LUẬN VĂN:
Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý của chính quyền
tỉnh An Giang
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Một trong những thách thức lớn mà ngày nay Chính phủ các nước đang phát
triển phải đối mặt là việc cải cách hành chính, đổi mới phương thức lónh đạo và
quản lý như thế nào để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ mỏy nhà nước,
phù hợp với yêu cầu của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế thế giới và sự bùng nổ của
cách mạng thông tin. Theo kinh nghiệm của các nước đi trước, ứng dụng CNTT vào
trong hoạt động của CQNN, xây dựng CPĐT chính là giải pháp chiến lược cho
Chính phủ các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, con đường xây dựng CPĐT không phải là đơn giản. Theo James
Yong, Giám đốc các chương trỡnh khu vực cụng (Đông Nam Á) của Cisco System,
đó cú đến 35% CPĐT trên toàn thế giới bị thất bại hoàn toàn, 50% thất bại một
phần. Nguyên nhân chủ yếu là do sự trỡ trệ của người dân, công chức và áp dụng
rập khuôn mô hỡnh cỏc nước khác [6]. Con đường xây dựng CPĐT không thể nóng
Trước tỡnh hỡnh chung, việc ứng dụng CNTT trong quản lý chớnh quyền tỉnh
An Giang - là tỉnh ở miền Tây Nam Bộ, thuộc đồng bằng sông Cửu Long - cũng bị
những ảnh hưởng tương tự. Mặc dù, chính quyền tỉnh An Giang cũng đó và đang
triển khai những kế hoạch, chương trỡnh ứng dụng CNTT riêng cho tỉnh nhưng
nhỡn chung vẫn cũn chậm và chưa có sự đột phá.
Nhận thức rừ những vấn đề trên, là một cán bộ quản lý trong lĩnh vực cụng
nghệ thụng tin của Trường Đại học An Giang, đơn vị được coi là đi đầu trong việc
ứng dụng CNTT trong tỉnh An Giang và bản thân được đào tạo trong lĩnh vực quản
lý nhà nước, tác giả chọn đề tài “Giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin trong quản lý của chính quyền tỉnh An Giang” làm luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành Quản lý kinh tế.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu liờn quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, vai trũ của CNTT ngày càng được nâng cao và
chiếm vị trí quan trọng trong mọi lĩnh vực, ngành nghề nên vấn đề ứng dụng CNTT
trong quản lý của nhà nước được đặc biệt quan tâm. Các cơ quan Đảng, Nhà nước
cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố thuộc Trung ương đều có những chương
trỡnh ứng dụng CNTT riờng cho mỡnh.
Điển hỡnh một số tài liệu, đề tài nghiên cứu, các đề án lớn có liên quan đến
việc ứng dụng CNTT trong quản lý của CQNN từ năm 2001 đến nay như:
- Đặng Hữu (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị Quốc gia.
- Đổi mới công tác thông tin phục vụ quản lý kinh tế của Chính phủ trong
giai đoạn hiện nay (2001), Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý của Nguyễn Văn
Hũa, Học viện Chớnh trị quốc gia Hồ Chớ Minh
- Ứng dụng cụng nghệ thụng tin phục vụ phỏt triển kinh tế - xó hội tỉnh
Vĩnh Phỳc – Thực trạng và giải pháp (2006), Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản
lý của Nguyễn Bá Hiến, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2005 (Đề
án 112).
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào con người, các chính
sách, các chương trỡnh ứng dụng có liên quan đến ứng dụng CNTT trong quản lý
chớnh quyền của chính quyền tỉnh An Giang.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào nghiên cứu việc ứng dụng
CNTT trong khối các cơ quan quản lý nhà nước của chính quyền tỉnh An Giang (bỏ
Formatted: Bullets and Numbering
qua khối Hội đồng nhân dân) và một số giải pháp, chính sách có liên quan. Thời gian
nghiên cứu đánh giá của luận văn từ năm 2001 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu khoa học của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mỏc-
Lờnin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp
luật của nhà nước và kế thừa có chọn lọc các công trỡnh nghiờn cứu. Cụ thể, luận
văn sẽ căn cứ vào:
o+ Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/8/2007 của Hội nghị lần thứ năm
của Ban chấp Trung ương khóa X, về đẩy mạnh cải cách hành
chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ mỏy nhà nước.
o+ Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về
ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN.
o+ Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 của Bộ Bưu chính -
Viễn thông.
o+ Kế hoạch phỏt triển kinh tế - xó hội 5 năm, 2006 - 2010 của tỉnh An
Giang được ban hành theo Quyết định số 1958/QĐ-UBND, ban
hành ngày 02/10/2006.
o+ Tài liệu về Chính phủ điện tử của UNDP – APDIP.
