Quản lý hoạt động đào tạo của trường tư thục ngoại ngữ Việt Nam tại TP HCM - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ CẨM
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG
TƯ THỤC NGOẠI NGỮ VIỆT ANH
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60 14 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học
PGS. TS. BÙI NGỌC OÁNH
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- CC : Chứng chỉ
- CCQG : Chứng chỉ quốc gia
- CNH : Công nghiệp hoá
- CNXH : Chủ nghĩa xã hội
- CSVC : Cơ sở vật chất
- ĐHKHXH-NV : Đại học Khoa học xã hội – Nhân văn
- ĐT : Đào tạo
- ĐG : Đánh giá
- HĐH : Hiện đại hoá
- GD : Giáo dục
- GD-ĐT : Gíáo dục- đào tạo
- GV : Giáo viên
- HV : Học viên
- KT-ĐG : Kiểm tra – đánh giá
- NNVA : Ngoại ngữ Việt An
h
- PP : Phương pháp
- QL : Quản lý
- QLTH : Quản lý trường học
-SGD-ĐT TPHCM : Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh
- & : và
- XHCN : Xã hội chủ nghĩa
- XHH : Xã hội hoá

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: ĐG nhận thức về mục tiêu ĐT của GV ở trường NNVA --------40

Bảng 2.22: ĐG tính đạt hiệu quả của việc ĐT tiếng Anh tại trường
NNVA qua kết quả các kỳ thi CCQG----------------------------- 79
Bảng 3.1: Ý kiến của GV về một số biện pháp QL để nâng cao hiệu
quả đào tạo của nhà trường-----------------------------------------84
Bảng 3.2: Ý kiến của HV về một số biện pháp để nâng cao hiệu
quả đào tạo của nhà trường ----------------------------------------
85
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của thời đại, là đặc điểm kinh tế - xã hội của
nhân loại trong thế kỉ XXI. Nước ta đang tiến hành CNH và HĐH, trong xu thế hội
nhập với khu vực và thế giới ; nên hiện nay hơn lúc nào hết ngoại ngữ, đặc biệt là
tiếng Anh có vai trò rất quan trọng không thể thiếu đối với sự phát triển của đất
nước. Nó không chỉ là một công cụ giao tiếp, một phương tiện thông t
in nhạy bén,
giúp cho người sử dụng nó tiếp thu các tư tưởng tiên tiến và những thành tựu khoa
học, mà còn được nâng lên như vai trò của một năng lực phẩm chất cần thiết trong sự
hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện đại, có đủ năng lực cạnh
tranh, để tạo lập những mối quan hệ cần thiết có tính quyết định cho sự thành công.

Hay nói cách khác, thì ngoại ngữ là phương tiện đặc biệt có giá trị, không thể thiếu
được đối với quá trình toàn cầu hoá và hội nhập.
Toàn cầu hóa đã thúc đẩy giáo dục phát triển theo định hướng hội nhập và cạnh
tranh, chính vì thế tình hình dạy và học ngoại ngữ ngày càng đa dạng hơn và ngoại
ngữ chiếm ưu thế hiện nay là tiếng Anh. Thập niên 90 chứng kiến sự phát triển tột
bậc của tiếng Anh tại Việt Nam. Các trung tâm
đào tạo lần lượt ra đời cùng với nhiều
chương trình, loại hình giảng dạy phong phú phục vụ cho nhiều đối tượng người học
khác nhau. Mở cửa đã góp phần đưa tiếng Anh lên một tầm cao mới, và ngược lại,
tiếng Anh đã giúp hội nhập và giao lưu quốc tế với một tốc độ nhanh chưa từng có,

