MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU 3
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG
TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 8
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐHSP - ĐẠI HỌC HUẾ 33
CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐHSP -
ĐẠI HỌC HUẾ 58
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CB Cán bộ
CNTT Công nghệ thông tin
ĐH Đại học
ĐHSP Đại học Sư phạm
GD-ĐT Giáo dục và Đào tạo
GV Giảng viên
GVC Giảng viên chính
HĐDH Hoạt động dạy học
HĐĐT Hoạt động đào tạo
NCKH Nghiên cứu khoa học
NXB Nhà xuất bản
Bảng 2.17. Mô hình SWOT nhận định, đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT 55
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 83
3
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã
và đang ảnh hưởng một cách toàn diện, sâu sắc đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội
nói chung và giáo dục - đào tạo (GD-ĐT) nói riêng. Đảng và Nhà nước đã tập trung
đưa ra những quyết sách lãnh đạo, đầu tư cho giáo dục nhằm đưa chất lượng GD-
ĐT của Việt Nam từng bước phát triển ngang tầm với khu vực và thế giới. Nghị
quyết Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định: “Về giáo dục và đào tạo, chúng ta phấn
đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng
đầu, thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [13].
Trong bối cảnh nhân loại đã và đang bước vào kỷ nguyên của công nghệ thông
tin cùng với nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ, GD-ĐT đang diễn
ra những biến đổi sâu sắc, toàn diện đến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế
giới hiện đại, làm thay đổi căn bản cách quản lý, học tập, làm việc của con người
trên qui mô toàn cầu. Trong đó, vấn đề đổi mới phương thức đào tạo và quản lý đào
tạo theo hướng hiện đại hoá, tin học hoá đã và đang trở thành một yêu cầu cấp bách.
Trong quá trình chuyển đổi này, việc ứng dụng (CNTT) trong quản lý đào tạo có
vai trò đặc biệt quan trọng.
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao cho
nền kinh tế tri thức, Chỉ thị số 58-CT/TW của Ban chấp hành trung ương Đảng
khẳng định: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và
đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học…” [2]. Để triển khai đổi mới giáo dục,
chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 nhấn mạnh: “Nhanh
chóng áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục để đổi mới phương pháp giáo dục
và quản lý” [9]. Thấy được vai trò và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT, Bộ
Giáo dục và Đào tạo ra Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT về tăng cường giảng dạy,
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Các biện pháp
tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động đào tạo ở
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế”.
5
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xác lập các biện pháp tăng cường
ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động đào tạo ở Trường ĐHSP - Đại học Huế,
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt
động đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Huế
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Trong bối cảnh Trường ĐHSP Huế đang chuyển đổi phương thức đào tạo theo
niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào
quản lý hoạt động đào tạo còn nhiều bất cập. Nếu xác định đúng năng lực ứng dụng
CNTT của CB, đánh giá đúng thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT trong công
tác tổ chức và điều hành hoạt động đào tạo, từ đó xác lập được các biện pháp tăng
cường ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động đào tạo một cách có hiệu quả sẽ
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục - đào tạo trong giai đoạn hiện nay.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt
động đào tạo ở trường ĐH.
5.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động
đào tạo tại Trường ĐHSP Huế.
5.3. Xác lập các biện pháp tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt
động đào tạo tại Trường ĐHSP Huế, đáp ứng yêu cầu đào tạo giáo viên trong giai
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XX, CNTT đã phát triển với thuật ngữ
thường dùng: Tin học, nước Mỹ sử dụng thuật ngữ truyền thống: Computer
Science. Ở Việt Nam sau khi có nghị quyết 49/CP ngày 04/08/1993 của Chính phủ
về phát triển CNTT, thì thuật ngữ CNTT ra đời (Information Technology - IT).
Theo nghị quyết 49/CP của Chính phủ: “Công nghệ thông tin là tập hợp các
phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là
kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt
động của con người và xã hội.” [10]
Đến năm 2000, thế giới bắt đầu sử dụng phổ biến thuật ngữ công nghệ thông
tin và truyền thông (Information and Communications Technology - ICT). CNTT
đã trở thành nền tảng quan trọng trong chiến lược quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát
triển mọi mặt của kinh tế-xã hội của hầu khắp các nước trên thế giới.