- Phương pháp nghiên cứu của luận văn chủ yếu theo các phương pháp:
khảo sát, thống kê, so sánh, phân tính, tổng hợp, diễn giải, thực nghiệm, …. và kế thừa
kết quả của một số nghiên cứu khác để làm rừ cỏc vấn đề của luận văn nhằm đảm bảo
các giải pháp đề ra đạt được hiệu quả như mong muốn.
vấn đề mang tính “toán học”.
- Giai đoạn 2 (1981-1989): Đây là giai đoạn máy tính cá nhân có giao diện
đồ họa xuất hiện và được phổ biến trong xó hội. Cùng với sự phát triển của các
ngành khoa học kỹ thuật khác, máy tính khả năng lưu trữ và xử lý của mỏy tớnh
ngày càng tăng. Đặc biệt, sự phát triển của mạng máy tính và kỹ thuật số đó bước
đầu xóa bỏ rào cản “không gian” giữa các máy tính, đưa Khoa học máy tính lên một
tầm cao mới. Một bộ phận của Khoa học máy tính đó phát triển thành Tin học
(Informatics), với đối tượng nghiên cứu là thông tin và sử dụng công cụ chủ yếu là
máy tính điện tử. Nhiệm vụ của Tin học lúc này là nghiên cứu việc lưu trữ và xử lý
thông tin một cách tự động.
- Giai đoạn 3 (cuối năm 1989 đến nay): Sự phát triển của các công nghệ về
máy tính, mạng máy tính và các phần mềm ứng dụng đó đạt đến đỉnh cao. Cựng với
sự hỡnh thành và phỏt triển của hệ thống mạng máy tính dùng chung cho toàn thế
giới (Internet), khả năng ứng dụng của máy tính và mạng máy tính đó gần như
không có giới hạn. Chúng đó trở thành phương tiện, công cụ không thể thiếu của
các hệ thống thông tin, hệ thống tổ chức. CNTT đó ra đời với tư cách là một ngành
khoa học ứng dụng hiện đại.
Việc chia các giai đoạn trên chỉ mang tính tương đối. Bởi lẽ, quỏ trỡnh phát
triển từ Khoa học máy tính lên Tin học, rồi thành CNTT là một quỏ trỡnh phỏt triển
khỏ phức tạp, liờn quan trực tiếp đến sự phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực khác
nhau.
Cho đến nay, vẫn cũn nhiều tranh cói về mối quan hệ giữa Khoa học mỏy
tớnh, Tin học và CNTT. Vỡ vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về CNTT. Một số
khái niệm CNTT phổ biến hiện nay như:
- Theo UNESCO, CNTT bao gồm việc sử dụng các ứng dụng máy tính,
công nghệ viễn thông và tin học trong việc truy cập và cung cấp thông tin riêng và
chung. Nó cho phép mọi người giao tiếp và trao đổi thông tin giới hạn trong không
gian số (cyberspace), làm việc tại văn phũng ảo và thiết lập một xó hội tri thức. [47,
tr.34]
thuật ngữ CNTT trong Luận văn sẽ được hiểu theo quan điểm này. Điểm cần lưu ý
là CNTT bao gồm cả Ngành công nghệ, công nghiệp CNTT và việc ứng dụng
CNTT (thường gắn liền với một hệ thống tổ chức hay hệ thống thông tin nào đó).
Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn sẽ tập trung vào nội dung của ứng dụng
CNTT trong hoạt động của CQNN.
1.1.2. Đặc điểm của công nghệ thông tin
- CNTT là ngành công nghệ mũi nhọn
Công nghệ mũi nhọn ở đây được hiểu là cái chóp của một kim tự tháp, có
nghĩa là nó là ngành công nghệ được xây dựng trên thành quả của nhiều công nghệ
khác và của những lý thuyết khoa học hiện đại. Do vậy, muốn xây muốn xây dựng
và phát triển một công nghệ mũi nhọn hoàn chỉnh phải phát triển từng bước và phải
lựa chọn thế đứng riêng của mỡnh. Mặt khác, đặc điểm của công nghệ mũi nhọn là
luôn luôn nặng về tri thức, đó cũng là đặc điểm của CNTT. Vỡ vậy, để phát triển
CNTT luôn cần nguồn nhân lực có trỡnh độ cao.