soạn viết bài giới thiệu về trường - đơn vị có nhiều thành tích trong việc đào tạo
ngoại ngữ cho HV.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả nghiên cứu đề tài : “Quản lý hoạt động
đào tạo của trường tư thục ngoại ngữ Việt Anh tại TPHCM” nhằm k
hắc phục
những khiếm khuyết trong hoạt động QL, và tìm ra những biện pháp nâng cao hiệu
quả ĐT của nhà trường, để nhanh chóng góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho TP
theo xu hướng hội nhập và phát triển với khu vực và thế giới.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng hoạt động QL đào tạo của trường tư thục ngoại
ngữ Việt Anh, từ đó đề xuất một số biện pháp QL để nâng cao hiệu quả đào tạo ở
trường tư thục ngoại n
gữ Việt Anh tại TPHCM.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
_ Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý đào tạo ở trường tư thục ngoại
ngữ Việt Anh tại TPHCM.
_
Khách thể nghiên cứu: Việc quản lý hoạt động ĐT ở trường tư thục ngoại
ngữ Việt Anh, và hai trường tư thục ngoại ngữ Dương Minh và Nguyễn Du tại
TPHCM.
4.
Nhiệm vụ nghiên cứu
_ Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.
_ Thực trạng về hoạt động QLĐT ở trường tư thục NNVA tại TPHCM.
_ Những biện pháp để nâng cao hiệu quả ĐT tại trường tư thục NNVA
5.
Giả thuyết khoa học
Việc QL hoạt động ĐT tại trường tư thục NNVA đã có một số hiệu quả bước
đầu, tuy nhiên vẫn còn một số nhược điểm ở khâu QL ĐT. Vì thế nếu xây dựng và
thực hiện được những biện pháp QL hữu hiệu theo một quy trình, thì sẽ nâng cao

hiệu quả, cũng như các
biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý ĐT tại các trường phổ thông, cao đẳng, đại học,
và các trung tâm ngoại ngữ như:
_ Tìm hiểu thực trạng dạy và học tiếng Anh Tại các trung tâm ngoại ngữ khu
vực TPHCM nhằm đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo,
do Đỗ Huy Thịnh làm chủ nhiệm đề tài, năm
2003.
_ ĐG hiệu quả ĐT tiếng Anh như một ngoại ngữ tại các trường đại học trên địa
bàn TPHCM, do Sở Khoa học & Công nghệ TPHCM, giao cho nhóm nghiên cứu
thuộc trường ĐHKHXH – NV thực hiện 2001 – 2004.
_ Năng lực tiếng Anh của sinh viên các trường đại học trên địa bàn
TPHCM trước yêu cầu của một nền kinh tế tri thức: Thực trạng và những
giải pháp, của Vũ Thị Phương Anh & Nguyễn Bích Hạnh, năm 2004.
_ Đổi mới PP giảng dạy các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh: Từ đường hướng lấy
người dạy làm
trung tâm sang đường hướng lấy người học làm trung tâm, của Hoàng
Văn Vân, năm 2001.
_ Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QLGD của Lê Văn Việt “ Thực trạng công
tác quản lý ĐT tại khoa ngoại ngữ trường Cao đẳng Sư phạm TPHCM và một số
giải pháp”, năm 2002.
_
Phương pháp học ngoại ngữ nhanh và hiệu quả, của nhà sư phạm Phạm Văn
Vĩnh, năm 2003.
_ Đánh giá thực trạng giao tiếp qua việc dạy và học tiếng Anh trong trường phổ
thông. Đề xuất phương án giải quyết bằng việc biên soạn tập tài liệu giảng dạy nhằm
nâng cao hiệu quả kỹ năng nghe nói cho học sinh, của Nguyễn Viết Ngoạn, năm
2003.
_ Dạy và học tiếng Anh trong trường đại học, chủ nhiệm đề tài là Vũ Thị
Phương Anh và nhóm thực hiện (ĐHKHXH-NV thuộc ĐHGQ TPHCM)
năm 2004.