Là ngành khoa học ra đời muộn, nhưng rõ ràng CNTT đã và đang phát triển
với tốc độ rất nhanh. Các tài liệu, công trình, báo cáo viết về ứng dụng CNTT trong
GD-ĐT có thể kể ra như sau:
+ AEI - Australian Education International (2002), “Educating Teacher in the
use of ICTs in Mathematics and Science Education” bàn về việc sử dụng ICT trong
Toán học và Khoa học Giáo dục.
+ Tổ chức UNESCO (2003), “Teacher Training on ICT Use in Education in
Asia and the Pacific: Overview from Selected Countries” đề cập đến phương thức
8
đào tạo, chương trình đào tạo cho giáo viên ở vùng châu Á-Thái Bình Dương và các
vấn đề liên quan đến ứng dụng ICT trong việc đào tạo
+ Tổ chức UNESCO (2004), “Integrating ICT into Education” cung cấp các
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “ Đào tạo là quá trình tác động đến một
con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và
khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc
phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.” [28]
Như vậy, Đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp
hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững
những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người
đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.
Hoạt động đào tạo là hoạt động cơ bản nhất và quan trọng nhất của nhà
trường. Nó là một quá trình xã hội, một quá trình sư phạm đặc thù và tồn tại như
một hệ thống. Quá trình đó bao gồm những thành tố cấu trúc cơ bản như: mục tiêu
đào tạo, nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, hoạt động của người
dạy, hoạt động của người học, kết quả đào tạo. Để đạt được kết quả tối ưu thì người
dạy phải là người tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, dạy cho người học phương pháp
và kỹ năng tự học tập, nghiên cứu, chiếm lĩnh nội dung học vấn. Người học phải là
biết cách học, phải tự rèn luyện phương pháp và kỹ năng tự học, phải học tập tích
cực, độc lập, sáng tạo, phải học một cách say mê, hứng thú, phát huy cao độ nội lực
và tham gia mọi hoạt động trí tuệ với tinh thần trách nhiệm ngày càng cao.
1.2.2. Các yếu tố tham gia vào hoạt động đào tạo
1.2.2.1. Mục tiêu đào tạo
Mục tiêu đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được hình dung dưới dạng
mô hình con người cần đào tạo cùng những thuộc tính cơ bản của người đó. Mô
hình đó là sự phản ánh vào trong ý thức con người nhu cầu về một kiểu người nhất
định, một mô hình về nhân cách nhất định. [14]
10
Mục tiêu đào tạo được ví như “đơn đặt hàng của xã hội”, phản ánh trước sản
phẩm dự kiến của hoạt động đào tạo. Mục tiêu đào tạo vừa là cơ sở xuất phát của
quá trình đào tạo vừa là chuẩn để đánh giá kết quả của hoạt động đào tạo. Mục tiêu
này quy định tính chất và phương hướng của quá trình, quy định nội dung, phương
tập cho các ngành đào tạo của trường trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành” [23]. Một chương trình đào tạo có thể hàm chứa kiến
thức từ một ngành hoặc từ một số ngành đào tạo.
1.2.2.4. Phương pháp, phương tiện đào tạo
Phương pháp đào tạo là những cách thức, biện pháp hoạt động phối hợp thống
nhất giữa người dạy và người học để giúp cho người học tiếp nhận những phẩm
chất chính trị, đạo đức tốt, lĩnh hội những kiến thức và năng lực thực hành nghề
nghiệp tương xứng đáp ứng mục tiêu đào tạo đề ra.
Theo Luật giáo dục: “Phương pháp đào tạo trình độ đại học phải coi trọng việc
bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư
duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia
nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng.” [18]
Phương tiện đào tạo là các dụng cụ, thiết bị mà người dạy và người học sử
dụng trực tiếp trong quá trình đào tạo nhằm đạt được mục đích đào tạo đề ra. Mỗi
nội dung đào tạo đòi hỏi các phương pháp và phương tiện tương ứng.
1.2.2.5. Người dạy với hoạt động dạy
Theo Luật giáo dục: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục
trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn,
nghiệp vụ; Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp.” [18]
Trong quá trình dạy học, người dạy giữ vai trò chủ đạo, thể hiện ở chỗ người
dạy xác định mục tiêu, nội dung dạy học, thiết kế và tổ chức hoạt động, dự kiến các
tình huống có thể xảy ra và dự kiến phương hướng, cách thức giải quyết tương ứng.