- CNTT là ngành có tốc độ phát triển và phổ biến nhanh nhất
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, chưa có ngành khoa học, công nghệ
nào có tốc độ phát triển và phổ biến nhanh như CNTT. Cú thể hỡnh dung sự phát
triển của CNTT qua định luật Moore, biểu tượng năng lực và sự phát triển của
CNTT. Theo định luật Moore, khả năng tính toán của một bộ vi xử lý điện tử cứ sau
18 tháng lại tăng lên gấp đôi, trong khi giá cố định (hoặc thấp hơn). Điều này là cơ
sở để giải thích cho việc thay đổi nhanh chóng trong ngành công nghiệp máy tính.
Hiện nay, định luật này đó được sửa lại là với thời gian là 24 tháng và hóng Intel
vẫn đang tiếp tục duy trỡ định luật này [49]. Theo dự đoán của các chuyên gia định
luật Moore vẫn cũn đúng trong 1-2 thập kỉ nữa.
Thật vậy, kể từ khi máy tính cá nhân đầu tiên xuất hiện (1980) đến nay đó cú
hơn 1 tỉ máy tính đang được sử dụng trên toàn thế giới (Mỹ, châu Âu, và Nhật
chiếm 58%). Dự đoán số lượng này sẽ cũn nhõn đôi trong 6 năm nữa nhờ tốc độ
tăng trưởng hàng năm đạt 12% do nhu cầu ngày một cao của người dùng tại các
nước đang phát triển; Đến năm 2014, 70% trong số 1 tỉ PC tiếp theo sẽ thuộc về các
ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại, tăng
khả năng cạnh tranh của các ngành nghề thông qua hệ thống thương mại điện tử,
dịch vụ truyền thông đa phương tiện.
Ngày nay, CNTT vẫn đang tiếp tục phát triển và phổ biến ở mọi nơi, mọi
lĩnh vực, góp phần thúc đẩy nhanh quá trỡnh tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thay đổi cơ cấu xó hội, phong cỏch sống, học tập và làm việc của con
người. [8, tr.28]
- CNTT là một công nghệ có nhiều tầng lớp [40, tr.53]
Trong CNTT, nếu tính từ người sử dụng (người dùng đầu cuối) đến khâu sản
xuất các thiết bị, vi mạch, ta sẽ thấy bên trong có nhiều tầng lớp và lớp trên được
xây dựng dựa trên các lớp phía dưới, chúng có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về
công nghệ. Càng lên cao, số lượng công nghệ có xu hướng càng tăng, sự phát triển
của công nghệ của lớp này cũng thúc đẩy sự phát triển các công nghệ tương ứng ở
lớp khác và ngược lại.
Có thể chia CNTT thành năm tầng lớp theo sơ đồ sau:
Hỡnh 1.1: Sơ đồ về sự phân tầng của CNTT
(i) Lớp ứng dụng tích hợp, đây là lớp trên cùng gồm các ứng dụng được phát
triển riêng cho từng cơ quan, xí nghiệp nào đó. Các ứng dụng này do đơn vị sử dụng
tự phát triển hoặc đặt gia công bên ngoài. Chúng được phát triển dựa trên một hệ
quản trị CSDL nào đó (MySQL, PosgreSQL, Oracle, SQL Server, DB2, …), thường
hoạt động qua mạng và có xu hướng phát triển theo dạng tích hợp, dùng chung cho
cả hệ thống.
(ii) Lớp ứng dụng cơ bản, là lớp đa dạng và phổ biến nhất hiện nay. Bao gồm
các ứng dụng ở mức đơn giản, tổng quát để xử lý văn bản (OpenOffice, Microsoft
Office, …) hoặc tính toán và quản lý đơn giản (SPSS, Microsoft Project, …); và cao
hơn là các ứng dụng chuyên dùng dành riêng cho một lĩnh vực nào đó như tính toán
công nghiệp hay tính toán khoa học (SPSS, MathType, Matlab…)
(iii) Lớp phát triển ứng dụng, các ứng dụng của lớp này thường được dùng
(2)
ứng dụng mức
chuyên dùng trong lĩnh vực, ngành nghề,
(3)
ứng dụng mức có sử dụng hệ quản trị
CSDL và
(4)
ứng dụng tích hợp cho cả hệ thống.