mới, tại Đại hội lần thứ VII, Đảng đã khẳng định phát triển giáo dục và khoa học là
quốc sách hàng đầu. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã có

nghị quyết về tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD-ĐT. Đại hội lần thứ VIII nhấn mạnh
phải lấy phát triển GD - ĐT và khoa học - công nghệ làm yếu tố cơ bản, coi là khâu
đột phá. Đảng ta khẳng định: Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệ cao,
có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng, phát huy bởi
một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học công nghệ hiện đại. Giáo

dục phải làm tốt nhiệm vụ ĐT nguồn nhân lực cho đất nước, đội ngũ lao động cho
khoa học công nghệ.
Nghị quyết Hội nghị lần 2 khóa VIII của Ban chấp hành Trung ương Đảng đề
ra: “Nhanh chóng đưa GD-ĐT đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, thực hiện mục
tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ cho sự nghiệp xây
dựng và phát triển đất nước”.
Tại kỳ họp này, định hướng c
hiến lược phát triển GD – ĐT trong thời kỳ CNH,
HĐH đã được nêu ra với bảy vấn đề cơ bản sau:
- Xác định mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và
thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH
-
Giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung, phương pháp GD - ĐT, trong chính
sách, nhất là chính sách công bằng xã hội, chống khuynh hướng” thương mại hóa”,
đề phòng khuynh hướng phi chính trị hóa GD - ĐT không truyền bá tôn giáo trong
trường học.
- Thực sự coi GD – ĐT là quốc sách hàng đầu, coi đầu tư cho GD là đầu tư phát
triển, thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với GD - ĐT.
- Coi GD – ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng và Nhà nước và của toàn dân, kết
hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và gi
áo dục xã hội tạo nên môi trường

Giáo dục phải ĐT nên những con người thông m
inh, sáng tạo, nắm vững tri thức
khoa học, am hiểu thực tiễn, có trình độ ngoại ngữ để tiếp cận với sự hội nhập và phát
triển nhanh chóng của xã hội theo xu hướng toàn cầu hóa.
1.2.2. Vai trò của ngoại ngữ trong sự nghiệp GD-ĐT và trong sự phát triển của
đất nước
Toàn cầu hoá là xu thế khách quan, bao hàm hầu hết các lĩnh vực, trong đó có
GD, vừa thúc đẩy hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh phức tạp để tăng sức ép cạnh
tranh. Bởi vậy, yêu cầu đổi mới mạnh mẽ GD Việt Nam
trở nên bức bách hơn bao
giờ hết để có thể hội nhập khu vực và thế giới. Điều kiện tiên quyết của hội nhập là
ngôn ngữ, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường ĐT
ngoại ngữ trong hệ thống GD quốc dân với chủ trương XHH giáo dục, đa dạng hóa

các hình thức ĐT và hiện nay ngoại ngữ được coi là một trong những tiêu chí để
chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức nhà nước. Bên cạnh đó tốc độ tăng của lao động
xã hội ở nước ta tương đối nhanh, nhưng trình độ ngoại ngữ bị hạn chế nên gặp nhiều
khó khăn trong việc tiếp cận với các công nghệ tiên tiến, cũng như việc hợp tác trong
các ngành kinh tế có đầu tư nước ngoài và các công ty liên doanh. Do đó, việc ĐT
ngoại ngữ cho người lao động, cung cấp nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế, phục
vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH, HĐH và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc
tế là nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Vì thế
ngoại ngữ có một vị trí & vai trò rất quan trọng, từ một công cụ giao lưu quốc tế, đã
trở thành chiếc chìa khóa của sự tranh đua, tận dụng tối đa n
hững tiến bộ nhanh
chóng về khoa học & công nghệ, một công cụ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
Việc dạy và học ngoại ngữ từ nhiều năm
nay đã được Đảng và Nhà nước ta rất
quan tâm. Ngay từ những năm 1968 và 1972 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các