12
Chức năng chính của người dạy là người truyền thụ nội dung kiến thức, người
tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người học hoạt động, để tự người
học thu lượm tri thức, chiếm lấy làm tài sản sở hữu của mình.
Ngoài ra, người dạy còn đóng vai trò là trọng tài, cố vấn, kết luận về các cuộc
tranh luận, đối thoại trò - trò, trò thầy, để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do
người học tìm ra. Cuối cùng, người dạy là người kiểm tra, đánh giá kết quả của
đạt được những mục tiêu quản lý mà trong đó mục tiêu kinh tế-xã hội là cơ bản”[1].
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học: “Quản lý là tổ chức, điều
khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [29].
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý
trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn
lực (nhân lực, vật lực và tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một
cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [15, tr.8].
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có
tổ chức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức
năng và phương tiện quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ
hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra” [26, tr.574].
Như vậy, có thể hiểu: Quản lý hoạt động đào tạo là quá trình tác động có hướng
đích (huy động, điều phối, tham gia, can thiệp, hướng dẫn, giúp đỡ, điều chỉnh ) của
chủ thể quản lý đối với tập thể giảng viên, cán bộ công chức, sinh viên và các thực thể
hữu quan ngoài trường hướng vào việc đẩy mạnh hoạt động đào tạo của nhà trường
mà tiêu điểm hội tụ là hoạt động dạy - học, hoạt động trung tâm của nhà trường.
1.3.1.2. Chức năng quản lý
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về chức năng quản lý. Theo Nguyễn Ngọc
Quang: “Chức năng quản lý là dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản
lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định” [17].
Theo giáo trình khoa học quản lý do Đỗ Hoàng Toàn làm chủ biên (2000):
“Chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ thể quản lý phải thực hiện để
đạt mục đích và mục tiêu quản lý đề ra” [25].
14
Như vậy, có thể hiểu: Chức năng quản lý là hình thức tồn tại của các tác động
quản lý, là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối
tượng quản lý.
Chức năng quản lý gắn liền với sự phân công và hợp tác lao động trong quá
trình lao động. Khi nghiên cứu, phần lớn các tác giả đề cập đến bốn chức năng chủ
yếu, cơ bản có liên quan mật thiết với nhau là:
- Nhà quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của tổ chức.
- Đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với những chuẩn mực đặt ra.
- Nhà quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch.
- Nhà quản lý hiệu chỉnh, sửa lại những chuẩn mực nếu thấy cần thiết.
Theo tác giả Trần kiểm, Các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin và
lập thành chu trình quản lý. Các chủ thể quản lý khi triển khai hoạt động quản lý
đều thực hiện chu trình này [16, tr.46].
Sơ đồ 1.1. Chu trình quản lý
1.3.2. Bộ máy quản lý đào tạo
Hoạt động quản lý được tổ chức và điều phối bởi các chủ thể quản lý, có trách
nhiệm phân bố nhân lực và nguồn lực, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn
bộ tổ chức để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích. Theo quy định của
Điều 19, Điều lệ trường đại học [23], Cơ cấu tổ chức của trường đại học bao gồm:
- Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng;
- Hội đồng khoa học và đào tạo;
- Các phòng chức năng;
- Các khoa và bộ môn trực thuộc trường;
Kế
hoạch hóa
Tổ
chức
Chỉ
đạo
Kiểm
tra
Thông tin phục vụ quản lý
16
- Các bộ môn thuộc khoa. Một số trường đại học chuyên ngành có thể chỉ
có các khoa hoặc bộ môn trực thuộc trường;
- Các tổ chức khoa học và công nghệ như viện, trung tâm, các cơ sở phục
có các quy trình cụ thể cho từng hoạt động đó.