Do công nghệ của các tầng lớp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi lựa
chọn công nghệ ứng dụng cần lưu ý các điều kiện sẵn có và xu hướng công nghệ
của các tầng có liên quan.
- Khả năng số hóa thông tin, tổ chức, lưu trữ thông tin trên diện tích nhỏ;
truy xuất và xử lý thụng tin một cách nhanh chóng và chính xác
Đây là một đặc trưng của máy tính điện tử nói riêng và CNTT nói chung. Có
thể hiểu số hóa thông tin là khả năng biểu diễn thông tin dưới dạng số 0 và 1, và lưu
lại trên các thiết bị lưu trữ của máy tính. Các thông tin được lưu trữ dưới dạng này
gọi là thông tin số. Ưu điểm của thông tin số chính là có thể mô tả chính xác thông
tin, truy xuất nhanh và lưu trữ được trên diện tích nhỏ.
Ngày nay, khả năng lưu trữ và tốc độ xử lý thụng tin của cỏc thiết bị CNTT
ngày càng tăng, trong khi kích thước của thiết bị ngày càng nhỏ. Khả năng lưu trữ
của các thiết bị lưu trữ đó lờn đến TB (TegaByte) và tốc độ tính toán đó đạt hàng tỉ
phép tính trên giây. Có thể đơn cử vài ví dụ sau:
Giả sử một trang giấy A4 có 40 dũng, một dũng 80 ký tự thỡ một quyển sách
100 trang A4 khi lưu trữ sẽ chiếm khoảng 625 KB (KiloByte) hoặc một tấm ảnh số
trung bỡnh sẽ chiếm khoảng 1 MB (MegaByte). Như vậy, chỉ với một ổ cứng 1 TB
(1 TB = 1 x 1024
GB = 1 x 1024
2
Như đó trỡnh bày phần khỏi niệm, thông tin chính là đối tượng xử lý chủ yếu
của CNTT. Cựng với sự phỏt triển của xó hội, đặc biệt là sự phát triển của cách
mạng khoa học và công nghệ, hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm khụng cũn là
cụng việc của riờng người lao động, mà của cả một bộ phận ngày càng tăng lên
những người trực tiếp quản lý quỏ trỡnh sản xuất, những kỹ sư, những nhà công
nghệ. Các sản phẩm được tạo ra từ CNTT có hàm lượng trí tuệ cao ngày càng tăng.
Trong lĩnh vực phần mềm của CNTT, sản phẩm tạo ra có hàm lượng giá trị do trí
tuệ kết tinh bên trong sản phẩm có thể đạt tới 80 - 90% tổng giá trị sản phẩm.
1.1.3. Vai trũ của cụng nghệ thụng tin
Từ những năm 80 của thế kỉ XX, các nước phát triển đó bắt đầu bước vào
một nền văn minh mới được gọi là Văn minh tri thức (hay Văn minh thông tin), lấy
tri thức làm nguồn lực phát triển, khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp.
Các nước sớm bước vào nền Văn minh tri thức đó xỏc định bốn trụ cột của nền văn
minh này đó là: CNTT, công nghệ nguyên liệu mới, công nghệ năng lượng mới và
công nghệ sinh học. Trong đó, CNTT được xác định là nhân tố quan trọng nhất cho
sự phát triển và tạo dựng nền Văn minh tri thức. CNTT đóng vai trũ là cụng nghệ
chỡa khoỏ trong hệ thống cỏc cụng nghệ khác, vừa là tác nhân gắn kết các công
nghệ lại với nhau, vừa là động lực phát triển chúng.
Đối với các nước đang phát triển, nền Văn minh tri thức tạo ra những cơ hội
mới nhưng đồng thời cũng có những thách thức không nhỏ. Các nước đang phát
triển đó nhận định rằng, khoảng cách phát triển chính là do khoảng cách về tri thức,
rút ngắn được khoảng cách về tri thức sẽ rút ngắn được khoảng cách về phát triển.
Vỡ vậy, nhiều nước đó đề ra chiến lược đi tắt vào nền Văn minh tri thức, lấy ứng
dụng và phát triển CNTT làm giải pháp hàng đầu để rút ngắn khoảng cách với các
nước phát triển, tăng tính cạnh tranh của quốc gia trước sự hội nhập kinh tế.
Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ chính trị đó nờu rừ, ứng dụng và phát triển CNTT
ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn
dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành
kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả
Một dịch vụ ngân hàng được thực hiện tại chi nhánh tốn 1,14 đôla Mỹ,
nhưng qua Internet chỉ tốn có 1 cent (1/100 đôla). Một dịch vụ đăng ký và bỏn vộ
mỏy bay trung bỡnh tốn 10 đôla Mỹ nhưng qua Internet chỉ cũn 1 đô la Mỹ.
Chữa bệnh trên mạng (hướng dẫn, khám bệnh, chẩn đoán, điều trị từ xa)
đang trở thành một hỡnh thức phổ biến, có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực cho
dân cư ở các vùng cũn nghốo nàn, lạc hậu nằm xa cỏc trung tõm y tế.
Giáo dục, đào tạo từ xa đang giúp nâng cao chất lượng các chương trỡnh
giảng dạy và học tập. Người đi học ở khắp mọi nơi có thể thông qua mạng để đăng
ký và tham gia học tập. [8, tr.28]
- CNTT là một ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng bỡnh quõn
khoảng 8% (ở Việt Nam là 23%), tạo ra nhiều việc làm mới. Ớ các nước có CNTT
phát triển, tỷ trọng riêng của ngành công nghiệp CNTT chiếm 10-15% GDP. Mỗi
quốc gia đều chọn hướng phát triển CNTT riêng cho mỡnh. Chẳng hạn như
Malayxia chọn phát triển mạnh linh kiện điện tử, Ấn Độ phát triển công nghiệp
phần mềm, Trung Quốc chiếm giữ sản xuất thiết bị CNTT, …. Theo các chuyên gia
tư vấn, định hướng phát triển CNTT ở Việt Nam nên tập trung vào lĩnh vực gia
công phần mềm, đặc biệt là đào tạo đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng cao, đây
có thể là hướng đi đúng nhất hiện nay. Bởi lẽ về lĩnh vực sản xuất phần cứng là các
lĩnh vực độc quyền về công nghệ và có xu hướng chia nhỏ ở nhiều quốc gia (theo
xu hướng phân công lao động của quá trỡnh toàn cầu húa); Về lĩnh vực phần mềm,
dẫn đầu là Ấn Độ, kế là Trung Quốc. Vỡ vậy, Chính phủ Việt Nam cần ưu tiên các
chính sách về phát triển phần mềm, kết hợp với việc đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao.
- CNTT cũn là cơ sở cho quá trỡnh hội nhập và toàn cầu húa kinh tế. Cùng với
sự phát triển của Internet và viễn thông, CNTT đó từng bước xóa bỏ đi các rào cản
không gian về mặt vật lý giữa cỏc vựng, miền hay giữa cỏc quốc gia với nhau. Như đó
trỡnh bày, ngày nay, việc mua bán hay học tập, hội thảo qua mạng đó trở nờn phổ biến
và hơn thế nữa, một người ở quốc này có thể làm thuê cho một công ty ở quốc gia khác
đó khụng cũn là vấn đề quá xa lạ. Với mạng internet và các dịch vụ do CNTT tạo ra,
về điều hành và hoạch định chính sách. Thông qua internet và một số phương tiện
truyền thông khác, việc phổ biến rộng rói thụng tin sẽ hỗ trợ việc trao quyền cho người
dân cũng như quá trỡnh đưa ra quyết định của CQNN. Tớnh minh bạch của thụng tin
Ứng
dụng
Nhân
lực
Hạ
tầng
Công
nghiệp
Chính phủ Doanh nghiệp
Người sử dụng
Môi trường hỗ trợ và
thúc đẩy phát triển
khụng chỉ thể hiện sự dõn chủ mà cũn gầy dựng nờn sự tin cậy giữa những nhà lónh
đạo và tính hiệu quả trong điều hành; Đồng thời cũng góp phần chống quan liêu và
tham nhũng trong bộ máy CQNN.
Như vậy, đối với Chính phủ nói chung và CQNN nói riêng, CNTT chính là
công cụ, phương tiện để nâng cao vai trũ, hiệu quả và chất lượng quản lý của mỡnh
bằng cỏch cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch công nhằm đem lại lợi ích tốt
nhất cho người dân; CNTT cũn tăng cường năng lực quản lý, điều hành có hiệu quả
và nâng cao tính minh bạch trong các CQNN nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực
kinh tế, xó hội.