như một công cụ
đắc lực để thu thập thông tin, kiến thức, là vũ khí không thể thiếu được trong cạnh
tranh và chiếm lĩnh thị trường.
Vì thế có thể nói trước yêu cầu phát triển của xã hội, việc dạy - học ngoại ngữ
không đơn giản chỉ vì mục đích nâng cao dân trí mà thưc sự nó đã trở thành một
“kênh” tham gia trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài để phát triển
đất nước.
1.2.3. Một số kh
ái niệm liên quan đến đề tài
1.2.3.1. Quản lý
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận
khác nhau:
- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý
lên khách thể quản lý về mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục… bằng một
hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, nhằm tạo ra m
ôi trường và điều
kiện cho sự phát triển của đối tượng.
- Quản lý là một hệ thống những tác động có chủ định, có định hướng của chủ
thể quản lý nhằm khai thác và vận dụng tối ưu những tiềm năng và cơ hội của tổ chức
để đạt đến mục tiêu quản lý với yêu cầu chất lượng cao trong m
ôi trường luôn biến
động.
- Quản lý là sự tác động có mục đích của cán bộ quản lý đối với tập thể con
người nhằm làm cho hệ thống hoạt động bình thường, giải quyết được nhiệm vụ đề
ra.
Cho dù cách tiếp cận nào thì bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác
động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể
quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn
và đạt mục tiêu đã đề ra [24
]. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật

động

quản

Tác
động
phản
Hồi

Thực hiện
 Đặc điểm cơ bản của quản lý
Quản lý trước hết là hoạt động có
mục đích, được xác định cấu trúc của tổ chức
để điều chỉnh các mối quan hệ.
Quản lý có những mối quan hệ của sự lựa chọn thành phần cụ thể tạo nên quá

trình điều khiển như một tổng thể. Nó có những quy định về mối liên hệ trên, dưới,
ngang, dọc, trong, ngoài.
Trong quá trình quản lý việc đưa ra quyết định và thực hiện quyết định được
tiến hành tuần tự theo các bước nhất định.
 Chức năng cơ bản của quản lý
“Chức năng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các
công việc của các thành viên trong tổ chức và của việc sử dụng tất cả các khả năng,
cách tổ chức để đạt được mục tiêu và tổ chức đã đề ra.” [24
]
Như vậy quản lý có 4 chức năng cơ bản sau:
 Lập kế hoạch: Là việc ra quyết định, nó gồm việc chọn lựa phương
hướng, đường lối, hành động mà tổ chức nào đó và các bộ phận
của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức.
Lập kế hoạch là công việc liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho


1.2.3.2. Quản lý trường học
 Trường học: Trường học là cơ sở thực tế và thực tiễn của hoạt động giáo
dục của GV và hoạt động học tập của HV dưới sự QL của hiệu trưởng và với sự
cộng tác và phối hợp của gia đình HV và xã hội.
Trường học là một hệ thống các thành phần thuộc 3 loại :
- Những con người: HV, GV, hiệu trưởng, cán bộ,nhân viên
- Những phương tiện vật chất, kỹ thuật và tài chính: ngôi trường, sách giáo khoa,
đồ dùng để dạy và học, hồ sơ lưu trữ, ngân quỹ.
- Những tổ chức: Ban giám hiệu, các phòng hoặc ban chức năng, các Tổ chuyên
môn, các hội đồng, chi bộ Đảng Cộng Sản, Công Đoàn, Đoàn Thanh Niên Cộng Sản,
Hội cha mẹ học sinh.
 Quản lý trường học (QLTH):
QLTH là quản lý gi
áo dục trong một trường học cụ thể. “ QLTH là quản lí vi
mô, nó là một hệ thống con của quản lí vĩ mô: QLGD, QLTH có thể hiểu là một chuỗi
tác động hợp lí (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư
phạm của chủ thể quản lí đến tập thể GV và học sinh, đến những lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào
mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việc
hoàn t
hành những mục tiêu dự kiến” [25, tr. 16].
Thế nên nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước, trực tiếp làm
công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện mục
tiêu nâng cao dân trí , đào tạo nhân lực , bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đồng thời
cũng là một tổ chức mang tính XH.