Nội dung quản lý hoạt động đào tạo bao gồm: Quản lý mục tiêu, nội dung dạy
học chính là quản lý việc xây dựng và thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình
đào tạo; quản lý người dạy và người học chính là quản lý nhân sự và việc thực hiện
các nhiệm vụ giảng dạy, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ
giáo viên và các nhiệm vụ học tập, rèn luyện, việc chấp hành các điều lệ, nội quy,
quy chế của người học; quản lý các điều kiện để đảm bảo chất lượng đào tạo
chính là quản lý đội ngũ cán bộ các phòng ban, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào
tạo, mối quan hệ giữa nhà trường và các đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo, các hoạt
động ngoài giờ lên lớp
Nội dung cụ thể quản lý hoạt động đào tạo có thể nêu lên như sau: Quản lý
tuyển sinh; Quản lý thực hiện đào tạo bao gồm quản lý người học, quản lý người
dạy, quản lý chương trình đào tạo, xếp thời khóa biểu, đăng ký môn học, tổ chức
thi, quản lý điểm, xét ngừng học, thôi học, quản lý kiến tập, thực tập, quản lý khối
lượng giảng dạy, quản lý học bổng, học phí, lệ phí, quản lý phòng học và quản lý
tốt nghiệp, văn bằng – chứng chỉ.
1.3.4. Phương tiện quản lý hoạt động đào tạo
Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Phương tiện quản lý là những gì chủ thể quản
lý sử dụng như một công cụ trong quá trình hoạt động của mình.” [26]
Theo tác giả Nguyễn Phúc Châu, các phương tiện quản lý bao gồm: chế định
xã hội, bộ máy tổ chức và nhân lực, nguồn tài lực – vật lực, môi trường hoạt động
và hệ thống thông tin. [8]
Như vậy, có thể hiểu: phương tiện quản lý hoạt động đào tạo của chủ thể
quản lý bao gồm: chế định GD-ĐT, bộ máy tổ chức và nhân lực của hoạt động đào
tạo, nguồn tài lực – vật lực cho hoạt động đào tạo, hệ thống thông tin và môi
trường hoạt động đào tạo.
18
+ Chế định GD-ĐT
Chế định GD-ĐT là phương tiện có tính pháp lý như luật pháp, pháp lệnh,
nghị quyết, các chính sách, các văn bản của các cơ quan có chức năng và thẩm
Môi trường là những tác động thuận lợi hoặc không thuận lợi đối với hoạt
động đào tạo. Môi trường tự nhiên bao gồm địa hình, khí hậu, tài nguyên và môi
trường xã hội bao gồm nhu cầu, yêu cầu xã hội, cơ hội và thách thức, mối quan hệ
và hợp tác, sự cạnh tranh
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên cần phải biết tận dụng và phát
huy những mặt tích cực của môi trường vì môi trường chính là phương tiện mang
tính khách quan để thực hiện mục đích đào tạo.
+ Hệ thống thông tin
Hệ thống thông tin là những hiểu biết về chế định GD-ĐT, về năng lực hoạt
động của bộ máy tổ chức và nhân lực, về nhu cầu, khả năng đáp ứng và hiệu suất sử
dụng nguồn tài lực - vật lực, về những tác động của môi trường.
Để quản lý hoạt động đào tạo một cách có hiệu quả các chủ thể quản lý cần
phải tận dụng tối đa các phương tiện quản lý. Cụ thể là: Nâng cao hiệu lực của chế
định GD-ĐT; Tạo động lực cho bộ máy tổ chức và nhân lực hoạt động; Huy động
và sử dụng có hiệu quả nguồn tài lực – vật lực; Phát huy và tận dụng sức mạnh của
môi trường; Nâng cao chất lượng của hệ thống thông tin trong hoạt động đào tạo.
1.4. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
1.4.1. Khái niệm Công nghệ thông tin
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “công nghệ thông tin là thuật ngữ chỉ
chung cho tập hợp các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến khái niệm thông
tin và các quá trình xử lí thông tin. Theo nghĩa đó, CNTT cung cấp cho chúng ta các
quan điểm, phương pháp khoa học, các phương tiện, công cụ và giải pháp kĩ thuật
hiện đại chủ yếu là các máy tính và phương tiện truyền thông nhằm tổ chức, khai
20
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt
động kinh tế, xã hội, văn hoá của con người.” [28]
Theo Điều 4, Luật công nghệ thông tin của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học,
công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu
1.4.3.1. Hạ tầng CNTT
Điều 4, Luật công nghệ thông tin của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt nam [20] đưa ra cách giải thích cho các thuật ngữ như sau:
- Hạ tầng thông tin là hệ thống trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất,
truyền dẫn, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số, bao gồm mạng
viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính và cơ sở dữ liệu.
- Môi trường mạng là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền
đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua hạ tầng thông tin.