Ngay nay, lĩnh vực lónh đạo quản lý cũng như các lĩnh vực khác đều đang
chịu sự tác động của CNTT. CNTT có thể hỗ trợ công tác quản lý nâng cao hiệu
Nhưng có thể nói, văn kiện có tầm quan trọng đặc biệt, có giá trị to lớn và
lâu dài trong việc chỉ đạo, tổ chức việc xây dựng và thực hiện các chiến lược, kế
hoạch và dự án ứng dụng và phát triển CNTT chính là Chỉ thị 58-CT/TW ngày
17/10/2000 của Bộ chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chỉ thị đó khẳng định: “Công nghệ
thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số
ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xó hội
của thế giới hiện đại…”.
Theo Chỉ thị 58-CT/TW, ứng dụng CNTT là quỏ trỡnh đưa CNTT vào các
lĩnh vực KT-XH nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh
thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại
hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ
trợ có hiệu quả cho quỏ trỡnh chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phũng và tạo khả năng đi
tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH.
Chỉ thị 58-CT/TW đó là cơ sở cho sự ra đời của Luật CNTT - Bộ luật đầu
tiên trong lĩnh vực CNTT, được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị
quyết số 67/NQ-QH, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển
CNTT của đất nước - và sau đó là Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007
của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của CQNN.
Theo Nghị định 64/2007/NĐ-CP, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động của CQNN là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của CQNN
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của CQNN và giữa các
CQNN, trong giao dịch của CQNN với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải
cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch.
Với quan điểm ứng dụng CNTT trong cơ hoạt động của CQNN như trên,
Nghị định 64/2007/NĐ-CP đó đặt ra nhiệm vụ hiện đại hóa nền hành chính và tiến
đến xây dựng CPĐT.
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về CPĐT nhưng có một khái niệm
tỉnh An Giang nói riêng. Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của
Luận Văn.
1.2.1. Các vấn đề cốt lừi trong xây dựng Chính phủ điện tử
1.2.1.1. Khái niệm, mục tiêu và các loại dịch vụ của Chính phủ
điện tử
- Khái niệm về CPĐT
CPĐT vẫn đang là đề tài được nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới quan tâm
và nghiờn cứu. Vỡ vậy, có nhiều khái niệm khác nhau về CPĐT nhưng một khái
niệm được nhiều người chấp nhận là: “Chính phủ điện tử là Chính phủ ứng dụng
CNTT để đổi mới tổ chức, đổi mới quy trỡnh, giỳp cho cỏc cơ quan Chính phủ làm
việc hiệu lực, hiệu quả và minh bạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho
người dân, doanh nghiệp và các tổ chức và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân
thực hiện quyền dân chủ và tham gia quản lý nhà nước” [32]. Với cách hiểu này, việc
xây dựng CPĐT ở Việt Nam bắt đầu từ khi các CQNN sử dụng máy tính tính nâng cao
hiệu quả hoạt động và phục vụ người dân tốt hơn để thành công như Đan Mạch, Thụy
Điển, Singapore, Hàn Quốc,…
- Mục tiêu của CPĐT
Mục tiêu của chung của CPĐT là để cải tiến mối tác động qua lại giữa ba chủ
thể: Chính phủ, người dân và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tiến trỡnh chớnh trị, xó
hội và kinh tế đất nước, tiến đến nền Chính phủ hiện đại.
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển có 5 mục tiêu lớn thường được đặt
ra cho CPĐT:
(i) Nâng cao năng suất và tính hiệu quả của các CQNN: Việc rà soỏt, tỏi lập
lại cỏc qui trỡnh và thủ tục để giảm bớt nạn quan liêu, hỗ trợ việc cung cấp dịch vụ,
nâng cao năng suất về mặt hành chính và tăng cường tiết kiệm trong thời gian trung
và dài hạn. Đây cũng chính là những lợi ích mà ứng dụng CNTT có thể đem lại.
(ii) Tạo môi trường kinh doanh tốt hơn: Việc sử dụng CNTT trong hoạt động
của Chính phủ và việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin sẽ tạo ra môi trường thúc
đẩy kinh doanh thông qua việc cải thiện mối tác động qua lại và tương tác giữa