Trong nhà trường, hệ bị QL gồm có tập thể GV và tập thể học sinh, còn hệ QL
chỉ gồm có lãnh đạo trường. Hoạt động trung tâm của nhà trường là dạy và học. Mọi
hoạt động đa dạng và phức tạp khác đều xoay quanh hoạt động này. Vì vậy quản lý

“Nguyên tắc QL là những yêu cầu, những quy định chung nhằm chỉ đạo hoạt
động và tổ chức hệ thống QL. Nguyên tắc phải biểu hiện được mối quan hệ ổn định,
bền vững, tồn tại trong hệ thống QL .”[22
]
_ Tính Đảng
Trước hết là làm cho tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh mà Đảng ta đã cụ thể hóa thành đường lối, chủ trương chính sách giáo dục trở
thành hệ tư tưởng và quan điểm chủ đạo duy nhất của toàn bộ công tác GD-ĐT,
nguyên tắc này coi việc giáo dục thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và đạo đức
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình giáo dục.

_ Tính khoa học, tính thực tiễn.
Trong QL người quản lý phải nắm được cơ sở khoa học. Khoa học và QLGD
phải dựa vào thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau: Xã hội học, kinh tế học,
tâm lý học, luật học… Vì vậy tính khoa học trong QLGD trước hết đòi hỏi quan điểm
tổng hợp, hệ thống và quan điểm vận động (phát triển).
Tính khoa học trong QLGD đòi hỏi yêu cầu cụ thể và thực tiễn. Đối với giáo dục
là những nhân cách cụ thể. Do đó tính cụ thể trong quản l
ý đòi hỏi phải xem xét
người, sự vật, quá trình một cách cụ thể. Tính thực tiễn trong QLGD đòi hỏi người
quản lý biết đầy đủ, tường tận tình hình thực tế trong thời gian ở các không gian khác
nhau.
Các quá trình giáo dục thường diễn ra trong thời gian dài có nhiều lực lượng
cùng tham gia cùng một lúc, vì vậy QLGD luôn đòi hỏi tính khoa học cao. Kết hợp
các kế hoạch và chương trình dài hạn, ngắn hạn, toàn diện và từng mặt là yêu cầu
nghiêm ngặt của QLGD.
_ Tính tập trung dân chủ
Thực hiện nguyên tắc này là đảm bảo sự thống nhất tổ chức và trình độ cao của
hệ thống đồng thời đảm bảo phát huy cao độ các khả năng tiềm tàng, trí tuệ tập thể.
Nó thể hiện ở sự kết hợp chế độ thủ trưởng với c

Phương pháp này tác động đến hai mặt:
+ Về mặt tổ chức xây dựng những hệ thống bị QL (đối tượng QL) xây dựng
những quan hệ QL để hoàn thành mục tiêu QL, đồng thời làm cho các bộ phận hoạt
động đồng bộ, có hiệu quả.
+
Về mặt hành chính nhằm cụ thể hóa bổ xung các hình thức tác động, về mặt
tổ chức, là cho tác động nói trên mang tính chất “tác chiến” cụ thể. Nó thể hiện ở các
quyết định (không mang tính ổn định, lâu dài mà áp dụng cho một tình hình cụ thể),
thông tư, chỉ thị v.v… trong đó xác định việc gì cần làm
, yêu cầu cần làm, thời gian
làm, người phụ trách cụ thể.
- Tác động về mặt tổ chức càng chính xác, cụ thể thì tác động về mặt hành
chính - tác chiến càng bớt đi, người QL ít phải can thiệp vào quá trình quản lý thông
qua các chỉ thị, mệnh lệnh cụ thể khác.
- Hệ thống giáo dục là hệ thống rộng lớn. Để QL toàn bộ hệ thống ở các cấp
QL cấp cao (Bộ) các quyết định về mặt tác động tổ chức chiếm vị trí rất quan trọng.
Càng xuống dưới, ở các cấp QL thấp hơn, tỉ lệ các quyết định này giảm đi, nhưng các
quyết định m
ang tính chất hành chính - tác chiến lại tăng lên.
_ Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế tác động gián tiếp đến đối tượng QL trên cơ sở những cơ
chế kích thích tạo ra sự quan tâm
nhất định về lợi ích vật chất để con người tự điều
chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ cụ thể. Sự kết hợp đúng đắn các lợi ích
xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân là tác động gián tiếp mạnh mẽ làm cho con
người tích cực lao động, có thái độ tự giác đối với nhiệm vụ được giao.
Trong QLGD các phương pháp này thể hiện ở các chế độ, chính sách khuyến
khích, kích thích vật chất và thường được kết hợp với phương pháp hành chính tổ
chức trong việc xác định các định mức, tiêu chuẩn, chỉ tiêu (khoán thưởng chất
lượng).