- Phần cứng là sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh; bộ phận của thiết bị số;
cụm linh kiện; linh kiện.
- Thiết bị số là thiết bị điện tử, máy tính, viễn thông, truyền dẫn, thu phát
sóng vô tuyến điện và thiết bị tích hợp khác được sử dụng để sản xuất,
truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số.
- Phần mềm là chương trình máy tính được mô tả bằng hệ thống ký hiệu,
mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định.
Như vậy, có thể hiểu: Hạ tầng CNTT bao gồm máy tính điện tử, hệ thống
mạng, phần mềm máy tính và các thiết bị điện tử viễn thông.
Theo giáo trình “Công nghệ phần mềm” của Nguyễn Thanh Bình [7], tiêu
chuẩn của sản phẩm phần mềm bao gồm: Tính đúng đắn (thực hiện đúng các đặc tả
về chức năng); tính bền vững (hoạt động tốt trong những điều kiện sử dụng khác
nhau); tính hiệu quả (sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên); tính thân thiện (dễ sử
dụng); tính dễ kiểm tra; tính dễ bảo trì; tính khả chuyển (dễ sử dụng trong các môi
trường mới); tính bảo mật Ngoài các tiêu chuẩn trên, tuỳ theo công dụng mà sản
phẩm phần mềm cần phải được bổ sung các tiêu chuẩn sau: tính phổ dụng (áp dụng
22
cho nhiều lĩnh vực theo nhiều chế độ làm việc khác nhau); tính liên tác (có thể gắn
hệ thống này với hệ thống khác); tính súc tích (độ gọn tính theo số mã dòng lệnh)
1.4.3.2. Năng lực ứng dụng CNTT
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học [29], năng lực được hiểu
theo hai nghĩa:
Bên cạnh đó, khả năng sử dụng ngoại ngữ trong lĩnh vực CNTT là một trong
những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực ứng dụng CNTT. Theo nội dung
Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin và truyền thông đến 2020: “Đào tạo
công nghệ thông tin và truyền thông tại các trường đại học trọng điểm đạt trình độ
và chất lượng tiên tiến trong khu vực ASEAN cả về kiến thức, kỹ năng thực hành
và ngoại ngữ”. [24]
1.4.4. Nội dung ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động đào tạo
Thực hiện Chỉ thị số 56/2008/CT-BGDĐT của Bộ GD-ĐT: “Các trường chuẩn bị
đủ các điều kiện cần thiết và lộ trình hợp lý để chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ
vào năm học tới 2009-2010 hoặc muộn nhất là năm học 2010-2011”[5]. Trong quá trình
chuyển đổi này, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo càng có vai trò
đặc biệt quan trọng. Vấn đề đổi mới phương thức đào tạo và quản lý đào tạo theo hướng
hiện đại hoá, tin học hoá đã và đang trở thành một yêu cầu cấp bách.
Nội dung ứng dụng CNTT trong quản lý hoạt động đào tạo chính là việc ứng
dụng CNTT vào tất cả các yếu tố tham gia trong hoạt động đào tạo, từ mục tiêu đào
tạo, nội dung chương trình đào tạo, đến phương pháp đào tạo, người dạy, người học
nhằm đạt được kết quả đào tạo như mong muốn. Đồng thời việc ứng dụng CNTT
cũng phải áp dụng vào tất cả các nội dung của quá trình đào tạo từ khâu tuyển sinh,
đến tổ chức thực hiện đào tạo và công nhận tốt nghiệp. Nội dung cụ thể như sau:
+ Quản lý tuyển sinh: thu nhận hồ sơ dự tuyển; lập danh sách, phân phòng thi;
tổ chức thi tuyển, chấm thi, tổ chức xét tuyển, công bố kết quả trúng tuyển
+ Quản lý hoạt động đào tạo với các nội dung chủ yếu sau:
24
- Quản lý người học: hồ sơ sinh viên, phân lớp học sinh viên, quản lý kết
quả điểm rèn luyện, khen thưởng, kỷ luật, chuyển lớp, chuyển trường,
đình chỉ học, thôi học, nghỉ học
- Quản lý nhân sự: hồ sơ giảng viên, đơn vị công tác, các học phần giảng
viên có thể đảm nhận
- Quản lý chương trình đào tạo: khung chương trình đào tạo, kế hoạch đào
tạo theo từng ngành, từng khóa, từng lớp học