóng dân tộc, lại bước sang một thời kỳ đối đầu dẫn đến xung đột và căng
thẳng suốt nửa cuối thập kỷ 70 sang cuối thập kỷ 80; 3- Quan hệ hậu chiến thời kỳ đầu
1975 - 1978 của Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam á nhất là các nước
asean từng bước được cải thiện theo hướng tích cực. Quan điểm của Việt Nam đặc biệt
với Thái Lan và Philippin, 2 quốc gia có can dự vào cuộc chiến tranh Việt Nam 1954 -
1975, là sẵn sàng “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” với thái độ tích cực theo
hướng hợp tác trên tinh thần làm bạn, vì lợi ích của các bên để lấy lại không khí hoà
bình, ổn định ở khu vực. Tuy vậy, thái độ của các nước ASEAN là dè dặt, quan sát động
thái chính sách và bước đi thực hiện của Việt Nam. Tiếc thay quan hệ Việt Nam -
ASEAN đang ấm dần lên lại bị trở ngại và đóng lại sau những sự kiện nạn kiều dẫn tới
xung đột với Trung Quốc và đưa quân tình nguyện Việt Nam giúp đỡ cách mạng và
nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Khơme đỏ đứng đầu gồm “Bộ ba đồ tể
giết người” Polpot - Ieng Sary - Khieu Samphon đầu năm 1979. Trước dư luận và thông
tin một chiều, không chính xác của Mỹ, các thế lực đế quốc và bành trướng, báo chí
phương Tây, các nước ASEAN giống như những con bài Domino đẩy lui theo chiến
lược của các nước lớn thù địch với cách mạng Việt Nam, quay lại có thái độ căng thẳng
và hành động đối đầu với Việt Nam.
2.2. Về chủ quan: Những khó khăn trong nước cũng tác động đến đường lối đối ngoại
của Việt Nam. Mỗi bước đi của chính sách đối nội lại có ảnh hưởng ít nhiều đến quan
hệ đối ngoại của đất nước. 1- Sự chống phá của thổ phỉ, gián điệp mà kẻ thù để lại sau
chiến tranh như Fulro (Front Unifie de Liberation des Races Oppriemees tức Mặt trận
đoàn kết giải phóng các dân tộc bị áp bức) ở Tây Nguyên, các toán gián điệp, thổ phỉ ở
phía Bắc và các phần tử lưu manh, phản động của chế độ cũ; 2- Chính sách đối ngoại
của Đại hội IV - Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất
nước - là củng cố quan hệ của Việt Nam với tất cả các nước XHCN, Lào, Campuchia,
sẵn sàng thiết lập và phát triển các quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu

bao vây, cấm vận của các thế lực nước ngoài và giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội,
khoa học - kỹ thuật của đất nước.
3.2. Năm 1986, trước những khó khăn to lớn cả về trong nước và quốc tế, Đảng Cộng
sản Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước toàn diện, mở ra một giai đoạn
mới với đường lối và những chính sách ngoại giao mới của Việt Nam mà nhiệm vụ hàng
đầu là tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Tư tưởng đối ngoại nhất quán là giương cao ngọn cờ hoà bình, ĐLDT và CNXH,
giữ vững độc lập tự chủ, đẩy mạnh hợp tác hữu nghị, làm tròn nhiệm vụ dân tộc và
nghĩa vụ quốc tế. Trong tư duy đối ngoại, bên cạnh tăng cường đoàn kết và quan hệ
hợp tác toàn diện với Liên Xô - Quan hệ vẫn được coi là “hòn đá tảng” trong những năm
đầu đổi mới, quan hệ với các nước láng giềng và khu vực được chú trọng. Văn kiện ĐH
VI viết: “Phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương” {1,
100}, đoàn kết và tôn trọng chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ nhau
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, coi đây là “quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân
tộc anh em” Việt Nam - Lào - Campuchia {1, 100}. Đối với Trung Quốc, những động thái
hoà dịu tích cực đã bắt đầu rõ nét: “Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất
cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu, nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai
nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình ở Đông Nam á và trên thế giới”.
Đặt đất nước trong mối quan hệ chung của khu vực, tư duy đối ngoại trong văn kiện Đại
hội VI đã thể hiện thiện chí, mong muốn của Đảng và nhân dân Việt Nam đối với việc
tạo lập môi trường hoà bình ở Đông Nam á: “Chúng ta mong muốn và sẵn sàng cùng
các nước trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam á, thiết lập
quan hệ cùng tồn tại hoà bình, ổn định và hợp tác”.
Nhìn tổng quát, tư duy trong hoạt động đối ngoại do Đại hội VI đề ra đã tập trung hướng
ưu tiên đối ngoại cho việc tranh thủ mở rộng quan hệ với các nước nhất là trong khu
vực Đông Nam á, tranh thủ cơ hội tháo gỡ căng thẳng, từng bước tạo lập môi trường
hoà bình, ổn định để đưa đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, thoát
ra thế bị bao vây cô lập với bên ngoài.
3.3. Cụ thể hoá đường lối đổi mới ngoại giao của Đại hội VI, ngày 20/5/1988, BCT ra
Nghị quyết 13 với tiêu đề “Giữ vững hoà bình, phát triển kinh tế”. Nghị quyết đã nhấn

đất nước, khu vực và quốc tế, Đại hội VII của Đảng (6/1991) vẫn xác định nhiệm vụ đối
ngoại bao trùm là: “Giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều
kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc”. “Phát triển quan hệ
hữu nghị với các nước Đông Nam á và châu á - Thái Bình Dương, phấn đấu cho một
Đông Nam á hoà bình, hữư nghị và hợp tác. Mở rộng sự hợp tác bình đẳng cùng có lợi
với các nước Bắc Âu, Tây Âu, Nhật Bản và các nước phát triển khác. Thúc đẩy quá
trình bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ”. Đặc biệt, Đại hội VII tiến thêm một bước
quan trọng về tư duy đối ngoại: “Với chính sách đối ngoại rộng mở, chúng ta tuyên bố
rằng: Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì
hoà bình, độc lập phát triển”.
3.5. Sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết (23/10/1991), vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế được cải thiện, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Quan hệ của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới được thúc đẩy
nhanh, mạnh hơn. Trên tinh thần “biến Đông Dương từ chiến trường thành chiến trường”
của các nước ASEAN hoà nhập với quan điểm của Việt Nam là “lợi ích của Việt Nam
gắn liền với lợi ích của khu vực”, sự cải thiện tích cực quan hệ Việt Nam - ASEAN đã tạo
điều kiện cho Việt Nam ký hiệp ước Bali (1992) trở thành quan sát viên của tổ chức này.
Cụ thể hoá Nghị quyết ĐH VII xác định công tác đối ngoại giữ vị trí quan trọng trong sự
nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, Nghị quyết TW3 khoá VII (29/6/1992) đã
chủ trương “mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại cả về chính trị,
kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật, cả về Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân,
các tổ chức phi chính phủ, trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, bảo vệ và
phát triển kinh tế, giữ gìn và phát huy những truyền thống và bản sắc tốt đẹp của nền
văn hoá dân tộc”
Sau Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ (1/1994), lĩnh vực đối ngoại đã có nhiều phát triển
mới, nổi bật lên là 3 sự kiện quan trọng giữa năm 1995: 1- Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh bao
vây, cấm vận kinh tế kéo dài 2 thập kỷ và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam
(11/7/1995); 2- Ký hiệp định khung hợp tác với liên minh châu Âu EU (17/7/1995); 3-
Được kết nạp và trở thành thành viên chính thức của ASEAN (28/7/1995). Với tư cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status