nguy cơ, khó khăn (Threats). PP này người hiệu trưởng cần thực hiện các giai đoạn:
+ Làm sáng tỏ:
-
Mặt bằng xuất phát: số lượng, chất lượng GV, tài chính, CSVC
- Các mục tiêu cần đạt tới (trong khoảng thời gian nhất định)
- Đặc trưng các nhân tố chủ quan (mặt mạnh yếu, khả năng chuyển yếu thành
mạnh và ngược lại … )
- Đặc trưng các nhân tố khách quan (thời cơ, nguy cơ, thuận lợi khó khăn, khả
năng biến khó khăn thành thuận lợi và ngược lại …)
+ Lập ma trận ( 3 hàng, 3 cột ) như hình sau:
MẶT BẰNG XUẤT PHÁT
M Y
T Chiến lược MT Chiến lược YT
K Chiến lược MK Chiến lược YK
Như vậy bốn tình huống cơ bản: MT, YT, MK, YK. Ưng với mỗi tình huống cần
có một chiến lược bao gồm những giải pháp, biện pháp có tính hiện thực và khả thi.
Cần chú ý rằng PP ma trận trên đây có thể áp dụng cho một hoạt động nhằm
thực hiện một chủ trương cụ thể. Chẳng hạn như chủ trương giảng dạy thích hợp các
môn học yêu cầu người hiệu trưởng phải phân tích đầy đủ các nhân tố thuận lợi, khó
khăn, mặt mạnh, mặt yếu về phương diện chủ quan cũng như khách quan (lực lượng
GV, trình độ GV, đời sống GV, CSVC, điều kiện ki
nh tế -xã hội, trình độ quản lí…)
để từ đó thiết lập ma trận và chọn chiến lược thích hợp.
 Các chức năng quản lý giáo dục
Hoạt động QL thường được chuyên m
ôn hóa và gọi là chức năng QL. QLGD có
một số chức năng cơ bản sau:
- Kế hoạch hóa.
- Xác định mục tiêu và nhiệm vụ quản lý.
- Thông tin.

lĩnh vực chính trị, tư tưởng, kỹ thuật tổng hợp….từ nhận thức những chủ trương
đường lối của Đảng, Nhà nước về giáo dục, ban lãnh đạo nhà trường, chủ yếu là
hiệu trưởng sẽ biến thành những biện pháp chỉ đạo khoa học, thực tiễn và đầy sáng

tạo để tác động vào từng đối tượng của nhà trường là thầy, cô giáo, các cán bộ
QLGD, các em học sinh, khiến mọi người đều tự giác thực hiện mọi biện pháp để có
kết quả cụ thể bằng sự tiến bộ về mọi mặt - giảng dạy và học tập - của nhà
trường”[28]. Tất cả những điều đó đều đòi hỏi người lãnh đạo - QL không ngừng tự
rèn luyện bản thân m
ình về phẩm chất và năng lực cần thiết, để đạt được hiệu quả
trong hoạt động QL
1.2.3.3. Quản lý hoạt động đào tạo
 Đào tạo
Là một quá trình dạy và học mang tính chuyên biệt nhằm trang bị, rèn luyện cho
người học các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo theo yêu cầu nghề nghiệp chuyên m
ôn,
chuyên sâu. Quá trình ĐT nhằm chuẩn bị cho con người có khả năng lao động để góp
phần vào việc duy trì và phát triển cuộc sống trong cộng đồng xã hội.
 Quản lý hoạt động đào tạo
_ Quản lý ĐT là một quá trình có mục đích, có kế hoạch, vì vậy nó cần được tổ
chức và QL để đảm bảo cho quá trình ĐT vận hành đúng mục tiêu ĐT đã định. Quản
lý hoạt động ĐT nghĩa là thông qua các chức năng QL mà tác động vào các thành tố
của quá trình ĐT.
Quản lý đào tạo có hai chức năng cơ bản sau:
+ Duy trì, ổn định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng, sản phẩm ĐT
đạt được các chuẩn mực đã x
ác định trước.
+ Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế -
xã hội.


đạt được chứng chỉ ở trình độ A, B, C. Chủ yếu là dùng trong giao tiếp và thực hành
ngoại ngữ.
 Nội dung đào tạo
Nội dung ĐT là chất liệu biến đầu vào thành đầu ra. QL nội dung ĐT là xác

định khối lượng tri thức mà Người dạy cần phải chuyển giao cho Người học trong
một thời gian có giới hạn, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
Nội dung chương trình ĐT của trường NNVA là theo quy định của chương trình
học môn tiếng Anh (hệ tại chức), được ban hành theo quyết định của Bộ trưởng Bộ
GD- ĐT số 177(QĐ – TCBT vào ngày 30/01/
1993). Việc dạy và học tiếng Anh theo
phương thức tại chức là một quy trình liên tục, bao gồm 3 trình độ. Mỗi trình độ là
một hệ thống độc lập nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau:
- Trình độ A (Elementary level)
- Trình độ B (intermediate level)
- Trình độ C (Advanced level)
Sách giáo khoa dùng cho chương trình học là một bộ sách chính gồm sách bài
học và sách bài tập dùng để luyện tổng hợp các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết như bộ
sách Stream
line English gồm bốn quyển được phân chia trong chương trình học ở cả
ba cấp độ A, B, C và một giáo trình dạy kỹ năng nghe hoặc đọc như : Start with
listening, English Knowhow.
 Kế hoạch đào tạo
Kế hoạch là sự dự kiến các bước thực hiện công việc một cách có hệ thống trong
một thời hạn nhất định, căn cứ vào những điều kiện, những phương tiện cho phép,
nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Việc xây dựng kế hoạch
& tổ chức thực hiện tốt
các kế hoạch là một yêu cầu quan trọng khẳng định tính hiệu quả của các hoạt động
xã hội, đặc biệt là ở công tác QL , kể cả ở tầng vĩ mô lẫn vi mô.
Trường NNVA căn cứ vào chương trình các cấp độ A, B, C do Bộ GD-ĐT ban

có sự quyết tâm
trong học tập để tiếp thu tốt nhất những gì GV truyền đạt trong quá
trình ĐT.
 Kiểm tra và đánh giá (KT - ĐG)
KT- ĐG là khâu then chốt không thể thiếu trong quy trình ĐT, là khâu kết thúc
của một chu trình QL, nó có chức năng ĐG và thẩm định chất lượng ĐT. Việc KT -
ĐG nhằm mục đích :

_ Thu thập kịp thời các mối liên hệ ngược về các hoạt động học tập, nghiên cứu
của người học, phát hiện kịp thời những thiếu sót của người dạy và người học, để
điều chỉnh và hoàn thiện quá trình ĐT.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status